Nguyễn Anh Tuyến



tải về 3.3 Mb.
Chế độ xem pdf
trang7/56
Chuyển đổi dữ liệu12.01.2023
Kích3.3 Mb.
#185616
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   56
123doc-su-phat-trien-ngon-ngu-cua-hoc-sinh-tieu-hoc-tren-cu-lieu-cac-bai-viet-cua-hoc-sinh-lop-2-3-4-5
John Grayso Andrew. Ngoài việc chủ yếu nói về sự nhận thức của trẻ như cấu 
trúc, phạm trù, khái niệm nhận thức; não bộ và sự 
PT
nhận thức, trí nhớ; toán học và 
tư duy khoa học; quan điểm nhận thức xã hội và sự 
PT
nhận thức, có hai bài nói về sự 
PTNN của trẻ em. Bài đầu là first word miêu tả những nhiệm vụ mà trẻ phải đối mặt 
trong việc học từ đầu tiên, nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh xã hội trong việc 
học từ ngữ từ sớm, thảo luận về cách mà những dữ liệu đáng tin cậy có thể được tập 
hợp trong sự lĩnh hội sớm của trẻ, miêu tả tiến trình thời gian tiêu biểu của việc 
PT
sự 
lĩnh hội của trẻ và sản sinh từ vựng, miêu tả giai đoạn bập bẹ của trẻ, hiểu được phạm 
vi nghĩa của những từ đầu tiên. Bài thứ hai là the development of children’s 
understanding of grammar, đề cập đến tính tự nhiên của 
NN
nói (về âm vị học, hình 
thái học, cú pháp học), sự 
PT
của 
NN
nói (một từ ở tại một mốc thời gian, những sự 
kết hợp sớm, độ dài của phát ngôn như là sự giới hạn phức tạp, ngữ pháp miệng hoàn 
chỉnh), tạo lập câu hỏi ngữ pháp với what, where, why, who, những rắc rối ngữ pháp, 
sự tiếp cận kinh nghiệm thụ đắc cú pháp. 
Một tác phẩm nữa thực sự đề cập đến sự PTNN của trẻ em là Developing 
Language in Early Childhood Education của Beverly Otto (2008). Tác giả đã nhìn 
nhận 
NN
trẻ em là sự biểu hiện tích hợp các thành tố 
NN
(ngữ âm, nghĩa của từ và 
cấu tạo từ, ngữ pháp và ngữ dụng); chỉ ra ba cấp độ của việc PTNN của trẻ (biết nói, 



biết nói một cách có hiểu biết, bày tỏ bằng lời nói có hiểu biết); nhìn 
NN
của trẻ ở cả 
hai phương diện cấu trúc (
NN
được tạo bởi các đơn vị ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, 
ngữ dụng) và chỉnh thể (thể hiện trong đơn vị giao tiếp). Đồng thời bà cũng khẳng 
định rằng PTNN cho trẻ là 
PT
từng mặt các đơn vị 
NN
nhưng lại phải đạt đến sự tích 
hợp các thành tố đó trong một đơn vị giao tiếp chỉnh thể là ngôn bản, lời nói mạch lạc 
mà nó biểu hiện ở hai dạng là đối thoại và độc thoại. 
Năm 2009, có một cuốn sách nữa chỉ nói về 
NN
của trẻ là The Cambridge 
Handbook of Child Language. Trong tác phẩm này, Bavin Edith L. tuyển chọn các bài 
viết riêng lẻ nói về sự thụ đắc 
NN
, sự PTNN ban đầu ở trẻ từ giai đoạn tiền 
NN
(sự 
nhận thức lời nói, từ điệu bộ đến lời nói) cho đến các bài viết về ngữ âm, từ vựng, cú 
pháp của trẻ (các âm tiết, hình vị, từ ngữ trong thơ ca; cấu trúc của động từ; các phạm 
trù ngữ pháp; sự thụ đắc các câu phức tạp đầu tiên; các phạm vi của câu; sự 
PT
của 
câu; những điểm chung giữa hình thái học và cú pháp học) rồi ngữ nghĩa, ngữ dụng, 
diễn ngôn của trẻ (các phạm trù ngữ nghĩa; sự 
PT
về ngữ dụng học; sự PTNN trong 
các ngữ cảnh tường thuật) và các sự 
PT
khác (song ngữ; sự thụ đắc 
NN
kí hiệu; trẻ em 
và sự chậm 
PT
về 
NN
- triệu chứng và nguồn gốc; 
NN
của trẻ em tự kỷ; sự pha tạp 
NN
). 
Sự thụ đắc 
NN
tiếp tục được đề cập đến trong Child Language Acquisition: 
Contrasting Theorical Approach (2011). Ambridge Ben & Lieven Elena V. M. đã 
trình bày về các phạm vi cốt lõi của những nghiên cứu về sự thụ đắc 
NN
ở trẻ em như 
sự nhận thức, phân đoạn, sản sinh lời nói; cách trẻ học nghĩa của từ (sự tiếp cận về 
nguồn gốc, ngữ dụng, liên đới; sự thụ đắc các từ cơ bản; các từ không đúng qui tắc); 
các câu đơn giản (sự thụ đắc về ngữ pháp, các phạm trù cú pháp, sự 
PT
đầu tiên về cú 
pháp, sự giảm dần các lỗi) đến các câu phức tạp (câu bị động, câu hỏi, câu đa mệnh 
đề). 
Gần đây nhất, Phùng Quán (2012) trong phương án 0 tuổi: phát triển ngôn ngữ 
từ trong nôi (dành cho trẻ 0 - 6 tuổi) đã dành các bài viết lẻ nói về ý nghĩa của việc 
biết chữ, biết đọc sớm (
PT
khả năng chú ý, rèn luyện khả năng quan sát, bồi dưỡng trí 
nhớ, 
PT
tư duy và khả năng tưởng tượng, vun đắp tính cách tốt đẹp và bồi dưỡng niềm 



yêu thích đọc sách); cho trẻ học chữ trong môi trường 
NN
(nghe nhiều, nhìn nhiều, 
học chữ qua trò chơi, qua việc đọc); nhận thức đặc thù của trẻ (hình thành sự nhạy 
cảm, nhận biết sự vật, ghi nhớ ấn tượng, lĩnh hội trong hoàn cảnh, mô phỏng vô thức, 
khám phá không chọn lọc); khơi dạy lòng tự tin, tính chủ động, 
PT
tính hiếu kì, ham 
học hỏi ở trẻ. 
Như vậy, chúng ta có thể thấy, các tác phẩm trên phần lớn hoặc là nói đến sự 
PTNN ở trẻ tuổi mầm non chiếm phần nhiều (Petrovski A. V., Ka-Hai-Nơ-Dích, 
Godwin Diane & Perkins Margaret, Peccei Jean Stilwell, Beverly Otto, Bavin Edith L., 
Ambridge Ben & Lieven Elena V. M., Phùng Quán) hoặc là nói đến sự 
PT
giáo dục, 
tâm lý, nhận thức và có đề cập đến vấn đề PTNN ở trẻ em nói chung (Michael Stubbs, 
Hetherington E. Mavis & Paker Ross D., Elliot Stephen N., Will Thomas R. Kratoch, 
Cook Joan Littlefield, Travers John F., Meece Judith L., Oates John & Grayso 
Andrew) chứ chưa có tác giả nào quan tâm chuyên nhất đến sự PTNN của trẻ em ở độ 
tuổi TH. Tuy vậy, kết quả của những nghiên cứu trên là những tiền đề, cơ sở quan 
trọng cho việc nghiên cứu sự PTNN của HSTH.
2.2. Cũng như xu hướng của thế giới, ở Việt Nam, vấn đề 
NN
của trẻ em ở lứa 
tuổi mẫu giáo nhận được nhiều sự quan tâm hơn so với lứa tuổi HSTH. Các tác giả nói 
đến sự PTNN của trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo như Nguyễn Quang Ninh (1998) với 
Tiếng Việt và phát triển lời nói cho trẻ em, Nguyễn Huy Cẩn (2001) với Từ hoạt động 
đến ngôn ngữ trẻ emViện khoa học giáo dục (2001) với Một số đặc điểm phát triển 
của trẻ em từ 0 - 6 tuổi và mục tiêu nội dung chăm sóc – giáo dục trẻ ở lứa tuổi mầm 
non, Nguyễn Xuân Khoa (2004) với Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu 
giáo, Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Phạm Kim Đức (2005) với Phương pháp 
phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, Nguyễn Thị Thanh Hương (2006) với Tuyển 
tập các bài viết về giáo dục mầm non (tập 3), Nguyễn Thị Phương Nga (2006) với 
Giáo trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non; Lê Thị Hương (2007) với Tổ chức 
hoạt động ngôn ngữ cho trẻ mầm non theo hướng tích hợp, Bùi Kim Tuyến (2011) với 
Các hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non, Đinh Hồng Thái (2011) với 
Giáo trình phát triển ngôn ngữ tuổi mầm non chủ yếu nói về vai trò và vị trí của 
NN



đối với sự 
PT
của trẻ, các giai đoạn PTNN của trẻ (tiền 
NN
từ 0 - 1 tuổi, 
NN
từ 1 - 6 
tuổi); đặc điểm 
NN
của từng giai đoạn, từ những âm bập bẹ cho đến việc hoàn thiện 
dần việc phát âm, từ những từ đầu tiên cho đến việc 
PT
vốn từ, từ những câu đơn giản 
cho đến những câu phức tạp; các PP PTNN cho trẻ (rèn ngữ âm, mở rộng vốn từ vựng, 
dạy nói đúng ngữ pháp…). 
Ngược lại với lứa tuổi mầm non, gần như không có một tác phẩm nào chuyên 
biệt nói về việc 
PTNN
cho HS ở độ tuổi TH. 
NN
của HSTH thường chỉ được nói đến 
trong các tác phẩm về tâm lý học 
PT
, tâm lý học lứa tuổi hay vấn đề giáo dục TH. Có 
thể kể ra đây một số tác phẩm về tâm lý có nói đến 
NN
của HSTH như Một số đặc 
điểm sinh lí và tâm lí của học sinh tiểu học ngày nay của Viện khoa học giáo dục 
(2001) đã công bố những kết quả nghiên cứu về sự 
PT
sinh lý của HSTH (sự 
PT
hình 
thái thể lực; sự biến đổi các chức năng sinh tâm lý trong hoạt động học tập; những kết 
quả nghiên cứu về sự 
PT
tâm lý của HSTH; sự 
PT
về trí tuệ…) trong đó có nói đến 
vấn đề giao tiếp ở HSTH như vai trò, ảnh hưởng to lớn, nhu cầu của giao tiếp (nhu cầu 
thông tin, trao đổi tình cảm, thiết lập mối quan hệ), nội dung giao tiếp (đa dạng, phong 
phú: học tập, gia đình, trường lớp…), đối tượng và phạm vi giao tiếp (cha mẹ, bạn học, 
anh chị em, giáo viên…). 

tải về 3.3 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   56




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương