Nghiên cứu một số chỉ SỐ thể LỰc của học sinh từ 8-15 tuổI Ở TỈnh bình dưƠng nguyễn Thị Thu Hiền



tải về 69.4 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu15.11.2017
Kích69.4 Kb.
#1812

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ THỂ LỰC CỦA HỌC SINH TỪ 8-15 TUỔI

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Nguyễn Thị Thu Hiền

Trường Đại học Thủ Dầu Một

Tóm tắt

Nghiên cứu các chỉ số thể lực của 2149 học sinh từ 8-15 tuổi ở tỉnh Bình Dương cho thấy: Các chỉ số thể lực của học sinh tăng liên tục từ 8 đến 15 tuổi nhưng tốc độ tăng không đều giữa các độ tuổi và giới tính. Chiều cao, cân nặng của học sinh tăng nhanh nhất ở giai đoạn 11-13 tuổi. Mức tăng chiều cao trung bình ở giai đoạn này là 0,06 m/năm đối với nam và 0,05 m/năm đối với nữ. Tốc độ tăng khối lượng trung bình 3,24 kg/năm ở nam và 2,85 kg/năm ở nữ. Chỉ số BMI cho thấy: Trong nhóm nghiên cứu tỉ tệ học sinh có thể trạng suy dinh dưỡng chiếm tỉ lệ khá cao: 12,03% đối với nam và 11,27% đối với nữ . Tỉ lệ học sinh thừa cân và béo phì đáng báo động: Ở nam có tỉ lệ béo là 15,8%, béo phì là 11,36%; Ở nữ có tỉ lệ béo là 15,69% và tỉ lệ béo phì là 7,7%.



Từ khóa: chỉ số thể lực, học sinh, cân nặng, chiều cao, chỉ số pignet, chỉ số BMI.

1. Đặt vấn đề

Cải thiện sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em là mục tiêu quan trọng của tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam. Do đó, các chỉ số sinh học cần phải nghiên cứu định kì ở từng thập kỉ và ở từng vùng miền để đánh giá sự phát triển về thể chất của thế hệ tương lai trước sự phát triển liên tục của đất nước và sự thay đổi kinh tế của từng địa phương. Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về các chỉ số hình thái ở người và các chỉ số thể lực của học sinh – sinh viên. Kết quả nghiên cứu đều xác định được sự thay đổi của các chỉ số theo lứa tuổi, vùng miền và mang đặc điểm giới tính [1], [2], [3], [4], [5]. Có sự khác biệt về các chỉ số thể lực giữa nam và nữ, giữa trẻ em thành thị và nông thôn [5], [6], [7]. Để đánh giá được thực trạng về một số chỉ số thể lực của học sinh từ 8-15 tuổi ở tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các chỉ số thể lực: chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực, chỉ số Pignet và chỉ số BMI.



2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các chỉ số thể lực của học sinh có độ tuổi từ 8-15.

Khách thể nghiên cứu là học sinh từ 8-15 tuổi ở các trường tiểu học và trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Tổng số học sinh trong nghiên cứu là 2149.



2.2. Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên: các trường được chia ra theo khu vực: thành thị và nông thôn, chọn ngẫu nhiên 3 trường tiểu học và 3 trường THCS cho mỗi vùng; ở từng trường chọn ngẫu nhiên 2 lớp ở mỗi khối để tiến hành đo các chỉ số thể lực.


  • Phương pháp nghiên cứu các chỉ số thể lực

Các chỉ số thể lực: Chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực được xác định theo các phương pháp đã chuẩn hóa hiện hành.

Chỉ số BMI được tính theo công thức: BMI = Cân nặng (kg) / (Chiều cao (m))2.

Đánh giá chỉ số BMI theo chuẩn CDC dành cho trẻ em từ 2-20 tuổi.

Chỉ số Pignet được tính theo công thức: Pignet = Chiều cao (cm) – [Cân nặng (kg) + Vòng ngực (cm)].



  • Phương pháp xử lí số liệu

Từ các số liệu thu được, tiến hành tính các tham số thống kê cơ bản trong y sinh. Các tính toán được xử lí bằng phần mềm hệ chương trình Excel 2013.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Chiều cao của học sinh theo tuổi và giới tính

Kết quả nghiên cứu về chiều cao của học sinh theo tuổi, giới tính được trình bày ở bảng 1.



Bảng 1. Chiều cao đứng (m) của học sinh theo tuổi, giới tính

Qua bảng 1 cho thấy, chiều cao đứng của học sinh tăng dần theo tuổi. Ở nam tăng từ 1,24m lúc 8 tuổi lên 1,62m lúc 15 tuổi, mức tăng chiều cao trung bình ở giai đoạn này là 0,06m/năm. Học sinh nam tăng trưởng chiều cao nhanh nhất ở giai đoạn 12-13 tuổi, đây chính là tuổi dậy thì phổ biến ở nam hiện nay. Đối với nữ, chiều cao tăng từ 1,23 m lúc 8 tuổi lên 1,56 m lúc 15 tuổi, mức tăng trung bình ở giai đoạn này là 0,05m/năm và tăng vượt trội ở giai đoạn 10-11 tuổi. Ở các độ tuổi từ 8-9 tuổi và 12-15 tuổi, chiều cao của nam đều cao hơn nữ, chênh lệch từ 0,01 m (p>0,05) đến 0,06 m (p<0,05). Tuy nhiên ở giai đoạn 10-11 tuổi thì chiều cao trung bình của nữ hơn của nam 0,03m (p<0,05). Điều này cho thấy tuổi dậy thì của nữ chủ yếu ở độ tuổi 10-11 (sớm hơn nam 1-2 năm). Giai đoạn 12-15 tuổi chiều cao của học sinh nam tăng nhiều hơn chiều cao học sinh nữ, kết quả này phù hợp với nhận xét về quy luật tăng trưởng chiều cao của học sinh trong độ tuổi này của các nghiên cứu khác [4], [5], [6], [7]. Tuy nhiên, so với kết quả nghiên cứu của một số tác giả: Tạ Thúy Lan (1998), Võ Thị Hồng Phượng (2008), Trần Thị Loan (2012) cho thấy học sinh ở Bình Dương có chiều cao trung bình vượt trội so với học sinh ở cùng độ tuổi ở một số địa phương vào các thời điểm nghiên cứu khác.



3.2. Cân nặng của học sinh theo tuổi và giới tính

Kết quả nghiên cứu cân nặng của học sinh theo tuổi và giới tính (bảng 2) cho thấy: từ 8 đến 15 tuổi cân nặng của học sinh tăng dần, tốc độ tăng trưởng khối lượng trung bình 3,24 kg/năm ở nam và 2,85 kg/năm ở nữ. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng không đều ở các độ tuổi, giữa nam và nữ. Cân nặng của nam có xu hướng tăng mạnh ở giai đoạn 11-13 tuổi, nữ tăng khối lượng nhanh nhất ở giai đoạn 10-11 tuổi (3,63 đến 4 kg/năm) và lúc 14 tuổi (4,54 kg/năm).



Bảng 2. Cân nặng (kg) của học sinh theo tuổi, giới tính

Nhìn chung, cân nặng trung bình của học sinh nam ở các độ tuổi đều cao hơn của học sinh nữ, chênh lệch từ 0,52 kg đến 5,94 kg tùy độ tuổi. So với các kết quả nghiên cứu khác của các tác giả Tạ Thúy Lan (1998), Võ Thị Hồng Phượng (2008), Trần Thị Loan (2012), cân nặng trung bình của học sinh từ 8-15 tuổi ở tỉnh Bình Dương cao hơn so với học sinh cùng độ tuổi ở một số địa phương khác.


3.3. Vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính


Kết quả nghiên cứu vòng ngực trung bình của học sinh theo tuổi và giới tính được trình bày trong bảng 3.
Bảng 3. Vòng ngực trung bình (cm) của học sinh theo tuổi, giới tính

Qua bảng 3 cho thấy: vòng ngực trung bình của học sinh tăng không đều theo tuổi. Đối với học sinh nam, vòng ngực trung bình tăng từ 65,74 cm ở 8 tuổi lên 79,82 cm ở tuổi 15 với mức tăng trung bình là 2,01 cm/năm. Đối với học sinh nữ, vòng ngực trung bình tăng từ 62,83 cm ở tuổi 8 lên 79,47 cm ở tuổi 15 với mức tăng trung bình là 2,23 cm/năm.

Từ 8 đến 15 tuổi vòng ngực trung bình của học sinh nam tăng liên tục và tăng nhanh nhất ở giai đoạn 13 đến 15 tuổi. Ở học sinh nữ có tốc độ tăng không đều và tăng nhảy vọt ở giai đoạn 11 đến 12 tuổi. Như vậy, vòng ngực của nữ tăng nhanh ở độ tuổi sớm hơn ở nam và điều này cũng phù hợp với quy luật là nữ dậy thì sớm hơn nam.

Nhìn chung vòng ngực trung bình của học sinh nam cao hơn của học sinh nữ ở giai đoạn 8-10 tuổi. Mức chênh lệch trung bình xấp xỉ 3 cm (2,91-3,06 cm). Đến 11 tuổi thì sự sai khác rất ít 0,16 cm, không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Ở giai đoạn sau (12-14 tuổi), vòng ngực trung bình của nữ có xu hướng cao hơn nam. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vòng ngực trung bình học sinh ở tỉnh Bình Dương có trị số lớn hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác như Võ Thị Hồng Phượng (2008), Trần Thị Loan (2012).



3.4. Chỉ số Pignet của học sinh

Kết quả nghiên cứu chỉ số Pignet được trình bày ở bảng 4 cho thấy: chỉ số Pignet của học sinh biến đổi theo quy luật chung giảm dần theo tuổi (thể lực ngày càng tăng dần). Tuy nhiên chỉ số Pignet của nam có sự thay đổi: giảm ở giai đoạn đầu, tăng ở giai đoạn 12-14 tuổi, chứng tỏ ở lứa tuổi này có sự tăng vọt về chiều cao nhưng vòng ngực chỉ tăng ở mức trung bình. Cụ thể, chỉ số Pignet tăng từ 31,78 lúc 8 tuổi lên 32,20 lúc 10 tuổi và giảm xuống còn 29,79 ở 11 tuổi, sau đó tăng từ 32,58 lúc 12 tuổi lên 33,5 ở 14 tuổi, mức giảm trung bình hàng năm từ 8-15 tuổi là 0,18. Điều này cho thấy sự phát triển thể lực ở giai đoạn này của nam chưa đạt như mong đợi.

Học sinh nữ có chỉ số Pignet tăng từ 32,71 lúc 8 tuổi lên 37,40 lúc 10 tuổi và sau đó giảm dần, mức giảm trung bình hàng năm là 0,37. Ở cùng một lứa tuổi, chỉ số Pignet của học sinh nam và của học sinh nữ không giống nhau, chỉ số Pignet của nam có xu hướng thấp hơn của nữ ở nhiều độ tuổi mức chênh lệch có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Bảng 4. Chỉ số Pignet của học sinh

Nhìn chung, chỉ số Pignet của học sinh ở các độ tuổi đều có thể lực khỏe (24 < chỉ số pignet < 35); riêng nữ giai đoạn 10-11 tuổi có thể lực trung bình (35 < chỉ số pignet < 41), có thể do giai đoạn này ở nữ xảy ra hiện tượng dậy thì nên có sự tăng vọt về chiều cao, trong khi đó cân nặng và vòng ngực chưa tăng tương xứng.


3.5. Chỉ số BMI của học sinh


Bảng 5. Chỉ số BMI (kg/m2) của học sinh theo tuổi và giới tính
Kết quả nghiên cứu chỉ số BMI của học sinh theo tuổi và giới tính được trình bày trong bảng 5 cho thấy: chỉ số BMI của học sinh từ 8 – 15 tuổi có sự chênh lệch giữa nam và nữ. Ở học sinh nữ, chỉ số BMI của học sinh có xu hướng tăng dần, trung bình 0,32 kg/m2/năm. Ở học sinh nam, ở giai đoạn 8-9, 11-13 và 14-15 tuổi BMI có xu hướng tăng, tuy nhiên ở giai đoạn 9-10 và 13-14 tuổi lại có xu hướng chậm lại (-0.06 và -0,42 kg/m2). Chỉ số BMI của học sinh nam tăng vượt ở 12 tuổi nữ tăng vượt ở giai đoạn 14 tuổi.

Đối chiếu với bảng BMI của CDC chuẩn dành cho trẻ em từ 2-20 tuổi, kết quả phân bố học sinh theo thể trạng (bảng 6) cho thấy: Tỉ tệ học sinh có thể trạng suy dinh dưỡng ở cả 2 khu vực chiếm tỉ lệ đáng quan tâm: Khu vực nông thôn: ở nam dao động từ 3,3% (nam- 9 tuổi, thành thị) đến 22,37% (nam- 13 tuổi, nông thôn), ở nữ là 5,66 (nữ- 9 tuổi, thành thị) đến 23,64% (nữ- 12 tuổi, nông thôn). Tỉ lệ suy dinh dưỡng chung cho cả 2 khu vực là 12,03% đối với nam và 11,27% đối với nữ.



Bảng 6. Phân bố BMI của học sinh theo thể trạng

Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở cả nam và nữ của cả 2 khu vực có tỉ lệ cao ở giai đoạn 12-15 tuổi. Đây là lứa tuổi dậy thì nên cần phải có sự quan tâm hơn về chế độ dinh dưỡng và chế độ sinh hoạt.

Nhìn chung ở cả nam và nữ thì học sinh ở nông thôn có thể trạng gầy chiếm tỉ lệ cao hơn ở khu vực thành thị, ngược lại tỉ lệ học sinh có thể trạng thừa cân, béo phì ở khu vực thành thị lại có xu hướng cao hơn, sự chênh lệch rõ rệt ở giai đoạn 8-11 tuổi. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác [3], [4], [6], [7].

Như vậy, qua sự phân bố thể trạng của học sinh theo chỉ số BMI cho thấy ở tỉnh Bình Dương có tỉ lệ học sinh béo phì thấp hơn tỉ lệ này ở thành phố Hồ Chí Minh (21,1%) và tỉ lệ học sinh suy dinh dưỡng cao hơn tỉ lệ này ở thành phố Hồ Chí Minh (3,5%) [8]. Tuy nhiên so với các nghiên cứu khác thì ở Bình Dương tỉ lệ này khá cao và đáng báo động: Ở học sinh nam có tỉ lệ béo là 15,8%, béo phì là 11,36%; Ở học sinh nữ có tỉ lệ béo là 15,69% và tỉ lệ béo phì là 7,7%.



Kết luận

Qua kết quả nghiên cứu chỉ số thể lực của 2149 học sinh từ 8 – 15 tuổi tại một số trường Tiểu học và THCS ở tỉnh Bình Dương, chúng tôi rút ra kết luận:

- Chiều cao đứng, cân nặng, vòng ngực trung bình của học sinh tăng theo lứa tuổi nhưng tốc độ tăng không đều và có sự khác nhau theo giới tính:

Chiều cao đứng: Ở nam tăng từ 1,24 m lúc 8 tuổi lên 1,62m lúc 15 tuổi, mức tăng chiều cao trung bình ở giai đoạn này là 0,06m/năm, tăng vượt trội ở 12-13 tuổi. Đối với nữ, chiều cao tăng từ 1,23 lúc 8 tuổi lên 1,56 lúc 15 tuổi, mức tăng trung bình ở giai đoạn này là 0,05m/năm, tăng nhanh nhất ở giai đoạn 10-11 tuổi.

Cân nặng trung bình : tốc độ tăng trưởng khối lượng trung bình 3,24 kg/năm ở nam và 2,85 kg/năm ở nữ. Cân nặng của nam có xu hướng tăng mạnh ở giai đoạn 11-13 tuổi, nữ tăng khối lượng nhanh nhất ở giai đoạn 10-12 tuổi.

Vòng ngực trung bình: Đối với học sinh nam tăng trung bình 2,01 cm/năm và tăng nhanh nhất ở giai đoạn 13 đến 15 tuổi. Đối với học sinh nữ, vòng ngực trung bình tăng từ tăng trung bình là 2,23 cm/năm và tăng nhanh nhất ở giai đoạn 11 đến 12 tuổi.

- Chỉ số Pignet của học sinh nam và nữ ở các độ tuổi đều có thể lực khỏe (24 < chỉ số pignet < 35) và thể lực trung bình (35 < chỉ số pignet < 41).

- Chỉ số BMI: Tỉ tệ học sinh có thể trạng suy dinh dưỡng chiếm tỉ lệ khá cao: 12,03% đối với nam và 11,27% đối với nữ . Tỉ lệ học sinh thừa cân và béo phì đáng báo động: Ở nam có tỉ lệ béo là 15,8%, béo phì là 11,36%; Ở nữ có tỉ lệ béo là 15,69% và tỉ lệ béo phì là 7,7%.
Lời cảm ơn: Công trình được hoàn thành với kinh phí của đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu hiện tượng tăng tốc sinh học của trẻ em từ 8-15 tuổi ở một số trường Tiểu học và Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Bình Dương" của Trường Đại học Thủ Dầu Một.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Trần Văn Dần và cs (1997). Một số nhận xét về phát triển thể lực của học sinh lứa tuổi 8 đến 14 tuổi trên một số vùng dân cư miền Bắc Việt Nam trong thập kỷ 90. Bàn về đặc điểm tăng trưởng của người Việt Nam. Đề tài KX 07-07, Hà Nội.

[2] Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs (1996), Một số nhận xét về phát triển chiều cao, vòng đầu, vòng ngực của người Việt Nam từ 1-55 tuổi, Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội, tr. 26-29.

[3]. Nguyễn Thị Thu Hiền (2015), Nghiên cứu thể lực của học sinh tiểu học ở thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương. Tạp chí Đại học Thủ Dầu Một, số 5(24), tr43-50.

[4] Tạ Thúy Lan, Đàm Phượng Sào (1998), Sự phát triển thể lực của học sinh một số trường tiểu học và trung học cơ sở ở tỉnh Hà Tây. Thông báo khoa học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

[5] Trần Thị Loan, Nguyễn Bá Hùng (2012), Nghiên cứu thể lực của học sinh từ 12-18 tuổi dân tộc Kinh và Sán dìu ở tỉnh Vĩnh Phúc. Báo cáo Khoa học về nghiên cứu và giảng dạy Sinh học ở Việt Nam, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tr 155-162.

[6] Trần Thị Loan, Lê Thị Tám (2012), Nghiên cứu một số chỉ số thể lực của học sinh từ 12-18 tuổi ở huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, Báo cáo Khoa học về nghiên cứu và giảng dạy Sinh học ở Việt Nam, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. tr147-154.

[7] Võ Thị Hồng Phượng (2008), Nghiên cứu các chỉ số hình thái, sinh lý và khả năng hoạt động trí tuệ của học sinh THCS tỉnh Bình Định. Luận văn Thạc sĩ sinh học, Đại học Quy Nhơn.

[8] Trung tâm dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh (2014), Dinh dưỡng trẻ em: Tiếp cận từ cộng đồng, trường học và bệnh viện”, Hội nghị dinh dưỡng thành phố Hồ Chí Minh mở rộng lần thứ 3.


RESEARCH ON GENERAL SCHOOL STUDENTS’ PHYSICAL ATTRIBUTES

FROM 8 TO 15 YEARS OLD IN BINH DUONG PROVINCE



Nguyen Thi Thu Hien

Thu Dau Mot University

ABSTRACT


The research was conducted on 2149 students at the age from 8 to 15 years old in Binh Duong province. The results showed that physical attributes of students increased continuously from 8 to 15 years old but the growth was uneven depending on age and sex. The increase in the average height at this stage was 0,06 m/year in boys and 0,05 m/year in girls. The growth rate of average weight was 3,24 kg/year in boys and 2,85 kg/year in girls. Height and weight of students got the fastest growth between the age of 11 and 13. In the surveyed group, BMI showed that the rates of underweight students was high: 12,3% (in boys) and 11,27% (in girls). Percentage of students who were overweight and obese was alarming: in boys: 15,8% (overweight), 11,36% (obese); in girls: 15,69% (overweight) and 7,7% (obese).

Keywords: health index, students, weight, height, Pignet, BMI.
Каталог: app -> webroot -> files -> hoithao
hoithao -> Jatropha curcas L. TẠi thừa thiên huế
hoithao -> Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc cơ bản
hoithao -> Ảnh hưỞng của môi trưỜng nuôi cấy không sử DỤng chấT ĐIỀu hòa sinh trưỜng lên khả NĂng tăng sinh khối và XÁC ĐỊnh dư LƯỢng nitrat, kim loại nặng có trong mẫu cây lan gấM
hoithao -> Thực trạng kiến thức, thái độ, hành VI về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
hoithao -> Metfformin – Tác nhân kích thích sự di chuyển và phản ứng acrosome của tinh trùng gà
hoithao -> Piv-chương 1 Lịch Triều Lược Kỷ (1528 1802)
hoithao -> Lê Thị Hương1,*, Trần Thị Thúy Nga
hoithao -> Bùi Thu Hà1, La Thị Mai Loan
hoithao -> Nguyễn Thị Hồng Hạnh1, Bùi Thị Nhung*2, Trần Quang Bình3, Lê Thị Hợp2

tải về 69.4 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương