Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang105/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   101   102   103   104   105   106   107   108   ...   130

HẾT THẢY VIỆC ÁC QUYẾT KHÔNG LÀM, HẾT THẢY VIỆC LÀNH


XIN VÂNG THEO
Giảng rộng

Hai câu này thâu tóm cấu trúc của toàn bài văn. “Việc ác” chỉ chung tất cả những việc trong bài văn đã bàn đến như dâm dục, giết hại, phá hoại... “Việc lành” chỉ chung tất cả những việc cũng đã đề cập trong bài văn như trung, hiếu, kính, tín.... Nói “quyết không làm” là lời nghiêm cấm, nói “xin vâng theo” là ý khuyến khích.

Hai câu này ngài A-nan cũng từng nói ra, thể xem trong kinh Tăng nhất A-hàm.1 Nhưng Đế Quân y cứ theo kinh này


1 Kinh Tăng Nhất A Hàm (壹一阿含經) được đưa vào Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh thuộc tập 2, kinh số 125,

tổng cộng 51 quyển, do ngài Cù-đàm Tăng-già-đề-bà dịch vào đời Đông Tấn. Hai câu được dẫn chú này nằm quyển 1, dòng thứ 13, trang 551, tờ a.

hay không thì chưa thể biết được.

Từ thuở nhỏ, trẻ em đã được cho học thuộc lòng “Đại học chi đạo” (大學之道),1 đến bậc hiền nho như Tăng tử cũng giảng thuyết “Đại học chi đạo”.2 Cùng bốn chữ ấy, nhưng sự nhận hiểu ý nghĩa thì tùy theo trình độ những mức độ sâu cạn khác nhau, thậm chí cách biệt nhau một trời một vực. Đối với hai câu khuyên người “bỏ ác, làm lành” trong bài văn này cũng vậy, tùy theo trình độ sự nhận hiểu khác nhau.

Xưa kia, Bồ Tát Thiện Tín trải qua nhiều đời sinh ra đều không được gặp Phật pháp nên hết lòng đi tìm cầu Chánh pháp. Một hôm bỗng nghe giữa không trung tiếng nói: “Từ đây đi về phương đông một vạn do-tuần sẽ gặp một nước kia, người con gái sinh trong nhà hèn kém, dung mạo xấu xí. ấy nhớ phỏng được một nửa bài kệ trước đây đức Phật đã thuyết dạy. Nhưng giữa đường đi phải vượt qua một đầm lầy rộng vuông vức khoảng vạn dặm, giẫm chân lên là lún chìm mất.”

Thiện Tín nghe như vậy cùng phấn khởi, quyết lòng tìm đến nơi, liền tìm cách vượt qua được vùng đầm lầy, gặp được người con gái ấy, cung kính lễ bái như được gặp Phật, ngợi khen xưng tán cầu được nghe pháp Phật. Người con gái ấy đáp: “Chánh pháp nhiệm mầu của chư Phật quả thật lượng vô biên, nhưng chỗ tôi được nghe chỉ nửa bài kệ thôi.” Thiện Tín lễ bái cầu xin được nghe nửa bài kệ ấy. gái liền đọc: “Hết thảy việc ác quyết không làm, hết thảy việc lành xin vâng theo.”

Thiện Tín nghe xong câu ấy, thân tâm liền thanh tịnh, suy ngẫm về nghĩa của hai câu ấy, thấu suốt được yếu chỉ, lập tức chứng đắc thần thông, bay trên không trung quay về nước, rộng truyền nửa bài kệ ấy ra khắp nơi, hàng phục hết ma chướng.




  1. Đây nói đến phần Kinh trong sách Đại học, mở đầu bằng câu: “Đại học chi đạo, tại minh minh đức...” Cả

phần này chỉ khoảng một trang giấy, cách giáo dục Trung Hoa ngày xưa bắt tất cả trẻ em đều phải học thuộc lòng, chúng chưa hiểu gì.

  1. Phần giảng thuyết của Tăng tử được ghi lại thành phần Truyện trong sách Đại học, chia thành nhiều

chương, giảng giải từng câu trong phần Kinh.

Như vậy thể thấy, trong phạm vi hai câu ấy thôi, người thiển cận hiểu theo cách thiển cận, người sâu sắc hiểu thấu đến chỗ uyên áo, không chỉ đơn thuần “bỏ ác làm lành” như trong lời nói thông thường.
Trưng dẫn sự tích
NHÂN DUYÊN MẮT1

Ngày xưa, vua A-dục một hậu phi phu nhân Liên Hoa, sinh được vương tử hết sức khôi ngô tuấn tú, đôi mắt đẹp như mắt chim câu-na-la, nhân đó đặt tên Câu-na-la, vua hết sức thương yêu. Một hôm hai mẹ con Câu-na-la cùng đến chùa Kê Đầu Mạt gặp tôn giả Dạ-xa. Ngài quán sát biết được do nhân đời trước nên hoàng tử sẽ bị mắt, liền giảng thuyết cho nghe về tướng vô thường của mắt.



Bấy giờ, hoàng hậu của vua A-dục rất yêu thích dung mạo khôi ngô của vương tử Câu-na-la nên cố cưỡng ép chuyện dâm tà, nhưng vương tử nhất quyết không chịu. Hoàng hậu do đó ôm lòng oán hận, muốn móc mắt vương tử cho hả giận. Nhân lúc vua A-dục bị bệnh, vương tử Câu-na-la lại đang thảo phạt nước Kiền-đà-la phương bắc, hoàng hậu liền giả sắc thư của vua, sai người móc mắt vương tử. Vương tử khi ấy cực kỳ đau đớn, nhưng nhớ lại lời dạy của Tôn giả Dạ-xa về tướng thường của mắt, liền khởi tâm chán bỏ mắt thịt ô uế, phát tâm cầu mắt tuệ thanh tịnh. Ngay khi đó, vương tử liền chứng quả Tư-đà-hàm.

Về sau, vương tử trở về kinh đô. Vua A-dục không biết âm mưu của hoàng hậu, khi gặp lại con bỗng thấy hai mắt bị mù, hình dung tiều tụy, áo quần lam lũ. Vua đau lòng bật khóc, gạn hỏi cớ sự. Vương tử thưa: “Việc này theo ý của phụ vương, sắc thư vẫn còn đó.” Vua nổi giận, sai người truy xét mới biết




1 Trích từ Kinh A-dục vương (阿育王經), được đưa vào Đại Chánh tân tu Đại tạng kinh thuộc tập 50, kinh số

2043, tổng cộng 10 quyển, do ngài Tăng-già-bà-la dịch vào đời Lương.

sắc thư do hoàng hậu làm giả, lập tức ra lệnh xử tội chết. Vương tử hết sức khuyên can nhưng vua nhất quyết không nghe, hạ lệnh chất củi tẩm dầu thiêu chết hoàng hậu.



Khi ấy một tỳ-kheo thưa hỏi ngài Ưu-ba-cúc-đa về nhân duyên sự việc này, ngài nói: “Ngày xưa, vương tử một thợ săn nước Ba-la-nại, săn được rất nhiều nai trong núi, sợ chúng chạy trốn nên móc mắt hết, sau đó mới lần lượt giết thịt. Từ đó đến nay, trải mấy trăm đời vẫn thường chịu quả báo bị móc mắt. Ngoài ra, sau khi đức Phật Câu-lưu-tôn nhập Niết-bàn vào thời quá khứ, vương tử này đã tu tạo chùa tháp, tượng Phật, lại phát nguyện rằng: ‘Trong đời vị lai, xin cho con được như đức Phật này.’ Do công đức tu tạo chùa tháp, tượng Phật, nên thường được sinh vào nhà tôn quý, nhờ đã phát nguyện nên nay được chứng quả Tư-đà-hàm.”

Lời bàn

Về sau, vua A-dục nghe danh đại Yến Sa một vị A-la-hán chùa Bồ-đề, liền đưa vương tử Câu-na-la đến đó, phát tâm xây dựng lại tự viện cúng dường Tam bảo, thỉnh cầu đại từ bi cứu chữa cho đôi mắt vương tử. Đại liền dạy vua ban chiếu cho dân trong nước ngày hôm sau đến chùa Bồ-đề để nghe thuyết pháp, lại dặn mỗi người đều mang theo đồ đựng nước mắt.

Hôm sau, chư tăng cùng đông đảo nhân dân tụ hội, Đại sư thăng tòa thuyết giảng giáo pháp Mười hai nhân duyên, ai ai cũng cảm động rơi lệ. Đại dạy mọi người hứng nước mắt, đựng tất cả vào một chậu bằng vàng, rồi ngài phát nguyện trước đại chúng rằng: “Những điều vừa thuyết giảng nếu đúng với Chánh pháp, xin dùng nước mắt của đại chúng để rửa mắt cho vương tử, khiến được sáng lại; bằng như không đúng thì mắt vẫn như trước.” Phát nguyện xong, liền dùng nước mắt trong chậu vàng rửa mắt cho vương tử, đôi mắt ấy liền sáng lại như xưa.


THAM ĂN CHỊU CHẾT1

Vào triều Thanh, huyện Thái Thương, tỉnh Giang có người tên Tiền Quân Cầu, vào năm cuối niên hiệu Thuận Trị,2 gặp người kia bán một con ba ba, kêu giá 50 quan tiền. Quân Cầu liền trả 25 quan, định mua để thả ra. Lúc ấy người tên Trương Trọng vừa đi đến, trả giá cao hơn 5 quan, mua về để giết thịt nấu ăn. Khi nấu thịt ba ba còn chưa chín, Trương Trọng bỗng nhiên thấy lạnh cóng cả người, miệng nói sảng rằng: “Đã người mua tôi để thả ra, sao ông lại cố tranh mà giết tôi?” Lại gấp rút đòi mạng. Người nhà của Trọng hết sức khẩn cầu tha mạng, cho mời ngay Tiền Quân Cầu đến. Quân Cầu đến nơi liền thay mặt gia đình xin tha mạng cho Trọng. Khi ấy Bá Trọng mới dần tỉnh lại.

Qua việc này,Trọng liền thề từ nay không ăn thịt cá nữa. Nhưng chẳng bao lâu sau, Trọng gặp một người bán nóc lại mua về ăn. Vừa ăn xong lập tức phát bệnh, qua một ngày thì chết.



Lời bàn

Con ba ba chết không được cầu siêu thì cho không ăn mặn nữa, cuối cùng cũng vẫn phải chịu báo oán, chỉ sớm hay muộn mà thôi.


NGHỊCH TỬ ĐÁNH BẠC BỊ SÉT ĐÁNH3

Trấn Nam Tầm, huyện Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, người đàn góa nuôi một đứa con trai. Đứa con này tuy đã lập gia đình nhưng không lo làm ăn, rất đánh bạc. Một hôm đánh bạc thua đậm không tiền trả, liền về nhà mẹ, bảo mang áo đi cầm lấy tiền đưa cho nó. mẹ nói: “Mẹ muốn sang nhà chị



  1. Chuyện này do Tấn Đạm Am kể lại. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức năm 1661.

  3. Chuyện này do Tiên đại nhân ghi lại. (Chú giải của soạn giả)

con, hãy để mẹ mặc áo sang đó rồi sẽ đưa cho con mang đi cầm vậy.”



Đứa con liền lấy thuyền đến cho mẹ đi. mẹ tiếc chiếc áo sợ làm hỏng, nên định bước lên bờ rồi mới thay ra đưa cho con. Đứa con thấy mẹ không cởi áo đưa dưới thuyền, tưởng mẹ không muốn đưa cho mình, nổi giận giằng co vật ra để lấy áo, cuối cùng đẩy chìm xuống sông chết.

Đứa con quay về nhà nó, đi được chừng một dặm thì nghe có tiếng sấm ầm ì, liền gấp rút chạy nhanh về nhà, quát vợ rằng: “Mau lấy cái chum to úp lên che tôi lại.” Vợ hỏi để làm gì, anh ta không đáp. Bất đắc người vợ phải làm theo như vậy. Nhưng tiếng sấm đã nhỏ lắm rồi, cuối cùng vẫn chưa thấy sét đánh. Một lúc sau, người vợ bỗng thấy từ bên trong chum máu chảy ra bên ngoài, kinh sợ liền dở chum ra xem thì thấy chồng đã mất đầu, máu tươi chảy lênh láng. ta hoảng sợ quá liền kêu la gọi hàng xóm đến. Mọi người đều cho đã mưu hại chồng rồi nói dối, liền bắt lên thuyền cùng đi đến nhà mẹ chồng, định đưa tất cả lên quan phủ. Thuyền đi được nửa đường bỗng thấy mái chèo bị vướng vào một vật, cúi xuống xem thì thấy một xác đàn vừa nổi lên, tay ôm một cái đầu người, tóc còn vướng nơi đầu mấy ngón tay. Xem kỹ lại thì hóa ra xác người chính là bà mẹ, đầu người trong tay chính đứa con. Lúc đó mới biết bà mẹ đã bị đứa con trai hại chết, liền thả cô con dâu ra.

Lời bàn

Làm con hại mẹ, thật không bằng loài sài lang hổ báo. Xét đến nguyên nhân từ đầu của sự việc, đó thiếu nợ tiền. Cho nên, tai họa gây ra bởi tệ cờ bạc thật khủng khiếp. Biết đến bao giờ các quan địa phương mới trừ dứt được tệ nạn này?
MIẾNG THỊT MẤT BA MẠNG NGƯỜI1

Triều Thanh, vào năm Tân Hợi thuộc niên hiệu Khang Hy,2 xảy ra hạn hán nghiêm trọng. vùng Tạ Lộc thuộc Côn Sơn, vào ngày rằm tháng bảy, một cặp vợ chồng đang tát nước bỗng trời nổi sấm lớn, sét đánh chết người chồng. Nhưng người chồng xưa nay vốn hiền lành chất phác nên không ai hiểu được lý do. Người vợ thấy việc như thế thì than rằng: “Ôi, chỉ 18 cân thịt mà thôi!”

Mọi người nghe như thế thì gặng hỏi, liền kể: “Mùa đông năm trước, chồng tôi vào thành nộp thuế, neo thuyền bờ sông. Khi trở về bỗng thấy trên chiếc thuyền trống bên cạnh một miếng thịt lớn, hồi lâu chẳng thấy ai đến lấy. Nhân đó liền lấy đem về thuyền rồi mang luôn về nhà, cân được 18 cân. Nguyên miếng thịt ấy của một nhà giàu, do đứa tớ gái mang ra sông rửa, để trên thuyền rồi bỗng gặp việc khác phải đi, đến lúc quay lại thì đã mất. chủ việc ấy giận quá, lỡ tay đánh chết đứa tớ gái. Ông chủ thấy việc như vậy, cho rằng sắp phải tan nhà nát cửa đến nơi nên quát mắng vợ thậm tệ. Bà vợ phẫn uất quá treo cổ tự vẫn. Nay sét đánh chết chồng tôi, nhất định là vì việc ấy.”



Lời bàn

Của rơi ngoài đường, người ta vẫn thường tình cờ nhặt được liền lấy làm của mình. Gặp những trường hợp như thế này là làm liên lụy đến người khác phải mất cả mạng sống, rốt cùng đã khiến người khác phải gặp tai họa, tự thân mình cũng bị trừng phạt. Sao thể tham dùng những tài sản phi nghĩa như thế? Cho nên nói rằng: “Nếu không phải vật thuộc sở hữu của mình, dù một mảy may cũng không giữ lấy.”3




  1. Chuyện này do Tiên đại nhân ghi lại. (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức năm 1671.

  3. Câu này nguyên lời của Đông Pha: “Vật trong thiên hạ thảy đều chủ, nếu không phải vật thuộc sở hữu của mình, một mảy may cũng không giữ lấy.” (天地之間,物各有主。茍非吾之所有,雖一毫而莫 取。 - Thiên địa chi gian, vật các hữu chủ. Cẩu phi ngô chi sở hữu, tuy nhất hào nhi mạc thủ.)


HẾT LÒNG TRỊ BỆNH CỨU NGƯỜI1

Vào triều Minh, Ô Trình2 có người tên Phan Quỳ, hiệu Tựu Am. Ông tinh thông y thuật, tâm nguyện cứu nhân độ thế. Vào một năm phát sinh bệnh dịch, những người mắc bệnh đều được ông ra sức cứu chữa, trong mười người thì ông cứu sống được đến tám, chín. Nhưng trong lúc trị bệnh, do gấp rút nên ông không đơn thuốc. Láng giềng người họ Triệu mang việc ấy kiện Phan Quỳ lên quan phủ. Không ngờ chưa bao lâu thì họ Triệu lâm bệnh rất nguy kịch, liền bảo đứa con: “Chỉ ông Quỳ mới cứu được cha.” Người con nói: “Mình vừa kiện ông ấy lên quan phủ, làm sao nhờ cậy được?” Họ Triệu nói: “Tuy mình xấu với ông ấy, nhưng tâm ông ấy rất từ bi, sẽ không hại cha đâu.” Người con nghe lời, mời Phan Quỳ đến xem bệnh. Ông hết lòng chữa trị, bệnh liền được khỏi.

Phan Quỳ ba người con trai Phan Tương, làm huyện lệnh Quế Dương; Phan Tham, làm quan Hàn lâm biên tu; Phan Xuyên, làm quan Cung bảo Thượng thư. Bản thân Phan Quỳ cũng được phong tặng tước quan Thượng thư. Cháu nội ông là Phan Đại Phúc sau đỗ tiến sĩ vào khoa thi năm Bính Tuất.



Lời bàn

Khi đã khởi tâm khẩn thiết muốn cứu người, thì tự nhiên ý niệm báo thù trở thành nhỏ nhặt, cho đến người đã đâm đơn thưa kiện ông cũng thể nhớ đến ông để cầu cứu mạng, đủ thấy tâm địa của Phan Quỳ thật cảm đến người khác hết sức u xa như thế nào.
CHỊU ĐÓI NUÔI 3

Triều Minh Dương Trừng người làng Kính Xuyên



  1. Trích từ sách Ý hành lục (懿行錄). (Chú giải của soạn giả)

  2. Nay vùng Ngô Hưng, Chiết Giang.

  3. Trích từ sách Ý hành lục (懿行錄). (Chú giải của soạn giả)



thuộc huyện Ngân, tỉnh Chiết Giang. Ban đầu Trừng làm chức thư lại trong huyện, luôn giữ tâm nhân hậu, thi hành theo đúng pháp luật công bằng. Bấy giờ, quan huyện lệnh nghiêm khắc quá độ, từng dùng roi đánh một người tù đến nỗi máu chảy đầy sân vẫn chưa nguôi giận. Trừng quỳ xuống xin tha, nói: “Trong việc tra xét cho tình thật, phải khởi lòng thương xót phạm nhân, không đượcý mừng vui. Xử tội người khác mà vui còn không được, huống chi là tức giận?”1 Quan huyện nghe ông nói đúng lẽ nên phải quay lại xét mình, tự nguôi cơn giận.

Nhà Trừng nghèo lắm, nhưng ai mang quà biếu đến đều tuyệt đối không nhận. Gặp lúc nhân đói thiếu, ông tìm mọi cách cứu giúp. Ngày kia, một số nhân mới đưa đến, đang đói lắm. Trong nhà Trừng khi ấy chỉ còn đủ gạo ăn trong ngày đó thôi. Ông hỏi những người kia từ đâu đến, họ nói: “Từ Hàng Châu, đã phải chịu đói mấy hôm rồi.” Trừng nghe vậy thì về lấy hết gạo trong nhà, nấu cháo mang đến chia cho số tù nhân ấy.



Về sau, Trừng sinh được một con trai Dương Thủ Trần, làm quan thăng dần đến chức Hàn lâm Học sĩ. Trừng cũng được phong tặng cùng tước quan như con.

Lời bàn

Tự mình chịu đói chỉ mới hôm nay, còn các nhân kia đã đói nhiều ngày. Nếu so sánh như thế, giữ gạo lại để tự mình được no đủ sao bằng nấu cháo cấp cho nhân? Tâm niệm vị tha của Trừng như thế, nhận được phước báo về sau như thế cũng là chuyện đương nhiên vậy.



1 đây Dương Trừng đã mượn lời Tăng tử nói về việc tra xét án tụng để khuyên quan huyện.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   101   102   103   104   105   106   107   108   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương