Nguyễn thị HỒng vân cấu tạo và chức năng thông báO



tải về 338 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu12.12.2017
Kích338 Kb.
#4606
  1   2   3

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN

CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG THÔNG BÁO


CỦA ĐỀ TRONG CÂU ĐƠN TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số : 62.22.01.01


TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI -2014

Công trình được hoàn thành tại: Khoa Ngôn ngữ học-



Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Hoàng Văn Vân

Phản biện 1: …………………………………………………

Phản biện 2: …………………………………………………

Phản biện 3: …………………………………………………

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở

tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vào lúc: giờ ngày tháng năm 2014


Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Mở đầu

1. Giới thiệu tên đề tài

Luận án này vận dụng lí thuyết của M.A.K. Halliday về cấu trúc Đề- Thuyết để nghiên cứu Cấu tạo và chức năng thông báo của Đề trong câu đơn tiếng Việt.



2. Lí do chọn đề tài

Cùng với hướng nghiên cứu ngày càng sâu hơn về cấu trúc chủ-vị, để bổ sung cho nó còn có hướng phân tích câu theo cấu trúc Đề-Thuyết xuất hiện và phát triển. Tình hình trên thúc đẩy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Cấu tạo và chức năng thông báo của Đề trong câu đơn tiếng Việt” xét ở tư cách như một thông điệp.



3. Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng của luận án là Cấu tạo và chức năng thông báo của Đề trong câu đơn tiếng Việt, Ứng dụng kết quả luận án để chỉ ra cách dùng Đề trong một ngôn bản cụ thể để thấy được tính mạch lạc của nó.



4. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Luận án có ba nhiệm vụ cụ thể sau đây:

4.1. Tìm hiểu lí thuyết về cấu trúc Đề-Thuyết, từ đó xây dựng một quan niệm về Đề trong câu đơn tiếng Việt.

4.2. Khảo sát miêu tả các loại Đề trong câu đơn tiếng Việt về cấu tạo, tần số xuất hiện và chức năng ngôn bản. Miêu tả Đề trong quan hệ với Thức và chỉ ra sự nổi bật mang tính kinh nghiệm của Đề.

4.3. Mô tả cấu tạo và chức năng ngôn bản của các kiểu Đề trong các loại câu đơn tiếng Việt. Ứng dụng kết quả để khảo sát Đề trong ngôn bản tường thuật bóng đá trực tiếp.

5. Phương pháp của luận án

Mô tả, thống kê

6. Cái mới của luận án

- Lần đầu tiên cấu tạo và chức năng ngôn bản của Đề trong câu đơn tiếng Việt được nghiên cứu một cách có hệ thống theo một bộ tiêu chí rõ ràng và nhất quán.

- Luận án thiết lập năm tiêu chí để mô tả cấu tạo và chức năng ngôn bản của Đề theo quan điểm chức năng.

- Mô tả cấu tạo và chức năng ngôn bản của các kiểu Đề trong các kiểu câu đơn tiếng Việt một cách tương đối toàn diện.

- Thống kê được tần số xuất hiện theo mô hình của sự phân bố các loại Đề trong câu đơn tiếng Việt.

- Ứng dụng kết quả phân tích để chỉ ra cách dùng Đề trong ngôn bản tường thuật bóng đá trực tiếp, thấy được tính mạch lạc của nó.



7. Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương



Chương I: Tổng quan

Chương II: Đề trong câu đơn tiếng Việt có trật tự thông thường (Chủ ngữ đứng trước Vị ngữ)

Chương III: Đề trong câu đơn tiếng Việt có trật tự đảo (Vị ngữ đứng trước Chủ ngữ) và trong một số kiểu câu cụ thể

Chương I Tổng quan


1. 1. Lịch sử nghiên cứu Đề-Thuyết trong và ngoài nước

Bên cạnh sự phân đoạn câu về mặt ngữ pháp thường được miêu tả bằng lí thuyết thành phần câu, mấy chục năm gần đây các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến sự phân đoạn câu theo quan điểm thông tin thực tại. Khởi đầu cho những khám phá theo hướng này là V. Mathesius và nhiều học giả khác của nhóm ngôn ngữ học Praha, mà những nghiên cứu của họ thường được gặp dưới cái tên lí thuyết phân đoạn thực tại của câu. Sự phân đoạn cấu trúc thông tin thực tại của câu thành đề-thuyết theo tiêu chí “cũ-mới” này được phân biệt với sự phân đoạn cấu trúc cú pháp của câu thành Chủ ngữ-Vị ngữ dựa trên các tiêu chí hình thức và/hoặc ngữ nghĩa. Tư tưởng của Mathesius và nhóm ngôn ngữ học Praha về sự phân đoạn cấu trúc thực tại của câu đã được một số nhà nghiên cứu tiếp thu và phát triển theo những hướng khác nhau. Trong Việt ngữ học, Trần Ngọc Thêm [1999] đã khái quát sự phân đoạn thông báo (với cấu trúc nêu và báo) vào trong cấu trúc của mọi câu, tác giả chia câu thành hai phần:chủ đề (Topic) và thuật đề (Comment), thuật đề luôn luôn đứng sau chủ đề, chúng đều là những thành tố bắt buộc trong câu.Ông gọi cấu trúc này là phân đoạn nội dung của câu. Lý Toàn Thắng (1981) và Diệp Quang Ban (1989) cũng vận dụng sự đối lập lưỡng phân (Đề-Thuyết) của lí thuyết phân đoạn thực tại để phân tích cấu trúc phân đoạn thực tại của câu tiếng Việt nhưng nghiêng theo tiêu chí mở rộng coi Đề là “cái được nói đến” hay là “phần được giải thích” còn Thuyết là cái “nói về chủ đề” hay “giải thích cho chủ đề”. Tuy nhiên, giữa hai tác giả cũng có điểm khác biệt. Theo Lí Toàn Thắng, chủ đề (thuật ngữ Lý Toàn Thắng dùng để chỉ Đề) có thể đứng trước hoặc sau thuật đề (Thuyết ngữ) và trât tự đó có thể trùng hay không trùng hợp với trật tự của Chủ ngữ, Vị ngữ.

Phê phán cách tiếp cận trên đây, Cao Xuân Hạo [1991] cho rằng cấu trúc Đề - Thuyết là cấu trúc cơ bản của ngôn ngữ và nó thuộc bình diện lôgic ngôn từ chứ không phải dụng học. Theo ông, Đề là một trong hai thành phần chính của cấu trúc Đề-Thuyết, cấu trúc cơ bản của câu tiếng Việt (ông không chấp nhận cấu trúc Chủ-Vị trong tiếng Việt). Theo Cao Xuân Hạo, thì là một từ chuyên biệt được sử dụng để đánh dấu ranh giới Đề-Thuyết trong câu, là một từ đa chức năng nhưng chức năng thông thường nhất của nó cũng là để đánh phân giới Đề-Thuyết. Tuy nhiên, khác thì ở chỗ trong khi thì được dùng để đánh dấu Đề, thì lại được dùng để đánh dấu Thuyết. Quan điểm này của Cao Xuân Hạo được Lưu Vân Lăng, một nhà Việt ngữ học từ lâu chủ trương phân tích phân tích cấu trúc cú pháp của câu thành Đề-Thuyết, tán đồng và chia sẻ. Lưu Vân Lăng [1970] với lí thuyết phân tích câu theo ngữ đoạn tầng bậc có hạt nhân chủ trương gạt bỏ khái niệm chủ-vị mà dùng khái niệm Đề-Thuyết.. Ngữ pháp chức năng hiện đại (functional grammar) là sự kế thừa và phát triển của ngữ pháp chức năng luận (trường phái Praha). Tại đây, yếu tố chức năng thể hiện mặt động của ngôn ngữ. Các nhà ngữ pháp chức năng hiện đại cho rằng ngữ pháp được quan niệm gồm có ba phương diện kết học, nghĩa học, dụng học hoặc phải được xét theo ba quan điểm như ý kiến của Claude Hagège theo đó, một câu hai phần được phân đoạn như sau: 1.Theo quan điểm hình thái cú pháp , nó được phân ra thành Chủ ngữ-Vị ngữ; 2. Theo quan điểm ngữ nghĩa-sở chỉ, nó được phân ra thành tham thể và quá trình;3. Theo quan điểm phát ngôn tôn ty nó được phân ra thành Đề-Thuyết. M.A.K. Halliday[1994] lại coi cả ba bình diện của mô hình tam phân nêu trên đều thuộc mặt nghĩa đó là ba thứ nghĩa gắn với ba chức năng; thể hiện, liên nhân và ngôn bản. Tiếp nhận cách nhìn các quan hệ trong câu của Halliday, Diệp Quang Ban [2005], Hoàng Văn Vân [2005] đưa quan hệ Đề-Thuyết vào chức năng tạo lập ngôn bản hơn là phục vụ cho việc phân tích ngữ pháp. cấu trúc Đề-Thuyết không thể thay thế được ngữ pháp Chủ-Vị. Nguyễn Hồng Cổn [2008] lại có một cách tiếp cận khác. Sau khi phân biệt câu và cú, ông áp dụng cấu trúc cú pháp Chủ-Vị cho cú và cấu trúc Đề-Thuyết cho câu..

Có thể thấy, cấu trúc Đề-Thuyết không thể thay thế được ngữ pháp Chủ-Vị trong nhiệm vụ làm sáng tỏ cấu trúc cú pháp của câu tiếng Việt. Các vấn đề cụ thể như đặc điểm của Đề, đặc biệt là là việc phân loại các kiểu Đề đơn, Đề đa, Đề chủ đề, Đề liên nhân, Đề ngôn bản của Halliday [1994] là hợp lí cho việc nghiên cứu Đề-Thuyết từ thực tế câu đơn tiếng Việt (Cao Xuân Hạo không nói đến Đề liên nhân và Đề đa). Luận án này sẽ dựa vào những quan điểm có sẵn của Halliday áp dụng vào nghiên cứu. Đề trong câu tiếng Việt.



1.2 Một số vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài.

1.2.1.Vị trí của cấu trúc Đề-Thuyết trong ngữ pháp chức năng của Halliday Trong mạng lưới hệ thống của ngữ pháp chức năng, hệ thống Đề-Thuyết chỉ là một phần trong bình diện tổ chức cú như một thông điệp. Cùng với cấu trúc Thông tin cũ-Thông tin mới, tiêu điểm và các phương tiện liên kết, hệ thống Đề-Thuyết góp phần tạo mạch lạc và hiệu quả giao tiếp của một ngôn bản.

1.2.2. Các chức năng ngôn ngữ của Halliday

Halliday đặt câu trong ba chức năng nghĩa: chức năng kinh nghiệm (cấu trúc nghĩa thể hiện), chức năng liên nhân (cấu trúc Thức), chức năng ngôn bản (cấu trúc Đề-Thuyết, cấu trúc thông tin)



1.2.3. Khái niệm “Đề trong câu”

1.2.3.1. Lịch sử phát triển của khái niệm Đề : Cấu trúc Đề-Thuyết liên quan đến quan niệm của Triết học Hy Lạp cổ điển (Protagoras, Plato. Aristotle) mô tả sự phán đoán của con người là sự phán đoán hai mặt (double judgement) bao gồm việc trước tiên, đặt tên cho một thực thể (Chủ ngữ tâm lí) và sau đó tạo ra một thông báo về nó. Đến cuối năm 1920 và đầu những năm 30, khái niệm Đề xuất hiện trong trường phái ngôn ngữ Praha, và người có công lớn nhất đem lại vị trí xứng đáng của Đề trong câu chính là nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Séc Vilém Mathesius. Theo ông, một câu-phát ngôn phải được phân tích thành hai thành phần chức năng. Ông đã định nghĩa: “xuất phát điểm của lời nói” (východisko) với tư cách là “ cái được biết đến hay ít nhất cũng hiển nhiên trong tình huống đã cho, từ đó người nói bắt đầu” mặt khác “cái lõi (jádro) của phát ngôn là bất kì cái gì người nói nói về xuất phát điểm của phát ngôn hay về bất kì cái gì liên quan đến nó”(Mathesius 1939). Như có thể thấy, hai thành phần chức năng mà Mathesius nói đến chính là Đề và Thuyết (Dẫn theo Hoàng Văn Vân, tạp chí ngôn ngữ số 2/2007). Trong ngữ pháp chức năng, Đề là sự phát triển từ quan niệm của Mathesius, quan niệm của Halliday có thể được coi là đầy đủ và tiêu biểu cho những quan niệm về Đề: “Đề là thành phần được dùng làm xuất phát điểm của thông điệp; nó là thành phần mà câu liên quan đến. [Halliday1998, bản dịch của Hoàng Văn Vân- 2001]

1.2.3.2. Những cách hiểu về Đề: Từ định nghĩa của Mathesius, có những cách hiểu về Đề liên quan đến hai đường hướng: Đường hướng kết hợp của bình diện thông tin, kết hợp Đề với Thông tin cũ. Đường hướng bóc tách trong ngữ pháp chức năng của Halliday coi Đề- Thông tin cũ là hai cấu trúc tách biệt. Halliday đã bóc tách các phép liên kết, cấu trúc tin và cấu trúc Đề-Thuyết. Halliday cho rằng: đặc điểm của Đề biểu hiện một ý nghĩa chứ không phải là những sự hiện thực hóa có tính phụ thuộc về mặt ngôn ngữ. Là kết quả của chất lượng tuyến tính trong ngôn ngữ, Đề được mã hóa bằng vị trí chuyển tác/ kinh nghiệm mở đầu thông điệp. Đề khớp với sự biểu hiện ngôn ngữ học tâm lý với tư cách là “xuất phát điểm của câu với tư cách như một thông điệp” hoặc “móc treo của thông điệp”. Chức năng “phương tiện” của Đề được cụ thể hóa trong năm nhiệm vụ chính: Cung cấp một bộ khung cho việc lý giải Thuyết, bổ sung thông tin cho việc lý giải thông điệp, đồng quan hệ với nguyên tắc tiêu điểm cuối, tạo điều kiện để xây dựng nên sự nổi bật ngôn bản của (những) yếu tố: đặt một (tổ hợp) yếu tố ở cuối câu, đem đến cho nó vị thế của Thông tin mới (trong những trường hợp không đánh dấu), đóng góp cho tính liên tục của chủ đề bằng cách phát triển hoặc loại bỏ một sự giả định được thiết lập trong ngữ cảnh trước, hoạt động như một sự định hướng đối với thông điệp được truyền đạt bởi câu và những dự kiến của người nhận về việc hiểu cái sắp diễn ra như thế nào.

1.2.4. Cách hiểu về Đề của luận án

1.2.4.1. Xác định Đề trong câu : Đề là một lĩnh vực khác với Chủ ngữ (Subject) và khác với Hành thể, mặc dù ba phương diện này có thể trùng hợp trong một câu.

1.2.4.2. Ba loại Đề : Một câu có thể được ngữ cảnh hóa trong những thuật ngữ ứng với ba phối cảnh siêu chức năng của nó: kinh nghiệm, liên nhân và ngôn bản. Yếu tố làm Đề của một câu có thể được hiện thực hóa bằng một tham thể, một chu cảnh (đôi khi có thể là một quá trình) và được gọi là Đề chủ đề. Đề của một câu có thể là Đề liên nhân với yếu tố khởi đầu của câu diễn đạt quan hệ liên nhân (hay là tính tình thái liên nhân). Đề của một câu cũng có thể là Đề ngôn bản, khi nó là yếu tố đứng đầu câu chỉ quan hệ nghĩa hoặc quan hệ lôgic của câu chứa nó với câu khác. VD: (1.1) Mèo là động vật ăn thịt. (Đề chủ đề) ; (1.2) Chắc chắn mèo là động vật ăn thịt. (Đề liên nhân) ; (1.3) Vậy thì chắc chắn mèo là động vật ăn thịt. (Đề ngôn bản)

1.2.4.3. Ý nghĩa của Đề: Đối với người nói, Đề tiêu biểu cho quan điểm của người nói khi diễn đạt điều họ cần thông báo, và một phần nó cũng cần thiết cho cái cách mà thông báo được thể hiện. Đối với người nghe, Đề giữ vai trò là một tín hiệu cho người nghe hướng đến cái khả năng liên quan đến một kiểu cấu trúc có thể hình thành, hoặc liên quan đến sự biểu hiện tinh thần của người nói về những gì mà thông báo có thể bày tỏ, Như vậy là có vấn đề về việc nên chọn cái gì để làm Đề của câu. Tồn tại những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sự lựa chọn này, trong đó trước hết cần nhắc đến những gì người nghe biết/ không biết về tình trạng các dữ kiện được miêu tả, nó là Thông tin cũ hay Thông tin mới đối với người nghe. Ý nghĩa của Đề-Thuyế và Thông tin cũ-Thông tin mới khác nhau. Sự lựa chọn Thông tin mới có vẻ như mang tính khứ chiếu, tập trung vào những ý nghĩa đã được tích lũy để khai triển trường của một ngôn bản, phát triển ngôn bản trong những thuật ngữ kinh nghiệm, trong khi sự lựa chọn Đề dự kiến tính hồi chỉ “bắc giàn” cho ngôn bản về mục đích tu từ của nó.Quan niệm về Đề của Halliday phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án. Như vậy, về phương diện nghĩa, Đề là “cái mà câu bàn đến” và chính cách hiểu đó thực sự là ý nghĩa của Đề ngữ.

1.2.4.4. Đề đánh dấu và Đề không đánh dấu : Đặt việc xem xét Đề trong quan hệ với các chức năng cú pháp là cơ sở để phân biệt Đề không đánh dấu Đề đánh dấu.Trong một câu, nếu Đề chủ đề trùng với Chủ ngữ của câu tức là phù hợp với sự chờ đợi, rất thông thường, thì Đề đó là không đánh dấu; nếu Đề chủ đề không trùng với Chủ ngữ của câu, tức là ít được chờ đợi, ít thông thường, thì nó là Đề đánh dấu.

CHƯƠNG II: Đề trong câu đơn tiếng Việt có trật tự thông thường (Chủ ngữ đứng trước Vị ngữ)

2.1. Khái quát về hệ thống Đề trong câu đơn tiếng Việt

(i) Đề đơn được hiện thực hóa bằng một thành tố: một cụm danh từ hay một cụm giới từ...Ví dụ: (2.1) Sau đêm ấy họ quen nhau. (Nguyễn Thị Mai)

(ii) Đề đa được hiện thực hóa bằng từ hai thành tố trở nên. Đềđa bao gồm các tiểu loại như Đề ngôn bản, Đề liên nhân, Đề chủ đề. Ví dụ:(2.2) Nhưng hình như sông Đà giao việc cho mỗi hòn. Đề ngôn bản bao gồm ba tiểu loại chính: Đề nối tiếp, Đề cấu trúc, Đề liên kết. Đề nối tiếpvâng, dạ…Ví dụ (2.3) Chú mày là ai tao chưa hề gặp. Dạ, con ở dưới quận. (Đắc Trung) ; Đề cấu trúcvà, nhưng, nhưng mà…Ví dụ: (2.4) Nhưng ông không hiểu gì cả. (Đào Hồng cầm); Đề liên kếthơn nữa, do đó, vì vậy...Ví dụ: (2.5) Do đó chúng thả bà con ra. (Nguyễn Thi); Đề liên nhân gồm: thành phần liên nhân (có thể, có lẽ). Ví dụ: (2.6) Có lẽ họ không biết nhau. (Đắc Trung); Thành phần phân cực trong câu nghi vấn (có/không, đâu có). Ví dụ (2.7) ai việc chi không? (Đắc Trung); Thành phần xưng hô. Ví dụ: (11) Vân Mai, em đã về đấy à? (Đắc Trung); Đề chủ đề thường trùng khớp với thành phần kinh nghiệm ở chức năng thể hiện; nó có thể trùng khớp với Hành thể, Đích thể...hay chu cảnh. Ví dụ: (2.8) Lũ con ông xô đẩy nhau để xem bức tranh. (Hành thể) (Đắc Trung); (iii) Đề không đánh dấu thường trùng khớp với Chủ ngữ. Ví dụ: (2.9) Than nổ lép bép. (Đắc Trung); (iv) Đề đánh dấu thường trùng khớp với Phụ ngữ hay Bổ ngữ hay thậm chí với cả Vị ngữ nữa. Ví dụ: (2.10) Vấn đề này, các đồng chí phải tự kiểm thảo lại.

2.2. Đề trong thể chủ động của câu đơn tiếng Việt

Kết quả thống kê về các loại Đề, kiểu Đề qua 2000 ví dụ đã khảo sát được trình bày trong bảng sau:



Các loại / kiểu Đề ngữ

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Ví dụ

Đề đa

312

16,6

Và gần như vô tình nàng dựa hẳn vào vai chàng. (Đắc Trung)

Đề đơn

1688

83,4

Biển yên tĩnh đến ngột ngạt.

Đề không đánh dấu

1168

69,2

Nắng trong dần đi.

Đề đánh dấu

520

30,8

Cuối trời, mây xám vần vũ.

Bảng 2.1. Các loại Đề trong câu đơn tiếng Việt

2.2.1. Đề đơn

2.2.1.1 Đề không đánh dấu

a. Cấu tạo và tần số xuất hiện

Khảo sát cho thấy: Đề không đánh dấu xuất hiện khá phổ biến.

Ví dụ: (2.11) Anh Hải chơi piano rất hay.

Đề không đánh dấu có thể được mô tả theo năm tiêu chí sau: (i) chức năng thức; (ii) sự hiện thực hóa bên trong hay bên ngoài nòng cốt câu; (iii) loại câu; (vi) cấu tạo của Đề chủ đề; và (v) chức năng chuyển tác của Đề.

i. Tiêu chí về chức năng Thức: Đề Chủ ngữ là loại Đề không đánh dấu. Ví dụ: (2.12) Tiếng còi rú lên một cách mệt nhọc báo giờ tan tầm. (1:36); ii..Tiêu chí về sự hiện thực hóa bên trong hay bên ngoài nòng cốt câu:

Đề không đánh dấu được hiện thực hóa bên trong nòng cốt câu, chẳng hạn, Chủ ngữ được coi là nằm trong nòng cốt câu. Ví dụ: (2.13) không biết mối quan hệ giữa hai người. (Triệu Bôn); iii. Tiêu chí về loại câu: Đề không đánh dấu thường xuất hiện trong những câu khẳng định. Ví dụ: (2.14) Trời dìu dịu. (Triệu Bôn); iv. Tiêu chí về cấu tạo của Đề : Đề chủ đề không đánh dấu được hiện thực hóa dưới dạng tiêu biểu là các danh từ, tiếp đến là đại từ. Ví dụ: (2.15) Ánh trăng lọt qua từng kẽ lá. (Triệu Bôn). Kết quả thống kê về cấu tạo của Đề không đánh dấu được trình bày ở bảng sau.



Cấu tạo của Đề không đánh dấu

Số lượng

Tỉ lệ (%)

Ví dụ

Danh từ

848

72.6

Sóng mang về những vỏ ốc trắng xanh.

Đại từ

320

27,4

Tôi đứng lặng hồi lâu nhìn ngôi nhà.

Tổng cộng

1168

100




Bảng 2.2. Cấu tạo của Đề không đánh dấu

v. Tiêu chí về chức năng của Đề trong cấu trúc chuyển tác

Đề không đánh dấu được hiểu là những tham thể tham gia vào quá trình được nói đến trong câu. Tham thể có quan hệ với quá trình theo kiểu do quá trình qui định, tức là một quá trình cụ thể chỉ có thể diễn ra nhờ sự có mặt của một hoặc những tham thể nào đó (Hành thể, Cảm thể, Ứng thể...). Ví dụ: (2.16) Bác cúi xuống nhóm lại lửa. (Đắc Trung) (Hành thể )

Như vậy, Đề mà có chức năng chuyển tác là Hành thể, chức năng Thức là Chủ ngữ thì đó là loại Đề không đánh dấu. Dưới đây là bảng minh họa.


Cấu trúc

Thằng bé

đánh

con chó

ở ngoài sân

Chuyển tác

Hành thể

Quá trình

Đích thể

Chu cảnh: địa điểm

Thức

Chủ ngữ

Vị ngữ

Bổ ngữ

Phụ ngữ

Đề

Đề

Thuyết


Каталог: userfile -> User -> long -> files
files -> ChưƠng I cơ SƠ LÍ luậN
files -> TrưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn nguyễn thị MỸ HẠnh các phái bộ anh đẾn việt nam trong bối cảnh xâm nhập của anh vàO ĐÔng á
files -> Trần Thị Hường ba tiểu loạI ĐỘng từ tiếng hàn qua một phưƠng diện phân loạI
files -> Khoa xã HỘi học nguyễn thị kim nhung sự tham gia của ngưỜi dân trong hoạT ĐỘng quản lý RÁc thảI ĐẢm bảo phát triển bền vững đÔ thị
files -> Chuyên ngành : cndvbc & cndvls mã số
files -> Chuyên ngành : Trung Quốc học Mã ngành : 62325010 TÓm tắt luậN Án tiến sĩ trung quốc họC
files -> Độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> TrưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn ngô thị lan phưƠng quan hệ việT – trung giai đOẠN 1986 -2010 qua trưỜng hợp quan hệ hai tỉnh quảng ninh
files -> TrưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn lâm Văn Đồng giáo dụC ĐẠO ĐỨc cho ngưỜi thầy thuốC Ở việt nam trong giai đOẠn hiện nay chuyên ngành: cndvbc&cndvls

tải về 338 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương