Nguyên tác


SƠ LƯỢC TIỂU SỬ VIÊN LIỄU PHÀM



tải về 32.39 Mb.
trang126/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   122   123   124   125   126   127   128   129   130

LƯỢC TIỂU SỬ VIÊN LIỄU PHÀM


Viên Liễu Phàm sinh năm 1533, trước tên Viên Biểu, sau đổi thành Viên Hoàng, tự Khôn Nghi, cũng tên tự Khánh Viễn; trước lấy hiệu Học Hải, sau đổi hiệu Liễu Phàm.

Tổ tiên họ Viên vốn ngụ phủ Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang, vào cuối đời Nguyên một gia tộc hết sức giàu có. Sang đầu triều Minh, Yên Vương Chu Lệ cướp ngôi của cháu mình Chu Doãn Văn, tự lên làm hoàng đế, xưng Minh Thành Tổ. Khi ấy một số người phản đối, bị Minh Thành Tổ truy bắt giết sạch. Tổ tiên họ Viên giao du với những người chống đối nên cũng bị truy bắt, may mắn chạy thoát được nên phải lưu lạc khắp nơi, sau đến ngụ Nam Trực, thuộc huyện Ngô Giang, phủ Tô Châu, tỉnh Giang Tô.



Đến đời Viên Liễu Phàm cưới vợ người huyện Gia Thiện rồi đến rể, hóa ra lại quay về quê của tổ tiên phủ Gia Hưng, tỉnh Chiết Giang.

Tiên sinh Viên Liễu Phàm rất chú trọng phép tĩnh tọa dưỡng sinh. Ông để lại 2 tác phẩm nổi tiếng về chủ đề này Nhiếp sinh tam yếu Tĩnh tọa yếu quyết. Sách Tĩnh tọa yếu quyết có 3 thiên: Dự hành, Tu chứng, Điều tức. Thiên Dự hành giới thiệu những điều cần yếu của người luyện tĩnh tọa, trọng điểm điều tâm, hệ duyên thu tâm, sự luyện tâm, tĩnh xứ dưỡng khí, náo xứ luyện thần. Thiên Tu chứng thảo luận sự tự thể nghiệm của việc tọa thiền. Thiên Điều tức giới thiệu 3 phương pháp điều tức của Phật giáo.

Tiên sinh viết sách Liễu Phàm tứ huấn vào khoảng năm 1601 (69 tuổi). Ban đầu, đây chỉ những lời răn dạy được ông viết ra cho con trai Viên Thiên Khải năm ấy vừa được 20 tuổi, nên

được ông gọi Giới tử văn (Bài văn răn dạy con). Về sau, sách được lưu hành hết sức rộng rãi khắp nơi, nên người đời sau đổi tên lại Liễu Phàm tứ huấn (Bốn điều khuyên dạy của tiên sinh Liễu Phàm).



Cha ông mất sớm, mẹ ông khuyên theo học nghề thầy thuốc. Sau, ông gặp tiên sinh họ Khổng người Vân Nam truyền cho phép toán số Hoàng Cực của Thiệu Khang Tiết đoán số mạng suốt đời cho ông. Ông nghe lời họ Khổng bỏ nghề thuốc, ra công học tập để cầu công danh sự nghiệp. Niên hiệu Long Khánh thứ ba (1569), ông gặp được Thiền sư Vân Cốcnúi Thê Hà, Kim Lăng. Thiền dạy ông đạo làm thiện tích đức thể chuyển đổi số mạng. Ông như người ngủ chợt tỉnh, từ đó liền đổi hiệu Học Hải thành Liễu Phàm để ghi nhớ cuộc gặp gỡ này thuyết tự lập số mạng vừa học được. Ông tự nguyện từ đó về sau quyết không rơi vào cách nghĩ cách làm thông thường của người phàm tục.

Sang niên hiệu Long Khánh thứ (1570), ông thi đỗ cử nhân. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 14 (1586) ông đỗ tiến sĩ, được bổ làm Huyện lệnh huyện Bảo Để, sau thăng làm Chủ sự Ty Chức Phương thuộc bộ Binh. Ông tham gia cuộc chiến tranh với quân Nhật tại Triều Tiên, từng chỉ huy đẩy lùi quân Nhật.

Niên hiệu Vạn Lịch thứ 21 (1593), vào ngày 27 tháng Giêng, cũng trong cuộc chiến tranh với quân Nhật xảy ra trên đất Triều Tiên, Như Tùng cầm quân tại Bách Đề Quán bị thua to. Binh bộ Thượng thư lúc ấy Thạch Tinh vốn chủ trương nghị hòa. Viên Liễu Phàm tán thành việc Thượng thư Thạch Tinh chỉ trích cách cầm quân của Như Tùng. Do đó, Tùng để tâm oán hận.

Thời gian sau, Như Tùng sàm tấu lên triều đình, gán cho Viên Liễu Phàm 10 điều tội danh. Liễu Phàm việc đó bị bãi chức về quê.

Ông mất quê nhà vào năm 1606. Đến niên hiệu Thiên Khải thứ ba (1623), vụ án oan của ông mới được làm sáng tỏ. Ông

được quan Lại bộ Thượng thư Triệu Nam Tinh truy tặng quân công triều đình truy phong cho ông Thượng Bảo Ty Thiếu Khanh.



CHUYỆN DU TỊNH Ý GẶP THẦN BẾP (DU TỊNH Ý CÔNG NGỘ TÁO THẦN KÝ)

Làm lành gặp dữ?

Trong khoảng niên hiệu Gia Tĩnh triều Minh,1 người họ Du tỉnh Giang Tây, tên húy Đô, tên tự Lương Thần,2 kiến thức uyên bác lại nhiều tài năng. Từ năm 18 tuổi đã thi đỗ tú tài, mỗi lần vượt qua các kỳ thi đều có thứ hạng cao.

Thời tuổi trẻ, nhà nghèo nên Du Đô mở lớp nhận học trò, lại cùng các bạn đồng học khoảng hơn mười người thành lập nhóm Văn Xương Xã, [khuyến khích nhau] thực hành những việc như giữ gìn kính tiếc [giấy có] chữ viết, phóng sinh cứu vật, răn ngừa những sự tham dâm, giết hại, nói dối...3 Thực hành như vậy được nhiều năm. Trước sau ông đã tham dự đến 7 khoa thi Hương nhưng đều không đỗ [lên cử nhân].

Ông Du Đô sinh được 5 đứa con trai thì đến 4 đứa bị bệnh chết sớm. Còn lại đứa thứ ba rất thông minh tuấn tú, dưới lòng bàn chân trái 2 nốt ruồi, vợ chồng ông hết sức yêu quý. Đến năm lên 8 tuổi, đứa con trai ấy đi chơi trong làng bỗng lạc mất không về, chẳng biết đi đâu. Ông sinh được 4 đứa con gái cũng chỉ còn lại một. Vợ ông thương khóc con đến nỗi cả hai mắt.




  1. Niên hiệu Gia Tĩnh (嘉靖) thời gian trị của Minh Thế Tông, kéo dài 45 năm, từ năm 1522 đến năm

1566.

  1. Theo những chi tiết được kể trong phần sau thì ông sinh vào năm 1525, mất vào năm 1612. Ông tự cho

mình tài cao học rộng, chắc chắn sau này sẽ bậc rường cột của triều đình nên lấy hiệu Lương Thần.

  1. Nhóm người tham gia Văn Xương lấy việc thực hành lời dạy của Văn Xương Đế quân trong bài Âm chất

văn làm mục đích, thế lấy tên Văn Xương Xã.

Ông Du Đô vất vả quanh năm nhưng ngày càng nghèo túng hơn. Ông thường tự xét mình không phạm tội lỗi lớn, chẳng biết vì sao bị trời trừng phạt nặng nề bi thảm đến như vậy.



Từ năm ông Du Đô được hơn 40 tuổi, mỗi năm đến cuối tháng chạp đều tự tay viết một tờ sớ trên giấy vàng [kể lể than vãn về gia cảnh của mình], cầu khẩn với thần Bếp xin chuyển đạt lên [Ngọc đế]. Đã nhiều năm như vậy nhưng chẳng thấy kết quả gì.


Thần Bếp giáo huấn

Cho đến năm 47 tuổi, vào đêm giao thừa cuối năm, ông Du Đô đang ngồi trong nhà với đứa con gái người vợ mù, [cảnh nhà túng quẫn nên] cả nhà đều buồn bã, thê lương tĩnh lặng, không khí ngập tràn đau thương chua xót. Bỗng nghe tiếng gõ cửa, ông liền cầm đuốc đi ra xem, nhìn thấy một người mặc y phục màu đen, đầu đội khăn vuông kiểu đạo sĩ, râu tóc xem chừng đã vào khoảng năm, sáu mươi tuổi. Người ấy chắp tay vái chào rất lịch sự rồi [đi theo vào nhà] ngồi xuống, tự giới thiệu mình người họ Trương, từ xa đến đây, nghe biết nhà ông có chuyện buồn khổ nên đặc biệt tìm đến an ủi.

Ông Du Đô thấy người khách vẻ lạ thường nên thi lễ hết sức cung kính. Nhân khi trò chuyện, liền kể với ông khách họ Trương việc mình suốt đời đọc sách thánh hiền, làm thiện tích đức, nhưng đến nay đường công danh chẳng được như ý, vợ con không trọn vẹn, cơm ăn áo mặc còn chưa đủ, lại đã nhiều lần viết sớ nhờ thần Bếp trình lên [Ngọc đế] nhưng không thấy kết quả gì.

Ông khách họ Trương nói: “Chuyện nhà ông tôi đã sớm biết từ lâu rồi. Tâm ý xấu ác của ông thật quá nặng nề. Ông vốn chỉ biết chạy theo danh. Sớ ông viết trình lên chứa đầy những lời

oán hận, xem thường Thượng đế, tôi chỉ e sự trừng phạt còn chưa dừng lại ở mức như hiện nay đâu.”

Ông Du Đô hết sức kinh hãi, thưa rằng: “Tôi nghe nói trong chốn u minh, một điều thiện nhỏ cũng được ghi chép đủ. Tôi phát nguyện làm việc thiện, kính cẩn giữ mình theo khuôn phép [do Văn Xương đề ra] đã lâu, lẽ nào tất cả những việc ấy đều là chuộng hư danh thôi sao?”



Ông khách họ Trương nói: “Được, vậy hãy thử lấy một điều trong những khuôn phép [do Văn Xương của ông đề ra] xét, việc giữ gìn kính tiếc [giấy có] chữ viết. Nhóm nho sinh các ông cùng với những kẻ mà các ông giao thiệp, hầu hết đều dùng giấy từ sách để phết dán cửa sổ, bao gói đồ vật, thậm chí còn dùng để lau chùi bụi bặm trên bàn ghế, nhưng miệng thì luôn nói chớ làmbẩn giấy, chỉ nên đốt hết đi. Ông ngày nào cũng nhìn thấy những việc như vậy nhưng chẳng một lời can ngăn răn nhắc, chỉ thỉnh thoảng gặp vài mảnh giấy giữa đường thì nhặt về đốt đi, như vậy phỏng ích chăng?

“Lại nữa, trong nhóm Văn Xương của ông, mỗi tháng đều làm việc phóng sinh, ông cũng chỉ qua loa làm theo, dựa vào người khác nên việc. như những người khác không khởi làm thì ông cũng muội không làm, kỳ thật trong lòng ông chẳng mảy may tâm niệm từ bi. Hơn nữa, trong nhà ông các loại tôm cua cũng thường bị đưa vào bếp nấu nướng, lẽ nào chúng lại không phải sinh mạng đó sao?

“Mỗi khi sai trái trong lời nói, ông lại dùng đến biện tài khéo léo lanh lợi, khiến cho người nghe phải điên đảo tưởng xấu là tốt [mà thán phục ông]. Khi ông mở miệng buông lời, trong lòng vẫn tự biết đang làm tổn thương đức tốt, chỉ quen thói cũ nên trong lúc cùng bạn tụ tập chuyện phiếm cứ theo đà chê bai, giễu cợt [người khác], không thể dừng lại được. Miệng lưỡi như thế của ông khiến quỷ thần phải nổi giận; việc xấu ác ở cõi âm đã ghi lại thật nhiều chẳng biết đến bao nhiêu kể.

Vậy ông còn tự nhận mình người đức hạnh sâu dày, lại cho rằng mình chẳng dối lừa khinh dễ ai sao? Lại cho rằng như vậy chẳng phải là khinh dễ trời cao đó sao?



“Còn về chuyện dâm, tuy không xảy ra hành vi thực sự, nhưng ông thấy gái đẹp thì chăm chăm nhìn kỹ, tâm ý lăng xăng không còn tự chủ, chỉ không gặp dịp thích hợp để hành sự đó thôi. Ông hãy tự xét lại mình trong những lúc ấy, liệu được như Lỗ Nam tử1 chăng? Vậy dám nói“suốt đời không vướng chuyện dâm háo sắc, thể đối mặt với trời đất quỷ thần” [như Lỗ Nam tử xưa kia], quả lời dối trá.

“Đó những khuôn phép do chính ông tự nguyện làm theo, [được ghi thành quy củ điều luật của Văn Xương Xã] còn như vậy, huống chi là những việc khác?

“Ông liên tục nhiều năm đốt sớ trình lên Thượng đế, kể lể sự tình. Thượng đế lệnh cho sứ giả Nhật Du xem xét kỹ những việc thiện ác của ông làm, trải qua nhiều năm không thấy việc thiện nào thể ghi nhận, chỉ thấy những khi ông một mình nơi khuất tất vắng vẻ thì toàn những tâm niệm tham lam, dâm dật, ganh ghét, hẹp hòi nóng nảy, tự mãn khinh người, nhớ việc đã qua, mong việc sắp đến, báo thù rửa hận... chen nhau khởi lên trong lòng, [nhiều đến mức] không thể ghi chép hết. Những sự xấu ác đủ loại khởi lên từ tâm ý như thế đã tích tụ gắn kết kiên cố từ lâu, thần minh ghi chép đã nhiều, trời giáng hình phạt ngày càng nặng, ông muốn tránh tai họa còn không được thì dựa vào đâu mà cầu hưởng phước lành?”

Ông Du Đô [nghe qua như vậy] hết sức kinh hoàng, sợ hãi khôn xiết, quỳ sụp xuống đất, khóc lóc thưa rằng: “Ngài đã




1 Lỗ Nam tử: nhân vật được nhắc đến trong sách Khổng tử gia ngữ, một người nước Lỗ, được khen ngợi

“suốt đời không vướng chuyện dâm háo sắc, thể đối mặt cùng trời đất quỷ thần”. Gần nhà Lỗ Nam tử một phụ nữ sống độc thân. Một hôm mưa gió lớn, nhà ấy giữa khuya bị nghiêng đổ, ta chạy sang ngủ nhờ, Lỗ Nam tử đóng cửa không cho vào. Người phụ nữ thấy anh ta cố tránh chuyện nam nữ gần gũi đêm khuya, liền đến chỗ cửa sổ nói vào: “Sao anh không làm giống như Liễu Hạ Huệ?” Người thanh niên đáp: “Cô tôi đều còn trẻ tuổi, cho nên Liễu Hạ Huệ thể, còn tôi thì không thể. Tôi vẫn đang đem cái không thể của mình học làm theo cái thể của Liễu Hạ Huệ.”

biết hết những sự việc trong cõi u minh, nhất định quan hệ với tôn thần, cầu xin ngài ra tay cứu độ.”



Người khách họ Trương liền nói: “Ông người đọc sách, hiểu lễ nghĩa, lại cũng biết hâm mộ điều lành, lấy đó làm vui, nhưng đang khi nghe [người khác nói] một lời thiện lại không thể khích lệ, thấy [người khác làm] một việc thiện lại không thể cổ vũ, chỉ toàn [phạm vào những điều] lỗi lầm, rỗng, [hết thảy đều do] cội gốc lòng tin chưa tự sâu vững, tâm tính lại từ lâu đã quen như vậy nên không hề tự xem xét lại, thế suốt cả đời khi nói một lời lành, làm một việc thiện, [chẳng qua] đều chỉ phô trương huyễn, chưa từng lời nào, việc nào là chân thật cả. Hơn nữa, tâm niệm xấu ác lại chất chứa tràn ngập trong lòng, tiếp nối nhau không ngừng sinh khởi, như vậy mà mong muốn được trời cho phước báo tốt lành thì khác nào mảnh đất gieo trồng đầy những gai góc, lại muội mong thu hoạch được lúa tốt, chẳng phải sai lầm lắm sao?

“Ông từ nay về sau, mỗi khi những vọng tưởng tạp niệm như tham lam, dâm dục, giả dối... thì phải đem hết quyết tâm mạnh mẽ dứt trừ tất cả, thanh lọc [tâm ý sao cho luôn] trong sạch an tịnh, mỗi mỗi tâm niệm đều chỉ toàn hiền thiện. Khi gặp một việc thiện, nếu thấy sức mình thể làm được thì phải mang hết sức ra làm ngay, trong lòng không mong báo đáp, không cầu danh tiếng, bất kể đó [việc thiện] lớn hay nhỏ, khó khăn hay dễ dàng, đều đem tâm chân thành ham thích nhẫn nại làm; nếu thấy sức mình không thể làm nổi thì cũng phải hết lòng lưu tâm ân cần khẩn khoản, khiến cho tâm lành ấy được nuôi dưỡng trọn vẹn.

“Điều cốt yếu thứ nhất phải tâm nhẫn nại, kham chịu, thứ hai phải tâm kiên trì không thối chuyển, nhất thiết không được biếng lười, nhất thiết phải chân thành không tự lừa dối. Cứ như vậy thực hành lâu ngày tự nhiên sẽ những hiệu quả ứng nghiệm kỳ diệu khôn lường.



“Ta thấy gia đình ông thờ kính ta từ lâu hết sức chân thành nên mới đặc biệt đến đây mấy lời, xem như báo đáp. Ông phải nhanh chóng làm ngay không nên chậm trễ, may ra mới có thể chuyển đổi được ý trời.”

Vị khách họ Trương nói xong thì đi thẳng vào trong nhà. Du công lập tức đứng dậy đi theo, vừa đến chỗ bàn thờ thần Bếp thì hốt nhiên không còn thấy đâu nữa, mới biết người mình vừa gặp chính ngài,1 liền cung kính đốt hương lạy tạ.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   122   123   124   125   126   127   128   129   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương