Nguyên tác


BÀN VỀ CÂU “VẬT HỮU BẢN MẠT”3



tải về 2.38 Mb.
trang103/130
Chuyển đổi dữ liệu24.11.2019
Kích2.38 Mb.
#100493
1   ...   99   100   101   102   103   104   105   106   ...   130

BÀN VỀ CÂU “VẬT HỮU BẢN MẠT”3

Sách Tứ thư chương tập chú (四書章句集註) chú giải rằng “đoạn này nối tiếp ý của câu văn trước đó”. thế nên xưa nay vẫn hiểu rằng, trong câu “vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy” (物有本末,事有終始) thì “vật hữu bản mạt” (vật gốc, ngọn) được xem phần đầu, “sự hữu chung thủy” (sự việc đầu, cuối) được xem là phần sau, cả hai tạo thành một đoạn nối tiếp theo văn trước đó.



Tuy nhiên, xét thật kỹ càng thông suốt văn mạch toàn chương, thì thấy đoạn này không phải nối tiếp phần trước nó, thật ra là được viết để khởi đầu cho đoạn tiếp theo. Hiểu theo cách này thì chữ vật (物) được dùng để chỉ phần nội dung trong câu tiếp


  1. Trong sách Luận ngữ () có đoạn: “Tử viết: Phú nhi khả cầu dã, tuy chấp tiên chi sĩ, ngô diệc vi chi.

Như bất khả cầu, tùng ngô sở hảo. - 子曰:富而可求也,雖執鞭之士,吾亦為之。如不可求,從吾所好。 (Khổng tử nói: Giàu sang phú quý nếu thể cầu được, dẫu việc cầm roi đánh xe hầu người khác ta cũng làm. Nếu như không thể cầu được, thôi hãy làm theo những ta thấy tốt đẹp.) đây muốn bàn về cách hiểu chữ () trong câu này.

  1. Nguyên văn lời Khổng tử: “Sĩ nhi hoài bất túc vi sĩ.” - 士而懷居不足為士。

  2. Sách Đại học (大學) một tiết là: “Vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy, tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỹ.”

-“物有本末,事有終始,知所先後,則近道矣。

theo bên dưới,1 bao gồm: “thân, tâm, ý, tri, gia, quốc, thiên hạ”; chữ sự () tức các việc “cách, trí, thành, chính, tu, tề, trị, bình”. Chữ vật (物) với chữ sự (事) được hiểu phối hợp theo cách này thì tất cả ý tứ đều phù hợp, lại càng làm tăng thêm ý nghĩa rõ ràng mạnh mẽ hơn.



Nếu lấy quốc (đất nước) so với thiên hạ, thì đất nước phải là gốc, thiên hạ ngọn; lấy gia (nhà) so với quốc (đất nước), thì nhà phải gốc, đất nước ngọn; cứ thế xét, cho đến các khái niệm thân, tâm, ý, tri cũng đều tương tự như vậy. Như thế, có thể thấy hai chữ “bản, mạt” (gốc, ngọn) đã biến hóa cùng linh hoạt, kỳ diệu.

Nếu lấy trị () so với bình () mà xét, thì trị phải là đầu, mà bình cuối; lấy tề () so với trị () xét, thì tề phải đầu, trị cuối; cứ thế xét, cho đến các khái niệm cách, trí, thành, chính cũng đều tương tự như vậy. Như thế, thể thấy hai chữ “thủy, chung” (đầu, cuối) đã biến hóa cùng linh hoạt, kỳ diệu.

Những khái niệm “bản, mạt, thủy, chung” (gốc, ngọn, đầu, cuối) đã được vận dụng linh hoạt như thế, tất nhiên các khái niệm “tiên, hậu” (trước, sau) cũng sẽ linh hoạt như thế, cho đến khái niệm “cận đạo” (gần với đạo) cũng sẽ linh hoạt như thế.



Cho nên, đoạn văn này thật ra sử dụng bút pháp ảo, không tự thực nghĩa, chỉ dùng để dẫn khởi cho 8 đề mục thực nghĩa bên dưới.2 thế trực tiếp trước đó hai đoạn mở đầu với “cổ chi dục minh minh đức” (古之欲明明德), liền theo sau là hai câu “tri sở tiên hậu, tắc cận đạo hỹ” (知所先後,則近道矣).



  1. Nguyên văn đoạn được bàn đến đây là: “Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ

thân; dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm; dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý; dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri; trí tri tại cách vật. Vật cách nhi hậu tri chí, tri chí nhi hậu ý thành, ý thành nhi hậu tâm chính, tâm chính nhi hậu thân tu, thân tu nhi hậu gia tề, gia tề nhi hậu quốc trị, quốc trị nhi hậu thiên hạ bình.” - 欲治 其國者;先齊其家;欲齊其家者,先修其身;欲修其身者,先正其心;欲正其心者,先誠其意;欲誠其 意者,先致其知;致知在格物。物格而後知至,知至而後意誠,意誠而後心正,心正而後身修,身修而 後家齊,家齊而後國治,國治而後天下平。

  1. Tức 8 cặp đề mục “thân, tâm, ý, tri, gia, quốc, thiên hạ” “cách, trí, thành, chính, tu, tề, trị, bình”, được

sắp xếp tương ứng với nhau.

Nếu như cho rằng “vật hữu bản mạt” với “sự hữu chung thủy” là 2 phần của một đoạn văn nối tiếp ý văn trước đó, thì sự phối hợp ý nghĩa xét ra rất nhiều chỗ khiên cưỡng. Xét như đoạn văn trước đó mở đầu bằng “tri chỉ nhi hậu hữu định” (知止而後有定), thật ra đã nối tiếp câu trước đó nữa với ý cuối câu “chỉ ư chí thiện” (止於至善), cho nên “vật hữu bản mạt” đương nhiên không thể có sự nối tiếp tương ứng với đoạn trước nó.



Huống chi hai đoạn “vật hữu bản mạt, sự hữu chung thủy” lại rõ ràng ý đề khởi mạnh mẽ chứ không phải ý nối tiếp. Như hiểu ngược lại theo ý tứ của đoạn văn trên, thì “tâm định” làm sao thể gọi “sự”, chỗ được an ổn cũng làm sao thể gọi là “sự”? Hiểu như thế thì một chữ “sự” tự đã không nghĩa thỏa đáng, tất nhiên hai chữ “tiên hậu” theo sau cũng không thỏa đáng, mà đến “tắc cận đạo hỹ” lại càng không thỏa đáng.

Cách hiểu sai lệch này tuy không liên quan đến tông chỉ lớn lao, nhưng nếu như thể ít nhiều làm sáng tỏ hơn kinh sách của thánh hiền thì cũng nên nói ra để mọi người đều biết.
BÀN VỀ VIỆC THÊM CHƯƠNG “CÁCH VẬT TRÍ TRI” VÀO SÁCH ĐẠI HỌC

Chu Hy khi đọc cổ bản của sách Đại học (大學), cho rằng tiếp theo chương “Thính tụng” (聽訟) thứ tư đã bị mất đi chương thứ năm“Cách vật trí tri” (格物致知). Do đó, ông sử dụng ý tưởng của Trình tử rồi tự mình viết bổ sung chương ấy, xếp vào trong sách “Hiền truyện”. Bấy giờ, những người học Nho tranh cãi rất nhiều, không cùng một ý. Nhiều người cho rằng, các vị hậu Nho tuy hiền đức cũng không nào lại tự mình viết thêm vào kinh sách của thánh nhân.

Khổng tử viết kinh Xuân thu, có những sự mất mát, thiếu sót, đại loại như đến đoạn nói về Hoàn Công năm thứ 14, sau hai chữ
“hạ ngũ” (夏五) bị mất một chữ, hoặc phần nói về Trang Công năm thứ 24, sau hai chữ “quách công” (郭公) bị mất một đoạn... sao không vận dụng kiến thức của mình để viết bổ sung vào cho hoàn chỉnh, cuối cùng vẫn để những chỗ ấy tồn nghi? sự thận trọng. Huống chi phần bổ sung của Chu tử người thuộc thời đại gần đây, cách hành văn hoàn toàn không giống với phong cách được sử dụng trước đây trong kinh sách của thánh nhân, lại chưa hẳn đã không bị rơi vào chỗ “biết một chẳng biết hai”.

Theo chỗ suy luận của tôi thì thật ra chương sách này không hề bị mất, phần giải thích ý nghĩa “cách vật trí tri” thật ra là nằm trong chương “Thính tụng” (聽訟). Xét như lẽ của sự vật trong thiên hạ vốn không cùng tận, tiến vào một cảnh giới, ắt lại hiện ra thêm một cảnh giới khác nữa. Lấy như trong việc xét xử tranh tụng nói, mọi người đều cho rằng nếu đạt được đến chỗ phân tích cặn kẽ sự việc, phán quyết công bằng thích đáng, ắt đã cùng cực. Thế nhưng nào biết rằng, vượt trên sự cùng cực đó còn cấp độ cao hơn của sự “không tranh tụng”, quả thật vượt xa rất nhiều.

Người thấu suốt được cấu trúc vận hành của sự vật, ắt nhận biết được lẽ trong thiên hạ, từng bước từng bước thấu hiểu đến chỗ cao tột nhất, thì những việc như tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” đều không còn khó nữa. thế chỉ mượn một việc “tranh tụng” làm dụ đơn cử, từ đó suy ra cho đến mọi sự mọi việc trong thiên hạ cũng cùng một nguyên ấy, thật ra hoàn toàn không nhằm giải thích về ý nghĩa “bản mạt”.

Chương này vốn nhấn mạnh vào chữ tri (知) trong “cách vật trí tri”, không phải nhấn mạnh vào chữ bản () trong “bản mạt”. Chu Hy khi đọc chương này lại chú ý đến chữ “bản” mà quên mất rằng chương này chú trọng chữ “tri”, thế mới cho rằng chương này giải thích ý nghĩa “bản mạt”, từ đó tiếp tục suy ra rằng chương giải thích về “cách vật trí tri” đã bị mất!



Xét như toàn bộ các chương giải thích của Tăng tử trong

sách Đại học, thật không ngoài 3 cương lĩnh, 8 đề mục1 đã nêu đầu sách. Vậy riêng khái niệm “bản mạt” vốn không phải cương lĩnh, cũng chưa đủ đề mục, sao lại một chương giải thích riêng? Lại nếu như “bản mạt” đã được giải thích, tại sao “chung thủy” lại không được giải thích? Nay phân tích thật kỹ suy ngẫm về cách hành văn trong các sách truyện thánh hiền thì tự nhiên thấy rõ. Như chương “Thành ý” (誠其意) được dùng làm chương đầu tiên của phần giải thích 8 đề mục, nên mở đầu “Sở vị thành kỳ ý giả” (所謂誠 其意者), lấy cách viết này áp dụng cho cả 4 chương tiếp theo sau, đều giống như vậy.2 Nếu như phía trước chương giải thích về “thành ý” lại đặt thêm một chương “sở vị trí tri tại cách vật” thì hóa ra văn pháp hoàn toàn rối loạn, không còn tương hợp nhất quán nữa.

Hiện nay hai phần kinh, truyện trong sách Đại học vẫn còn đủ, sao người đọc sách không tĩnh tâm xét lại một lần thử xem? Đến như hai câu cuối cùng “thử vị tri bản” (此謂知本) “thử vị tri chi chí dã” (此謂知之至也) đều những câu cảm thán kết ý, khiến cho người đọc hốt nhiên bừng tỉnh, lãnh hội được ý tứ, nhất định không thể xem thừa.
BÀN VỀ CỤM TỪ “PHỤC NGHIÊU CHI PHỤC”

Chữ phục () chính được dùng với nghĩa như chữ sự (). Trong sách Thượng thư (尚書), thiên Trọng hủy chi cáo (仲虺之 ) câu “toản cựu phục” (纘禹舊服) thiên Bàn Canh thượng ( 盘庚上) câu “dĩ thường cựu phục” (以常舊服), thảy đều dùng chữ sự () để giải thích nghĩa của chữ phục ().


  1. Về 8 đề mục đã nói trong phần trước, còn 3 cương lĩnh là: “minh minh đức (明明德), thân dân (親民)

chỉ ư chí thiện (止於至善)”.

  1. Như chương Tu thân (修身) mở đầu bằng câu “Sở vị tu thân tại chính kỳ tâm giả”; chương Tề gia (齊家) mở dầu bằng câu “Sở vị tề kỳ gia tại tu kỳ thân giả”; chương Trị quốc (治國) mở đầu bằng câu “Sở vị trị quốc tất tiên tề kỳ gia giả.”; chương “Bình thiên hạ” (平天下) mở đầu bằng câu “Sở vị bình thiên hạ tại trị kỳ quốc giả.”


Trong sách Mạnh tử (孟死), thiên Cáo tử hạ (告子下), cụm từ “phục Nghiêu chi phục” (服堯之服) chính muốn nói “sự Nghiêu chi sự” (事堯之事), nghĩa “làm theo việc của vua Nghiêu”. Đoạn văn tiếp theo 2 câu “tụng Nghiêu chi ngôn, hành Nghiêu chi hạnh” (誦堯之言,行堯之行), nghĩa “đọc tụng những lời của vua Nghiêu, làm theo công hạnh của vua Nghiêu”, chính để giải thích cho cụm từ “phục Nghiêu chi phục”. Có thể tham khảo thêm chữ “động” () trong sách Trung dung, câu “quân tử động nhi thế vi thiên hạ đạo” (君子動而世為天下道), để thấy chữ động (hành động) đây chính bao hàm cả ngôn (nói) và hành (làm) của câu giải thích trong sách Mạnh tử.

Hiện nay trong sách Mạnh tử tập chú (孟子集注), đoạn Mạnh tử trả lời các câu hỏi của Tào Giao, phần chú giải lại nói rằng “y phục, lời nói, hành động đều không theo lễ nghĩa, nên mới lấy những việc ấy bảo”. Cứ theo đây hiểu thì ràng chữ phục (服) được hiểu y phục. Thế nhưng, nếu nói về y phục thì thời vua Nghiêu vốn được chế tác phân thành 12 kiểu loại,1 dành cho các tầng lớp địa vị khác nhau trong hội, Tào Giao bất quá cũng chỉ em của Tào Quân, lấy cách để mặc y phục giống như vua Nghiêu? Bằng như nói rằng không phải mặc y phục giống vua Nghiêu, nhưng mặc theo y phục được chế tác vào thời vua Nghiêu, thì y phục qua từng thời đại vốn đều sự thay đổi khác nhau, lại như Khổng tử từng nói: “Sinh vào thời nay quay lại theo nếp thời xưa ắt phải chuốc họa vào thân.”2 Tào Giao sinh vào cuối đời Chu, lại bảo ông ta phải mặc theo y phục của 1.800 năm trước, chẳng phải quái đản lắm sao? Lại xét như vua Kiệt tuy bạo ngược đạo, nhưng y phục của ông ta dùng chắc chắn vẫn y phục của bậc thiên tử, quyết không thể nào lại nói rằng: “Ta ông vua đạo, phải chế tác riêng loại y



  1. Mười hai kiểu loại y phục này được chế tác dựa theo các ý tưởng “nhật, nguyệt, tinh thần, sơn, long, hoa trùng,

tảo, hỏa, phấn, mễ, phủ, phất”.

  1. Nguyên văn:“生乎今之世,返古之道,如此者,災及其身者也。 - Sinh hồ kim chi thế, phản cổ chi đạo,

như thử dã, tai cập kỳ thân giả dã.

phục đạo cho ta dùng, lưu lại cho hậu thế.” Tào Giao sao có thể phỏng chế theo y phục lưu lại của thời xưa để mặc?

Cho nên, chỉ thể giải thích chữ phục (服) được dùng thay chữ sự (事) thì ý nghĩa mới phù hợp.

Lời bàn

Kinh thư sách vở văn chương của thánh hiền, lẽ đúng thật lẽ được thiên hạ từ xưa đến nay đều công nhận là đúng. Đã lẽ cần được thiên hạ công nhận, thì người trong thiên hạ đều quyền phân tích bàn luận. Sở người xưa trước tác thư tịch thảy đều câu “đợi người quân tử đời sau”, đó là vì trong lòng hết sức mong muốn người đời sau thể vượt hơn người đi trước, hoàn toàn không muốn rằng càng về sau mỗi đời lại mỗi kém cỏi hơn. Nếu như nói rằng, đã những cách giải thích cố định của người đi trước, nên người sau phát minh điều cũng không được nói ra, thế tức chỉ một nhà Nho đi trước cũng đã đủ để bịt miệng khắp cả thiên hạ đời sau rồi, lẽ nào lại như thế được sao?






tải về 2.38 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   99   100   101   102   103   104   105   106   ...   130




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương