Nguyên tác



tải về 32.39 Mb.
trang104/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích32.39 Mb.
1   ...   100   101   102   103   104   105   106   107   ...   130

CẨN THẬN GIỮ GÌN PHẨM HẠNH, LÚC MỘT MÌNH SUY XÉT


KHÔNG HỔ THẸN VỚI LÒNG
Giảng rộng

Sự khác biệt giữa người quân tử kẻ tiểu nhân xét cho cùng cũng chỉ chỗ dựa vào chính mình hay sống dựa vào người khác thôi.1 Nếu như người ý chí dựa vào chính mình,




1 Nguyên văn: 君子小人之分,不過為己為人之別。 (Quân tử tiểu nhân chi phân, bất quá vi kỷ vi nhân chi biệt. ) Sách “Luận ngữ toàn giải” trích lời Dương tử nói: ”Đại nhân chi học vi đạo, tiểu nhân chi học vi lợi. Tắc vi đạo thân giả, vi kỉ giả dã; vi lợi vi cầm độc giả, vi nhân giả dã.” - 大人之學為道,小人之學 為利。則為道以美其身者,為己者也;為利以為禽犢者,為人者也。(Cái học của bậc đại nhân đạo, cái học của kẻ tiểu nhân lợi. đạo thì làm đẹp cho thân mình, tức dựa vào chính mình; lợi thì

nhưng trong những lúc nơi vắng vẻ không người lại không thể giữ tâm nghiêm khắc ngăn phòng, sợ sệt cảnh giác, thì có sự nỗ lực dựa vào chính mình nhưng vẫn không khỏi lúc sơ sót lỗi lầm. Người xưa nói: “Đi một mình không thẹn với bóng, nằm một mình không thẹn với chăn.”1 Khi thể đạt đến chỗ không thẹn với bóng, với chăn như thế, tức đã đạt được sự thận trọng giữ mình đến mức cùng cực.



Câu văn này nói lên sự hiện thực hóa câu trước đó, tức là: “Kính ngưỡng bậc thánh hiền tiên triết, đi đứng nằm ngồi vẫn thường nghĩ nhớ.” từ chỗ kính ngưỡng, thường nghĩ nhớ như vậy nên mới thể thực hành giữ gìn phẩm hạnh, đạt đến chỗ không có gì phải hổ thẹn với lòng.

Câu văn này cũng lại nói lên sự chuẩn bị nền móng căn bản cho câu tiếp theo, tức là: “Hết thảy việc ác quyết không làm, hết thảy việc lành xin vâng theo.” từ chỗ giữ gìn phẩm hạnh được hoàn toàn trong sáng, mới thể tránh xa được tất cả các thói tật xấu thành tựu được hết thảy các hạnh lành.

Trong văn nói việc thận trọng “lúc một mình suy xét”, không nghĩa chỉ thận trọng giữ mình trong lúc không ai quanh mình, nên biết rằng cả những thời gian trước sau đó cũng đều phải công phu hành trì. Trong thời gian trước lúc một mình, phải chuyên cần nỗ lực trong sự học hỏi rộng khắp, thẩm xét ràng, suy ngẫm thận trọng phân tích sáng suốt. Trong thời gian sau lúc một mình, phải nỗ lực thực hành tất cả những gì đã học hiểu và suy ngẫm được.

Câu văn này kết hợp với câu văn trước đó thành một dụng ý cực kỳ sâu sắc, công phu thực hiện hết sức tinh tế ẩn mật,



như loài cầm thú, tức dựa vào người khác.) Lại trích lời Phạm Diệp giải thích: “Vi kỷ giả, nhân tâm hội đạo. Vi nhân giả, bằng dự hiển vật.” - 為己者因心以會道,為人者憑譽以顯物。 (Người dựa vào chính mình, do nơi tâm hiểu đạo. Người dựa vào người khác, cầu nơi tiếng khen để sự vật.) Như vậy, đây “vi kỷ” có nghĩa là biết dựa vào nỗ lực của chính bản thân mình để tu tập hoàn thiện, chứ không có nghĩa ích kỷ.

1 Nguyên văn là: “Độc hành bất quý ảnh, độc ngọa bất quý khâm.” (独行不愧影,独卧不愧衾。)

ràng Đế Quân tự nói ra những sở đắc của chính mình, không phải chỗ người phàm tục có thể biết được.



Thời gian hay khung cảnh “một mình suy xét” thì ai ai cũng có, nhưng hoàn toàn không giống nhau. Kẻ tham danh chỗ “một mình suy xét” của sự tham danh, người hám lợi chỗ “một mình suy xét” của sự hám lợi. Hết thảy đều do chìm trong biển nghiệp mênh mang, không biết được sự giác ngộ, chẳng khác nào như rồng không thấy đá, không thấy nước; như con người không thấy được những hạt bụi quá nhỏ, như người sống không thấy được ma quỷ, đó đều là những lẽ tự nhiên cả.

Nếu như trong trạng huống tự nhiên “không thấy” đó, vào những lúc đêm khuya thanh vắng thể một mình tĩnh lặng suy xét, tự vấn chính mình: Đối với cha mẹ, anh chị em hiện nay, mình đã lúc nào hết lòng hiếu thuận, đối đãi tử tế chưa? Đối với người trong thân tộc, bằng hữu, thật sự đã bao giờ mình đối đãi chân thành với họ chưa? Trong giao tiếp ứng xử sai lầm, không tốt chăng? Trong chuyện tiền bạc, quả thật mình thể thấy điều lợi kịp nghĩ đến nhân nghĩa, không nhận những đồng tiền phi nghĩa từ người khác hay chăng? Trong những lúc đi đứng nằm ngồi, thường nghĩ nhớ đến công ơn cha mẹ, một lòng muốn báo đáp chăng? Mỗi ngày từ sáng đến tối, bao giờ được một vài lần phát khởi những ý niệm tốt đẹp cứu người giúp đời chăng? Đối với nữ sắc thật không thèm muốn ưa nhìn chăng? Thấy người được thành tựu, thật không sinh lòng ghen ghét đố kỵ chăng? Những lúc sống trong hoàn cảnh thuận lợi, thật sự giữ mình khiêm hạ, không kiêu căng xa xỉ chăng? thật không lấn lướt ngược đãi những người cô thế yếu ớt không nơi nương tựa chăng? Mỗi ngày đến bữa ăn có thường nhớ nghĩ công lao khó nhọc của những người nông dân cần khổ hay chăng? người nghèo khó đến xin, thật khởi tâm thương xót chia sẻ ít nhiều cho họ không chán ghét chăng?

Cứ như vậy lần lượt tự kiểm điểm lại, ắt trong chỗ “một mình tự xét” như thế không khỏi nhận ra những điều khiến mình hết sức ray rứt hối hận, làm sao thể xem thường tự tha thứ cho mình được?


Trưng dẫn sự tích
THÍCH THÚ THẤY NGƯỜI KHÁC SĂN BẮN1

Đời Bắc Tống, tỉnh Nam người tên Trình Hạo,2 tên tự Thuần, học giả đương thời đều tôn xưng tiên sinh Minh Đạo. Thuở nhỏ Trình Hạo rất thích săn bắn, về sau được gặp tiên sinh Chu Đôn Di Liêm Khê3 thì quyết định dứt trừ thói tật ấy, tự nói rằng mình đã dứt sạch không còn chút hứng thú gì với việc ấy cả.



Tiên sinh Liêm Khê dạy: “Sao thể nói dễ dàng như vậy? Chẳng qua tâm niệm của ông đang tạm thời tiềm ẩn chưa bộc phát đó thôi. Một ngày nào đó phát lộ ra, ắt sẽ giống như trước thôi.”

Trải qua đến 12 năm, một hôm Trình Hạo tình cờ nhìn thấy người khác săn bắn, quả nhiên khởi tâm thích thú. Lúc ấy mới biết lời dạy của tiên sinh Liêm Khê là đúng.

Lời bàn

Từ bỏ sự giết hại làm việc phóng sinh, đó cách dễ nhất để bỏ ác làm thiện. Từ bỏ việc săn bắn hình thức giới sát phóng sinh ràng dễ thấy nhất. Tiên sinh Minh Đạo một bậc hiền đức, lại trải qua đến 12 năm học đạo, vậy cái căn gốc của tâm giết hại vẫn còn chưa dứt sạch. Thế nên đối với những





  1. Trích từ sách Tánh tông chỉ (性理宗旨). (Chú giải của soạn giả)

  2. Trình Hạo (1032-1085) cùng với em Trình Di (1033-1107) đã phát triển học thuyết của Chu Đôn Di. Họ Chu họ Trình đã những đóng góp đáng kể vào học thuyết cũng như tư tưởng của Nho giáo.

  3. Chu Đôn Di thường được gọi tiên sinh Liêm Khê (濂溪), nhà Nho nổi tiếng vào đời Tống, sinh năm

1017 mất năm 1073.

bậc cao tăng giới luật tinh nghiêm, thiên thần đều kính lễ cũng là chuyện đương nhiên.



Về sau, tiên sinh Minh Đạo từng đến Nam Kinh làm quan, thấy người làng thường dùng keo dính bôi lên cây sào để bẫy bắt chim, tiên sinh liền cho bẻ gãy hết những cây sào ấy, rồi hạ lệnh cấm hẳn việc đó. Đến lúc ấy thì tâm giết hại ngày xưa đã thực sự được đoạn trừ. Cho nên thể thấy rằng công phu “thận trọng tự mình suy xét” thật không dễ dàng chút nào, đâu chỉ riêng là những cái khó như mười năm đọc sách chưa dứt được sự kiêu căng, mười năm đọc sách chưa dứt được lòng tham muốn công danh?
HỐT KHỞI NIỆM 1

Xưa vị thiền nghiên cứu học hỏi về lẽ thiền, công phu tu tập nhiều tiến bộ, muốn cầu được Hòa thượng ân truyền pháp. Hòa thượng không đồng ý, khiến ông cũng chút oán trách.

Sau khi Hòa thượng viên tịch, trải qua đến 20 năm sau, vị tăng ấy một hôm tình cờ trong lúc đi dọc theo bờ sông, bỗng nhìn thấy từ xa phía bờ bên kia một người con gái đang rửa chân, trong lòng hốt nhiên khởi lênniệm, thấy đôi chân người con gái kia làn da trắng đẹp quá! Ngay lúc ấy bỗng thấy Hòa thượng ân hiện ra bên cạnh, nghiêm khắc gặn hỏi: “Tâm niệm vừa rồi của ông có thể nhận truyền y bát tổ sư được chăng?” Vị tăng hết sức hổ thẹn, quỳ lạy cầu xin sám hối.

Lời bàn

Nói theo người thế tục thì tâm niệm ấy bất quá chỉ một lỗi hết sức nhỏ nhặt. Nhưng nếu luận theo giới luật của người xuất gia thì tâm niệm ấy đã phạm giới rồi. Khắp trong sáu tầng trời thuộc cõi Dục, chúng sinh không giống như cõi người,




1 Trích từ Cao tăng truyện (高僧傳). (Chú giải của soạn giả)

được hưởng phước báo càng lớn thì tâm tham dục càng giảm đi. Đến như trên cõi trời Hóa lạc thì chúng sinh khác giới tính bất quá chỉ nhìn nhau thôi đã đủ thỏa mãn lòng dục, không cần nói năng đùa cợt. Lại cao hơn thế nữa, đến cõi trời Tha hóa tự tại thì nam nữ chỉ cần được nghe âm thanh, hay ngửi mùi hương của nhau cũng đủ để thỏa mãn lòng dục, không cần phải đưa mắt nhìn nhau nữa. Thật chẳng giống như người thế gian đắm chìm trong tham dục luyến ái, đến nỗi ham muốn không hề biết mệt mỏi!


PHÁT NGUYỆN KHÔNG ĂN THỊT TRÂU1

Vào triều Thanh, tại huyện Tích, tỉnh Giang một viên thư lại họ Vương. Vào năm Đinh Dậu thuộc niên hiệu Thuận Trị,2 chuyện ghi chép lương tiền sai sót nên bị giam rồi chết trong ngục Bắc Đô.



Đến tháng niên hiệu Khang Hy năm thứ hai,3 con trai của Kim Thái Hán Quang, người Châu, từ kinh thành đi thuyền về quê. Thuyền vừa đi qua bến Trương Gia bỗng nghe tiếng người gọi: “Tôi người họ Vương Tích, xin được đi nhờ thuyền.” Hán Quang đồng ý, cho thuyền ghé vào, nhưng chẳng thấy ai cả. Thuyền ra đi, lại nghe tiếng gọi như trước. Hán Quang lên tiếng hỏi, liền nghe tiếng họ Vương đáp thật rằng: “Tôi quỷ chết oan, thuyền ông đậu xa bờ quá nên tôi không lên được.” Người trên thuyền nghe như vậy đều kinh hãi. Quỷ họ Vương liền nói: “Không sao đâu, cho tôi ngồi mạn thuyền được.”

Hán Quang cho ghé thuyền vào sát bờ, liền nghe như người nhảy lên thuyền. Thuyền vừa đi chưa bao lâu, chợt lại nghe tiếng quỷ kêu lên. Hán Quang hỏi việc gì, quỷ đáp: “Tôi bỏ quên cái


  1. Trích từ sách Quan cảm lục (觀感錄). (Chú giải của soạn giả)

  2. Tức năm 1657.

  3. Tức năm 1663.



túi nhỏ trên bờ sông rồi. Trong đó sổ ghi chép lương tiền các khoản, về nhà người tra hỏi, cần phải lấy đó làm bằng chứng. Xin cho tôi trở lại để lấy.” Hán Quang liền chiều ý.

Sau đó thuyền đi tiếp được ba ngày, lúc trời sắp tối bỗng nghe quỷ nói: “Xin tạm dừng thuyền, trên bờ chỗ kia đàn phổ trai, tôi muốn đến dự.” Hán Quang không hiểu, hỏi: “Phổ trai gì?” Quỷ đáp: “Người đời thường gọi thí thực, tức là bố thí thức ăn.” Hán Quang liền ghé thuyền cho quỷ đi. Vừa đi được chốc lát đã trở lại ngay, nói: “Bồ Tát Quán Âm làm chủ đàn, không phần cơm cho tôi, ngày trước tôi thích ăn thịt trâu. Mỗi khi Bồ Tát chủ đàn, tất cả những người ham thích thịt trâu đều không được vào ăn.” Hán Quang nghe như thế kinh hãi nói: “Có chuyện như vậy thật sao? Tôi vốn thường ăn thịt trâu, từ nay xin chừa bỏ.” Chốc lát sau, nghe tiếng quỷ khóc lớn. Hán Quang hỏi việc gì, quỷ đáp: “Vì ông phát tâm giữ giới không ăn thịt trâu, nên thần chứng giới đàn từ cõi trời sắp đến, tôi không thể đây được nữa.” Hán Quang liền hỏi: “Vậy ông làm sao về nhà?” Quỷ đáp: “Tôi phải chờ thuyền khác thôi.” Hán Quang dừng thuyền, quỷ lẳng lặng rời đi.

Lời bàn

Hán Quang mở lời kiêng ăn thịt trâu, vừa nói ra thì thần chứng giới đàn đã đến, thể thấy rằng mỗi khi khởi tâm động niệm thì trời đất đều biết, ghi thiện ác, mảy may không sai lệch.

Xưa, danh tướng Thích Kế Quang1 mỗi ngày đều tụng kinh Kim Cang. một con quỷ báo mộng với ông, xin được tụng cho một quyển kinh để cầu siêu. Lúc Kế Quang đang tụng kinh, có con hầu gái mang trà đến, ông bèn khoát tay ý nói “không dùng”. Đêm đó mộng thấy quỷ hiện về nói: “Ông tụng kinh

1 Thích Kế Quang, sinh năm 1528, mất năm 1588, danh tướng thời Minh, từng công chống giặc Nhật Bản quấy nhiễu vùng duyên hải.

hay lắm, nhưng thừa ra hai chữ ‘không dùng’ nên nguyện lực không thành tựu, tôi chưa thể được siêu thoát.”

Hôm sau, Kế Quang chí thành tụng kinh, không khởi niệm gì khác. Đêm đó mộng thấy con quỷ ấy hiện đến cảm tạ, nói rằng nhờ công đức tụng kinh đã được siêu thoát.

Ấy quỷ thần phần nhiều đều khả năng biết được ý nghĩ con người, nên mỗi khi khởi tâm động niệm, quỷ thần đều biết con người đang nghĩ việc gì. Người đời hiện nay từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, những ý niệm tội lỗi như giết hại, trộm cắp, dâm dục, dối trá, cho đến mười nghiệp ác, năm tội nghịch... nhiều không xiết kể, làm sao thể không bị trời đất trừng phạt, quỷ thần giận dữ? Cho nên, những lúc “một mình tự xét” không thể không hết sức thận trọng.







Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   100   101   102   103   104   105   106   107   ...   130


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương