Nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc cơ bản



tải về 181.5 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu15.11.2017
Kích181.5 Kb.
#1806



Nghiên cứu một số đặc điểm nhân trắc cơ bản của học sinh Trung học phổ thông

Mai Văn Hưng1 - Vũ Thị Thu Minh - Đào Ngọc Minh Anh

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tóm tắt

Các chỉ số nhân trắc đóng một vai trò quan trọng trong số các chỉ số phản ánh tình trạng sức khoẻ con người. Chúng cho thấy trạng thái hoạt động của cơ thể trong mối quan hệ giữa hoạt động sinh lý với các yếu tố của môi trường sinh thái. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số hình thể của người trưởng thành Việt Nam sống ở các vùng sinh thái khác nhau có những đặc điểm khác nhau, người thuộc các dân tộc khác nhau cũng có những đặc trưng riêng về các chỉ số nhân trắc cơ bản. Điều này chứng tỏ hình thái con người Việt Nam chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủng tộc, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội. Kết quả nghiên cứu đã mang lại phổ thông tin về nhân trắc khá đa dạng phục vụ cho chiến lược phát triển con người ở mỗi vùng sinh thái cũng như của toàn quốc nhằm phục vụ tốt cho chiến lược phát triển con người của nhà nước ta cho đến năm 2020.

Từ khóa: nhân trắc, chỉ số, sinh thái, học sinh, hình thái
1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhân trắc học là môn khoa học cổ điển ra đời từ rất sớm trong lịch sử hình thành xã hội loài người và đang ngày càng phát triển. Nghiên cứu hình thái - thể lực của con người được xem như một bộ phận của sinh học cơ thể, nó cũng có lịch sử tồn tại và phát triển hết sức phong phú thể hiện trên nhiều lĩnh vực như sự tăng trưởng, phát triển, đặc trưng theo chủng tộc, giới tính ...

Nhân trắc học con người Việt Nam được nghiên cứu lần đầu tiên vào năm 1875 do Mondiere thực hiện trên trẻ em. Vào những năm 30 của thế kỷ 20 tại Viện Viễn Đông Bác cổ, sau đó là tại trường Đại học Y khoa Đông Dương (1936 - 1944) đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tác phẩm "Những đặc điểm nhân chủng và sinh học của người Đông Dương " của P. Huard, A. Bigot và "Hình thái học Người và giải phẫu thẩm mỹ học " của P. Huard và Đỗ Xuân Hợp, Đỗ Xuân Hợp được xem là những công trình đầu tiên nghiên cứu về hình thái người Việt Nam. Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng các tác phẩm này đã nêu được các đặc điểm nhân trắc của ngưòi Việt Nam đương thời.

Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu nhân trắc học đã được đẩy mạnh và chuyên môn hóa, thể hiện qua việc thành lập bộ môn hình thái học ở một số trường đại học và viện nghiên cứu. Trường Đại học Y Hà Nội đã có những nguyên cứu điều tra về các chỉ số sinh lý con người Việt Nam trên phạm vi toàn quốc thực hiện trong các năm thập kỷ 70 và 90 thế kỷ 20. Qua các công trình này có thể thấy, tầm vóc và thể lực người Việt Nam nhỏ hơn so với các dân tộc Âu, Mỹ. Đa số các kích thước về tầm vóc - thể lực của nam lớn hơn của nữ. Các kích thước này tăng dần theo tuổi, đạt giá trị cao nhất ở lớp tuổi 26 - 40 (đối với nam) rồi sau đó giảm dần từ 41 đến 60 tuổi. Mức độ giảm mạnh thường thấy ở các lớp tuổi trên 60. Đối với nữ, tầm vóc thể lực cũng tăng dần, đạt đỉnh cao lúc 18 -25 tuổi. Từ 26 đến 40 tuổi các chỉ số thể lực ở nữ đã có xu hướng giảm và giảm rõ nhất ở lớp tuổi 41 - 55. Từ 56 tuổi trở đi các chỉ số thể lực của phụ nữ ngày càng giảm nhiều hơn.

Đặc biệt nghiên cứu tổng thể mới nhất về các chỉ số sinh học người Việt Nam thập kỷ 90 do GS.TSKH Lê Nam Trà cùng với các cộng sự đã cho ta cái nhìn mới nhất và cụ thể nhất về thực trạng hình thái - sinh lý người Việt Nam đương đại. Có thể coi đây là những thông số cập nhật nhất về các chỉ số sinh học của người Việt Nam hiện nay. Năm 2003 công trình “Các giá trị sinh học người Việt nam thập kỷ 90 thế kỷ 20” đã được hoàn thành và nó đã nhanh chóng trở thành cẩm nang của các nhà nhân chủng học Việt Nam. Tuy nhiên việc tìm hiểu các giá trị nhân trắc theo vùng sinh thái vẫn là một khoảng trống, trong khi đó ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên hình thái người là rất quan trong lại chưa được nhiều nghiên cứu đề cập đến một cách tổng thể và hệ thống.

Đến năm 2020, chiều cao trung bình của thanh niên sẽ từ 1,65m; tăng thêm 4cm so với hiện nay; còn tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi phải ít hơn 5% (hiện nay: 17,5%) và tuổi thọ trung bình là 75 (hiện nay: 73).  Đó là những chỉ số cơ bản đặt ra trong chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Chiến lược nâng cao chiều cao trong vòng 9 năm lên 4 cm có thể coi là một mục tiêu rất to lớn và không dễ thực hiện. Một nghiên cứu của Viện dinh dưỡng (2010) trên những người 16-60 tuổi cho thấy trong 30 năm 1976-2006, chiều cao ở nam tuổi từ 16-25 tăng 2.7 cm trên 10 năm.  Nói cách khác, cứ 10 năm thì chiều cao thanh niên Việt tăng 2.7 cm. Như vậy để thực hiện chiến lược này chúng ta cần những giải pháp đồng bộ và khoa học chính vì thế đề tài này mang tính thời sự cấp thiết hiện nay.

Để góp phần thực hiện thành công Chiến lược trên đây của Chính phủ, giúp các nhà hoạch định chiến lược có các thông tin về thực trạng đặc điểm nhân trắc người Việt Nam theo vùng sinh thái, đồng thời tìm hiểu các nguyên nhân ảnh hưởng đến các chỉ số này, qua đó xây dựng các giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng người Việt Nam trong tương lai.

Vì thế nghiên cứu này được thực hiện với mục đích tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố từ môi trường sinh thái đến các chỉ số nhân trắc. Đặc biệt nghiên cứu sự khác nhau về các chỉ số nhân trắc của người thuộc các vùng sinh thái khác nhau. Qua đó xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng con người Việt Nam nhằm góp phần thực hiện “ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC VIỆT NAM THỜI KỲ 2011-2020



2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các chỉ số nhân trắc được nghiên cứu bao gồm: chiều cao đứng, chiều cao ngồi, cân nặng, vòng ngực bình thường, vòng đầu, vòng cổ, vòng bụng qua eo, vòng mông, các chỉ số Pignet và BMI. Một số yếu tố sinh thái đặc trưng cho mỗi vùng bao gồm: Đặc điểm khí hậu, đất đai, phong tục tập quán dinh dưỡng. Khách thể nghiên cứu là học sinh trung học phổ thông (THPT) thuộc một số trường tại 3 tỉnh Điện Biên, Bắc Ninh và Hà Tĩnh đại diện cho 3 vùng sinh thái: Đông Bắc bộ, Tây Bắc bộ và Bắc Trung bộ.



Phương pháp nghiên cứu

- Quá trình nghiên cứu sử dụng phương pháp nhân trắc học của Martin để định lượng các đặc điểm nhân trắc theo lớp tuổi, giới tính và vùng sinh thái

- Sử dụng các bảng hỏi điều tra về những yếu tố liên quan đến các đặc điểm nhân trắc

- Sử dụng các phần mềm đồ hoạ vẽ đồ thị biểu diễn tương quan



- Sử dụng kỹ thuật tin học để xử lý các số liệu thô thu được
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Lãnh thổ Việt Nam bao gồm 6vùng sinh thái: Đông bắc bộ, Tây bắc bộ, Bắc trung bộ, Nam trung bộ, Tây nguyên và Nam bộ, mỗi vùng sinh thái có những đặc trưng về thổ nhưỡng, tiểu vùng khí hậu theo các vị trí địa lí khác nhau. Những điều kiện sinh thái tự nhiên kể trên kết hợp với các điều kiện xã hội đã ảnh hưởng đến các chỉ số nhân trắc lứa tuổi học sinh THPT như thế nào? Qua điều tra bước đầu đã cho thấy:

    1. Đặc điểm nhân trắc của học sinh nam lứa tuổi 16 ÷18 thuộc 3 vùng sinh thái

Nghiên cứu tại 3 vùng sinh thái thuộc khu vực phía bắc cho kết quả được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1. Các chỉ số nhân trắc học sinh nam THPT tại 3 vùng sinh thái phía Bắc Việt Nam

Đặc điểm

Đông bắc bộ

Tây bắc bộ

Bắc Trung bộ

n



n



n



Cao đứng

1500

164.71 ± 5.16

1400

162.13 ± 5.33

1550

163.79 ± 5.16

Cao ngồi

1500

87.29 ± 3.61

1400

85.26 ± 3.67

1550

86.34 ± 3.69

Cân nặng

1500

49.03 ± 5.19

1400

47.03 ± 5.28

1550

48.01 ± 5.08

Vòng đầu

1500

54.17 ± 1.44

1400

53.38 ± 1.12

1550

53.76 ± 1.98

Vòng cổ

1500

39.02 ± 1.69

1400

38.02 ± 1.19

1550

38.22 ± 1.64

Vòng ngực BT

1500

77.25 ± 3.82

1400

74.27 ± 2.89

1550

76.13 ± 3.24

Vòng bụng qua eo

1500

67.19 ± 4.46

1400

65.14 ± 4.78

1550

66.25 ± 4.98

Vòng mông

1500

87.16 ± 4.76

1400

83.15 ± 4.36

1550

85.46 ± 4.15

BMI

1500

18.11 ± 1.12

1400

18.25 ± 1.32

1550

18.01 ± 1.22

Chỉ số Pignet

1500

40.21 ± 7.19

1400

39.24 ± 6.28

1550

40.41 ± 7.43

Kết quả trong bảng 1 cho thấy, đặc điểm nhân trăc của học sinh lứa tuổi 16 ÷18 thuộc 3 vùng sinh thái có những khác biệt đáng kể, trong đó học sinh nam vùng Đông bắc bộ có thể hình tốt nhất tiếp đó là vùng Bắc trung bộ và thấp hơn cả là vùng Tây bắc bộ. Qua nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đã chỉ rõ, điều kiện sinh thái tự nhiên như tiểu vùng khí hậu miền Tây bắc khắc nghiệt nhất tiếp đó là Bắc trung bộ và thuận lợi hơn cả là Đông bắc bộ. Mặt khác vùng Đông bắc bộ với nền kinh tế khá phát triển đã tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự tăng trưởng cơ thể làm cho các chỉ số nhân trắc của học sinh nam vùng này đạt giá trị tốt nhất.



Hình 1. Biểu đồ so sánh các chỉ số nhân trắc của học sinh nam THPT theo 3 vùng sinh thái

Biểu đồ trên cho thấy các chỉ số nhân trắc của học sinh THPT nam có sự khác biệt theo vùng sinh thái đồng thời sự khác biệt này diễn ra khá đồng bộ chứng tỏ có sự lien quan chặt chẽ với nhau giữa các chỉ số nhân trắc. Kết quả cho thấy hoàn toàn có sự phù hợp với qui luật tăng trường đồng thì của các giá trị sinh học người cũng như chứng minh cho tính thống nhất của cơ thể sống “cơ thể là một khối thống nhất”



    1. Đặc điểm nhân trắc của học sinh nữ lứa tuổi 16 ÷18 thuộc 3 vùng sinh thái

Kết quả nghiên cứu trên đối tượng nữ sinh THPT thuộc 3 vùng sinh thái phía Bắc Việt nam, kết quả được trình bày trong bảng 2.

Bảng 2. Các chỉ số nhân trắc học sinh nữ THPT tại 3 vùng sinh thái phía Bắc Việt Nam

Đặc điểm

Đông bắc bộ

Tây bắc bộ

Bắc Trung bộ

n



n



n



Cao đứng

1600

154.03 ± 5.53

1500

152.13 ± 4.96

1550

153.17 ± 5.44

Cao ngồi

1600

87.28 ± 3.71

1500

84.33 ± 3.55

1550

86.12 ± 3.31

Cân nặng

1600

49.16 ± 5.23

1500

47.10 ± 5.29

1550

48.43 ± 5.29

Vòng đầu

1600

54.35 ± 1.54

1500

52.39 ± 1.64

1550

53.16 ± 1.42

Vòng cổ

1600

35.78 ± 1.87

1500

34.12 ± 1.97

1550

35.01 ± 1.92

Vòng ngực BT

1600

71.05 ± 6.12

1500

69.97 ± 6.12

1550

70.78 ± 6.92

Vòng bụng qua eo

1600

63.11 ± 3.56

1500

62.56 ± 3.59

1550

62.92 ± 3.56

Vòng mông

1600

85.46 ± 4.66

1500

83.87 ± 4.16

1550

84.41 ± 4.56

BMI

1600

18.71 ± 1.25

1500

18.57 ± 1.26

1550

18.07 ± 1.62

Chỉ số Pignet

1600

40.56 ± 7.22

1500

40.02 ± 7.88

1550

40.12 ± 7.12

Số liệu trong bảng 2 cho thấy; hầu hết các chỉ số nhân trắc của nữ đều thấp hơn so với nam (bảng 1), kết quả này đã phản ánh tính đặc trưng theo giới tính của học sinh THPT nam và nữ. Ở mỗi vùng sinh thái khác nhau phổ thong tin chỉ số nhân trắc cũng không giống nhau, trong đó tốt nhất là của học sinh vùng Đông bắc bộ, tiếp đến Bắc trung bộ và kém hơn cả là vùng Tây bắc bộ. Qua khảo sát cho thấy ngoài những nguyên nhân về sinh thái tự nhiên và điều kiện xã hội chưa phát triển của vùng Tây bắc bộ dẫn đến tình trạng kém về chỉ số nhân trắc còn do yếu tố chủng tộc. Học sinh vùng Tây bắc bộ đến từ nhiều dân tộc khác nhau và họ thường có kích thước nhỏ hơn người kinh. Kết quả này cũng phù hợp với một số nghiên cứu khác cùng lĩnh vực. So sánh về các chỉ số nhân trắc giữa các vùng sinh thái được thể hiện rõ hơn trong biểu đồ hình 2.



Hình 2. Biểu đồ so sánh các chỉ số nhân trắc của học sinh nữ THPT theo 3 vùng sinh thái

Biểu đồ hình 2 cho thấy có sự khác biệt rõ nét về các chỉ số nhân trắc của học sinh trong các vùng sinh thái khác nhau và cũng như ở học sinh nam các chỉ số nhân trắc thường có sự liên quan chặt chẽ với nhau đặc trưng cho mỗi vùng sinh thái trong đó nữ sinh vùng Đông bắc bộ có chỉ số nhân trắc tốt nhất và kém nhất vẫn là nữ sinh thuộc vùng Tây bắc bộ.

KẾT LUẬN

Các chỉ số hình thể của học sinh THPT sống ở các vùng sinh thái khác nhau có những đặc điểm khác nhau, trong đó học sinh THPT vùng Đông bắc bộ có chỉ số nhân trắc tốt nhất, tiếp đến là vùng Bắc trụng bộ và kém hơn cả là vùng Tây bắc bộ. Điều này chứng tỏ hình thái con người Việt Nam chịu ảnh hưởng của các yếu tố chủng tộc, môi trường tự nhiên và môi trường xã hội khác nhau. Phổ thông tin về nhân trắc của học sinh các vùng khác nhau là khá đa dạng, có vai trò quan trong giúp cho chiến lược phát triển con người ở mỗi vùng sinh thái cũng như của toàn Quốc nhằm phục vụ tốt cho chiến lược phát triển con người của nhà nước ta cho đến năm 2020.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Thủ tướng Chính phủ “Quyết định phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011- 2020” ngày 19/4/2011. Số: 579/QĐ-TTg

[2]. Bộ Y tế (1975), “Hằng số sinh học người Việt Nam” Nxb Y học.

[3]. Bộ Y tế (2003), Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập kỷ 90 thế kỉ XX, Nxb Y học, Hà Nội.

[4]. Đỗ Hồng Cường (2009), Nghiên cứu một số chỉ số sinh học của học sinh THCS các dân tộc ở tỉnh Hòa Bình, Luận văn tiến sỹ sinh học, Đại học Sư phạm Hà Nội.

[5]. Thẩm Thị Hoàng Điệp (1992), Đặc điểm hình thái thể lực của học sinh trường PTCS Hà Nội, Luận án tiến sỹ y học, Đại học Y Hà Nội.

[6]. Đào Huy Khuê (1991), Đặc điểm về kích thước hình thái, về sự tăng trưởng và phát triển cơ thể của học sinh phổ thông 6 - 17 tuổi (thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình), Luận án phó tiến sỹ khoa học Sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội.

[7]. Trần Thị Loan (2002), Nghiên cứu một số chỉ tiêu thể lực và trí tuệ của học sinh từ 6 - 17 tuổi tại quận Cầu Giấy, Hà Nội, Luận án tiến sỹ sinh học, Đại học Sư phạm Hà Nội.

[8]. Nguyễn Quang Quyền (1984), Nhân trắc học và sử dụng nghiên cứu trên người Việt Nam, Nxb Y học, Hà Nội.

[9]. Beal C.M (1983), “Ages at menopause and menarcher in high-altitude Hymalayan population”, Ann. Hum. Biol; 10(4), pp. 165 - 170.



[10]. Ebrahim G. (1985), Growth and growth charts priamary heath care in Viet Nam, Child heath and its promotion II, pp. 52 - 63.
Study on the anthropometry indexes

of Vietnamese people in ecological areas

Mai Van Hung – Vu Thi Thu Minh - Dao Ngoc Minh Anh

Summary

The anthropometric indexes plays an important role among the indexes reflect the status of human health. They show the operating status of the body in the relationship between physical activities with elements of ecological environment. Research results showed that the index of the adult form Vietnam is different; people who live in different ecological areas have different characteristics; people of different ethnic groups also have its own characteristics of indexes of basic anthropometry. This proves that the morphology of people of Vietnam influenced by racial factors, natural and social environment. Research results have brought spectral information quite diverse about anthropometric for human development strategies in each ecoregion as well as of the whole country to better serve for the human development Strategy of our country until 2020.

Keyword: anthropometric index ecology, pupil, morphology

1 hungmv@vnu.edu.vn




Каталог: app -> webroot -> files -> hoithao
hoithao -> Jatropha curcas L. TẠi thừa thiên huế
hoithao -> Nghiên cứu một số chỉ SỐ thể LỰc của học sinh từ 8-15 tuổI Ở TỈnh bình dưƠng nguyễn Thị Thu Hiền
hoithao -> Ảnh hưỞng của môi trưỜng nuôi cấy không sử DỤng chấT ĐIỀu hòa sinh trưỜng lên khả NĂng tăng sinh khối và XÁC ĐỊnh dư LƯỢng nitrat, kim loại nặng có trong mẫu cây lan gấM
hoithao -> Thực trạng kiến thức, thái độ, hành VI về sức khỏe sinh sản của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình
hoithao -> Metfformin – Tác nhân kích thích sự di chuyển và phản ứng acrosome của tinh trùng gà
hoithao -> Piv-chương 1 Lịch Triều Lược Kỷ (1528 1802)
hoithao -> Lê Thị Hương1,*, Trần Thị Thúy Nga
hoithao -> Bùi Thu Hà1, La Thị Mai Loan
hoithao -> Nguyễn Thị Hồng Hạnh1, Bùi Thị Nhung*2, Trần Quang Bình3, Lê Thị Hợp2

tải về 181.5 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương