Nguyễn Anh Tuyến



tải về 3.3 Mb.
Chế độ xem pdf
trang14/56
Chuyển đổi dữ liệu12.01.2023
Kích3.3 Mb.
#185616
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   56
123doc-su-phat-trien-ngon-ngu-cua-hoc-sinh-tieu-hoc-tren-cu-lieu-cac-bai-viet-cua-hoc-sinh-lop-2-3-4-5
PP thống kê ngôn ngữ học: để xử lý các nguồn dữ liệu (các bài viết đã thu thập 
được, các kết quả của các phiếu trắc nghiệm) nhằm tìm ra thực trạng sử dụng và sự 
PTNN của HS thông qua các tỉ lệ được rút ra (tỉ lệ giữa câu đơn - câu phức, tỉ lệ sai 
chính tả (thanh điệu, âm đầu, vần)… trong các bài viết; tỉ lệ làm đúng phần chính tả, 
phần chọn từ ngữ điền vào chỗ trống thích hợp, phần tìm từ đồng nghĩa, trái nghĩa….; 
tỉ lệ 
PT
theo hướng tích cực – giảm sai sót, tăng chính xác sau mỗi bài…). "Chỉ có 
trên cơ sở thống kê mới có thể biết được một cách cụ thể nhiều hay ít là như thế nào 
(...) Các đơn vị trong hệ thống NN thể hiện rất khác nhau trong sự hoạt động NN. Và 
cùng một đơn vị nhưng ở các phong cách cụ thể, ở các địa phương cụ thể và ở các cá 
nhân cụ thể cũng khác nhau. Do đó cần dùng phương pháp thống kê để nghiên cứu NN 
cũng như sự hoạt động NN" [10: 13]. 
"Có thể nói rằng, tần số của hiện tượng NN phản ánh đặc điểm chức năng của 
hiện tượng đó. Nếu thực hiện thống kê với một số lần đủ lớn theo đúng yêu cầu và 
được khảo sát vào khoảng thời gian gần với lúc HS thi. Nhưng vì không có điều kiện khảo sát các phiếu trắc 
nghiệm ở học kì một, và các bài kiểm tra của học kì 2 tương đối gần nhau (tháng 3 và tháng 5) nên thay vì soạn 
hai phiếu trắc nghiệm có độ khó tương đương, chúng tôi đã soạn ra hai phiếu trắc nghiệm với độ khó khác nhau 
nhằm khảo sát xem thực trạng sử dụng ngôn ngữ của các em ra sao, kết quả của các em đạt được có khác nhiều 
so với những gì chúng tôi đã khảo sát qua bài viết của các em hay không (ví dụ như kết quả khảo sát đạt được 
giữa các bài thi và phiếu trắc nghiệm không quá giống nhau, trong các bài thi, các em không mắc một lỗi sai l/n 
nào nhưng trong phiếu trắc nghiệm thì lại khác). Phần này sẽ được nói rõ hơn trong phần nội dung, nhất là phần 
chính tả và từ vựng - ngữ nghĩa. Thêm nữa, khi ra hai đề với độ khó khác nhau, chúng tôi muốn chứng minh 
rằng, lỗi chính tả mà HS mắc phải chủ yếu dựa trên đề bài mà giáo viên ra, tùy từng đề mà HS mắc ít hay nhiều 
lỗi chính tả. Và điều này được chứng minh qua kết quả của hai bài khảo sát khi đề trắc nghiệm khó hơn (đưa ra 
các từ các em ít gặp/nghe hơn), các em sẽ sai nhiều hơn (mặc dù là đề sau – các em có khoảng thời gian 2 tháng 
để tăng vốn NN của mình), nhưng cùng một kiểu đề bài (ở đề tập làm văn, hai đề chúng tôi ra đều là đề mở, một 
đề yêu cầu tả một món quà sinh nhật, đề kia tả một cây ở trường) thì rõ ràng đề sau các em làm tốt hơn, tức là 
đối với HSTH, không cứ lớp cao hơn, HS sẽ mắc ít lỗi hơn. Xin xem thêm phần nhận xét, miêu tả về kết quả của 
các bài khảo sát ở chương II. 


14 
phương pháp bộ môn thì từng đặc trưng số lượng của một dạng thức sẽ đi tới đặc trưng 
chất lượng của nó" [10: 15]. 
6. Nhiệm vụ 
Đề tài đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể như sau: 

Tìm được đặc điểm 
NN
của HSTH thông qua việc phân tích, miêu tả các bài 
viết của HS học tại Trường TH LCT ở thành phố Hồ Chí Minh. 

Tìm được sự thay đổi, 
PT
về 
NN
của HSTH theo thời gian. 

Kiến nghị, đề xuất một số biện pháp nhằm PTNN cho HS ở Trường TH LCT 
nói riêng, HSTH nói chung. 
7. Đóng góp 
7.1. Về lý luận, luận văn đóng góp thêm những miêu tả về đặc điểm, sự 
PT
các 
phương diện 
NN
của HSTH. 
7.2. Về thực tiễn, luận văn góp phần đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm 
PT
năng lực sử dụng 
NN
cho HSTH. 

tải về 3.3 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   10   11   12   13   14   15   16   17   ...   56




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương