Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang107/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   103   104   105   106   107   108   109   110   ...   130

PHƯỚC BÁO GẦN THÌ TỰ THÂN ĐƯỢC HƯỞNG



Giảng rộng

Câu này và câu tiếp theo “xa thì ảnh hưởng đến cháu con”, đều nối tiếp câu văn trên chuẩn bị mở ý cho câu văn dưới. đây đề cập đến quả báo gần hay quả báo xa cũng đều chỉ nói riêng về các quả báo hiền thiện, chính những điều được câu dưới nói rộng ra “trăm điều phúc lành, ngàn việc tốt đẹp”.

Phước báo gần không nhất thiết là chỉ cho hiện tại trong đời này, cho đời sau hay nhiều đời sau nữa cũng vẫn gọi là phước báo gần. sao vậy? phước báo gần đây ý muốn nói những phước báo do tự mình nhận lãnh. Những sự giàu sang phú quý hay nghèo khổ hèn hạ, ngày giờ sống chết, được tuổi thọ dài lâu hay yểu mạng, thảy đều đã sự an bày nhất định. Nhưng sự an bày đó thật ra không phải khác chính là những kết quả tương ứng, do tự bản thân mình đã từng làm những hành vi như thế, tự bản thân mình phải nhận lãnh những quả báo tương ứng như thế. Trong văn này nói đến phước báo gần hay xa ý nghĩa như vậy. Đây chính dụng ý của Đế Quân muốn dạy người phải biết tự mình tạo ra nhiều phước báo.


Trưng dẫn sự tích
CÔNG CHÚA TỰ CÓ PHƯỚC BÁU1

Vào thời đức Phật còn tại thế, vua Ba-tư-nặc sinh được một công chúa đặt tên Thiện Quang, đoan trang xinh đẹp, thông



1 Trích từ kinh Tạp bảo tạng (雜寶藏經). (Chú giải của soạn giả) Kinh này được đưa vào Đại Chánh tân tu

Đại tạng kinh thuộc tập 4, kinh số 203, tổng cộng 10 quyển, do các ngài Kiết-ca-dạ Đàm Diệu cùng dịch từ Phạn văn sang Hán văn vào đời Nguyên Ngụy. Câu chuyện này bắt đầu từ dòng thứ 22, trang 458, tờ a, quyển 1.

minh hơn người, người trong cung ai ai cũng hết lòng thương yêu kính trọng.

Một hôm, vua Ba-tư-nặc bảo công chúa: “Con nhờ cha nên mới được tất cả mọi người thương yêu kính trọng.” Công chúa liền đáp rằng: “Không phải, con tự nghiệp lực của riêng mình được như vậy, không phải nhờ nơi cha.” Vua không hài lòng, vặn hỏi lại đến ba lần, công chúa vẫn một mực đáp như vậy. Vua nổi giận, liền gả công chúa cho một người nghèo khổ rồi bảo: “Để ta thử xem con tự nghiệp lực hay không tự có nghiệp lực.”

Công chúa về nhà chồng rồi, liền hỏi chồng cha mẹ đâu. Người chồng nói: “Cha ta vốn một trưởng giả giàu nhất thành Xá-vệ. Sau khi cha mẹ ta đều theo nhau qua đời, nhà ta mới đến nỗi như thế này.” Sau đó liền đưa công chúa về sống nơi nhà của gia đình mình. Một hôm bỗng đào lên được từ trong lòng đất một kho tàng lớn. Nhờ đó, chỉ trong vòng một tháng đã xây dựng được nhà cửa cung điện hết sức nguy nga, từ gia nhân hầu hạ cho đến các thứ châu báu ngọc ngà đều đầy đủ không thiếu thứ gì.



Vua Ba-tư-nặc nghe biết chuyện như vậy hết sức vui mừng, liền thân hành đến thưa hỏi đức Phật về nhân duyên đời trước của công chúa Thiện Quang. Đức Phật dạy: “Vào thời đức Phật Ca-diếp, một người phụ nữ muốn chuẩn bị thức ăn cúng dường đức Như Lai, nhưng người chồng cản trở. Người vợ liền nói: ‘Tôi đã phát nguyện rồi, xin anh đừng làm tôi thối tâm.’ Người chồng liền nghe theo lời vợ, cuối cùng lo liệu hoàn mãn việc cúng dường đức Phật. Đôi vợ chồng ngày ấy, nay chính vợ chồng công chúa. người chồng ngày trước khởi tâm ngăn trở việc cúng dường Phật, nên nhiều đời sinh ra thường phải sống trong nghèo khó. Nhờ sau đó chịu nghe lời vợ thực hiện việc cúng dường, nên ngày nay cũng được nhờ vợ hưởng sự giàu sang phú quý.”

Lời bàn

Vua Ba-tư-nặc lại một người công chúa khác, do phu nhân Mạt-lợi sinh ra, dung mạo cực kỳ xấu xí, tóc như bờm ngựa. Vua lấy làm xấu hổ nên ra lệnh giữ công chúa trong cung riêng, không cho đi đâu, cũng không cho ai được gặp. Công chúa tự giận mình hình dung xấu xí, liền phát tâm tạo tượng Phật, hết lòng khẩn thiết cầu nguyện với đức Phật. Trải qua một thời gian, lòng chí thành cảm ứng được đức Phật hiện thân đến chứng minh, thân hình lập tức hóa ra xinh đẹp đoan chính. Đức vua thấy vậy liền gạn hỏi nguyên do, công chúa như thật trình bày.

Lại chuyện về vị công chúa thứ của vua A-dục, cũng tương tự như chuyện này. Ngày nay những tượng Phật được thờ các chùa Bắc Sơn, Ngọc Hoa, Kinh Châu, Trường Sa cùng với chùa Sùng Kính kinh thành, đều do công chúa thứ của vua A-dục đã tạo ngày trước. Như thế chẳng phải phước báo gần đó sao?
QUẢ BÁO DO COI THƯỜNG ÁO CÀ-SA1

Đời nhà Đường, vào niên hiệu Trinh Quán năm thứ 5,2 người phụ nữ Lương Châu thuộc tỉnh Thiểm Tây, nhà rất nghèo. người con xuất gia với pháp Tuệ Quang chùa An Dưỡng. Nhà nghèo không đủ áo mặc, mới đến phòng người con lấy áo cà-sa sửa thành áo ngắn để mặc. Vừa mặc áo ấy vào, đang đứng cùng một người láng giềng bỗng thấy nóng ran dưới hai chân, dần dần lên đến ngang hông. Trong chốc lát tiếng sấm vang rền không trung, người láng giềng bị đẩy văng xa đến vài trăm mét, nằm lăn ra đất bất tỉnh suốt một ngày. mẹ mặc áo cà-sa đã bị sét đánh chết, thân thể cháy cong queo, trên lưng lại dòng chữ: “Sử dụng pháp y không



  1. Trích từ sách Pháp uyển châu lâm (法苑珠林). (Chú giải của soạn giả) Sách này được đưa vào Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh thuộc tập 53, kinh số 2122, tổng cộng đến 100 quyển, do ngài Đạo Thế soạn vào đời Đường. Câu chuyện này được ghi chép từ dòng thứ 13, trang 560, tờ a, quyển 35.

  2. Tức năm 631.

đúng pháp.”

Người con mang xác mẹ về chôn cất, mộ lại bị sét đánh lần nữa, khiến thi hài phơi bày dưới cây rừng, phải chịu tan mất.

Lời bàn

Áo cà-sa được gọi y giải thoát, cũng gọi y ruộng phước. Người mặc cà-sa thì ngay cả Phạm vương, Đế Thích cũng không dám nhận sự lễ bái. Cho nên Long vương muốn cứu loài rồng, chỉ cầu được một mảnh cà-sa Kim-sí điểu vương cuối cùng không dám làm hại. Con khỉ đùa cợt mặc áo cà-sa liền sẩy chân té chết, sau được sinh lên cõi trời.



Áo cà-sa thật lợi ích cùng. Đức Phật dạy rằng: “Áo cà-sa của vị tỳ-kheo đã qua đời, nên treo lên cây cao, tất cả các loài hữu tình được nhìn thấy thì tội nghiệp tiêu diệt, phước báo sinh thêm. Cho nên tội xem thường áo cà-sa thì trời đất không dung tha. Người con tuy đã xuất gia cũng không thể chôn cất thi hài mẹ.
HỦY PHÁ TƯỢNG PHẬT PHẢI CHỊU TỘI1

Triều Thanh, vào năm đầu tiên niên hiệu Khang Hy,2 gỗ đàn hương rất giá. Quận một hiệu buôn gỗ hương, bỏ ra 3 lượng bạc thỉnh về một pho tượng Bồ Tát Quán Thế Âm. Sau đó suy nghĩ tính toán rằng, nếu phá pho tượng này ra để bán gỗ vụn thì thể được 16 lượng, liền chuẩn bị chẻ tượng ra. một người thợ sợ làm như vậy mang tội nên hết sức can ngăn, nhưng đứa con rể của ông chủ hiệu buôn lúc đó đến đón vợ, đang tại nhà cha vợ, liền chỉ mặt người thợ ấy nói: “Mày chỉ người làm công, đâu phải việc của mày. Cứ nghe lời mà làm đi.”

Đêm hôm đó, người con gái của chủ hiệu buôn bỗng đau bụng không thể về nhà, phải lại ba hôm để trị bệnh. Qua hôm sau, trên đường phố một đứa khoảng sáu tuổi đang đi




  1. Chuyện này người ở quận Tô đều biết. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức là năm 1662.

theo cha, bỗng chỉ tay về phía hiệu buôn gỗ hương, hỏi cha: “Cha ơi, sao trên nóc nhà kia lại niêm phong màu đỏ phong kín thế?” Người cha cho rằng đứa nói bậy nên cấm không cho nói nữa.



Đêm ấy, hiệu buôn gỗ hương bỗng tự nhiên phát hỏa, lửa thiêu duy nhất một nhà ấy thôi, cả nhà không ai sống sót. Đứa con rể của chủ hiệu định nhảy ra từ một lỗ thoát trên tầng lầu, nhưng bỗng thấy như vật ngăn giữ lại, cuối cùng phải chịu chết trong lửa. Riêng người thợ làm công, ngay buổi sáng sớm hôm trước đó bỗng một hiệu buôn trầm hương khác đến khẩn thiết mời sang giúp họ hai hôm, nhờ thế thoát khỏi nạn này.

Lời bàn

Hủy hoại tượng Phật, làm thân Phật chảy máu,một trong 5 tội nghịch phải đọa vào địa ngục gián. thế, nếu thấy việc như vậy không khuyên can ngăn cản, ắt sẽ gặp nạn dữ vào thân, còn nếu khởi một chút tâm lành, liền được thiện thần bảo vệ. Chỉ do tâm niệm của đứa con rể ông chủ hiệu buôn gỗ hương người thợ làm công kia hoàn toàn khác nhau, nên một người vốn đang muốn rời khỏi hiệu buôn ấy để về nhà, nhưng lại khiến cho không về được; một người vốn không ý muốn rời khỏi hiệu buôn ấy, nhưng lại khiến cho phải rời đi để tránh tai họa. Quả thật là: “Họa với phúc vốn không định sẵn, chỉ do người tự chuốc lấy thôi.”
BỒI THƯỜNG GẤP MƯỜI LẦN1

Huyện Trấn Giang thuộc tỉnh Giang người tên Lăng Khải, tên tự Tử Chánh. Vào năm Quý Mão thuộc niên hiệu Khang Hy,2 ông ta ghét con chó của người hàng xóm hung





  1. Chuyện này do chính họ Lăng tự thuật. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức là năm 1663.

dữ cắn người, liền dụ vào một ngõ hẹp rồi bít lối ra, muốn bỏ đói cho chết đi để dứt mối họa. Khoảng một tuần sau mở chỗ bít ra xem thử, thấy con chó chưa chết vẫy đuôi đi ra, từ đó không cắn người nữa, nhưng đống đất trên nền gạch trong ngõ bị chó ăn hết khoảng một nửa.

Hai tháng sau, chó tự nhiên chết. Đêm ấy, Lăng Khải nằm mộng thấy mình đi đến một phủ đường, hai người dáng vẻ tôn quý ngồi hai bên. Người áo xanh hỏi: “Làm người không lòng nhân hậu thì sao?” Người áo đỏ nói: “Phải đền lại gấp mười lần.” Liền sai quân dẫn Lăng Khải đến phía sau nhà, thấy trong vườn hoa mai nở rộ, dưới gốc cây một chậu nuôi vàng, trong chậu nổi lên một con chết. Tên quân kia chỉ vào mà nói: “Chữ ‘ngục’ () do từ chữ ‘khuyển’ () con chó ra, ông đã biết chưa? Mười năm sau sẽ ứng nghiệm.”

Lăng Khải tỉnh mộng lấy làm lạ lùng, không hiểu được cả. Đến tháng giêng năm Quý Sửu,1 chuyện của người khác mà Lăng Khải lại bị vu cáo rồi tống giam vào ngục. Khi vào trong ngục cũng thấy hoa mai vừa nở, con vàng chết nổi lên trong chậu, giống hệt như những đã thấy trong giấc mộng. Quả nhiên phải chịu đói đến 7 ngày, chỉ còn chút hơi thở thều thào sắp chết. Lại tiếp tục bị giam trong ngục đúng 100 ngày mới được thả, quả nhiên phù hợp với lời nói “phải đền lại gấp mười lần”.



Lời bàn

Quỷ thần nói trước việc mười năm sau sẽ người vu cáo bị giam vào ngục, điều đó cũng không phải khó lắm. Riêng những việc như hoa mai nở, vàng chết cũng sự ấn định sẵn, ấy mới thật kỳ lạ. Cho nên bậc đại A-la-hán chứng đắc thần thông tất nhiên thể biết được những việc trước sau

84.000 đại kiếp, hoặc như tuổi thọ dài ngắn của chư thiên, thế

1 Tức là năm 1673.

giới thành hoại lâu hay mau, hết thảy những việc ấy đều thể ngồi yên mà tự biết rõ ràng.



Lăng Khải người chất phác, thành thật, rất giỏi môn toán số Hoàng cực của Thiệu tử. Tôi với ông ấy từng gặp nhau nhiều lần, chính miệng ông đã kể lại đầu đuôi câu chuyện này cho tôi nghe.
MỘNG THẤY XƯƠNG GÀ1

Vào triều Thanh, vùng Tứ Xuyên người tên Dương Lâm, tên tự Hoài Mi, vào niên hiệu Thuận Trị thứ 132 vào làm trong kho lương Thái Thương, thuộc tỉnh Giang Tô, không lâu lại được thăng chức làm huyện lệnh Lâm An, thuộc tỉnh Chiết Giang. Ông làm quan thanh liêm chính trực, chỉ điều bản tính rất thích ăn thịt gà, trải qua đã nhiều năm.

Vào niên hiệu Khang Hy năm thứ 16,3 Dương Lâm nằm mộng thấy mình bị bắt đến âm phủ, nhìn thấy một đống xương chất cao như núi, bên cạnh người chỉ vào đó nói: “Đây xương của những con ông đã ăn. Rồi ông sẽ phải đến đây để đền tội, nhưng nhân duyên xấu còn chưa dứt nên đợi ông ăn thêm 47 con nữa rồi sẽ bắt đến đây.”

Dương Lâm tỉnh dậy lấy làm lạ, trong lòng cũng sợ, liền tự mình hạn chế, mỗi con chia ra ăn trong ba ngày. Nhưng miệng thèm không nhịn được, nên đổi thành hai ngày, rồi thì trở lại ăn như cũ. Ăn đến con thứ 45 thì bị ốm nhẹ, trải qua một đêm bệnh lại trở nặng, vừa ăn xong con thứ 47 thì chết, đúng như con số trong giấc mộng.



Lời bàn

người ngờ rằng, số bị ăn nếu đã định sẵn số lượng, ắt




  1. Chuyện này do người Lâu Đông kể lại. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức năm 1656.

  3. Tức năm 1677.

những con đã ăn trước đó cũng số lượng định sẵn, vậy sao còn quả báo giết hại? Đó không biết rằng số 47 con gà đó chỉ âm ty dự đoán sẽ bị Dương Lâm giết hại, chứ không phải số ấy nhất định phải bị giết hại. Giả sử như sau khi nằm mộng Dương Lâm hạ được quyết tâm không giết nữa, thì con số đó tất nhiên không buộc được ông, số đã giết hại trước kia cũng có thể cầu nguyện cho được siêu độ.



Sự tu hành cũng giống như vậy, nếu thể phát tâm dứt khoát đoạn trừ tập khí phiền não xấu ác thì sinh tử làm sao trói buộc được ta?
LÀM QUAN TÀN ÁC TỰ THIÊU MÀ CHẾT1

Triều Thanh, vào năm đầu tiên của niên hiệu Khang Hy,2 quan tri huyện Côn Sơn Khai Tiên, dung mạo xấu tâm tính lại tàn ác, người trong huyện căm ghét nên gọi “ông Lý mặt chàm”.

Mỗi khi trưng thu các khoản thuế phí, đối với những người giao nộp thiếu hoặc không nộp, họ nhất định sử dụng gậy lớn để đánh phạt, thường đánh người chết ngay dưới gậy, máu chảy nhuộm đỏ cả công đường.

Đến khi họ bãi quan rồi, không về quê, đến sống Châu, chỉ trong khoảng 3, 4 năm người nhà tự nhiên dần dần chết sạch. Còn lại duy nhất một đứa con gái, lại thông với người đầy tớ rồi bỏ nhà theo anh ta trốn mất. Họ còn lại một thân một mình, nghèo đói không đủ ăn, lại phải tự mình vào bếp nấu nướng. Một hôm, trong lúc cúi xuống thổi lửa, chúi đầu sâu vào cửa bị lửa thiêu đầu chết.

Lời bàn

Xưa nay tuy cũng những quan huyện tàn khốc bạo ngược,




  1. Người Côn Sơn đều kể cho nhau nghe chuyện này. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức năm 1662.

thật chưa thấy ai tàn khốc hơn ông này; nhưng ngay trong đời đã phải tức thời nhận chịu quả báo tàn khốc, cũng thật chưa thấy ai nhanh chóng hơn ông này.







Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   103   104   105   106   107   108   109   110   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương