“Nghiên cứu chất lượng sống bệnh nhân động kinh ở người lớn tại thành phố Đà Nẵng”


Phát hiện và điều trị các rối loạn trầm cảm – lo âu trên bệnh nhân động kinh



tải về 0.8 Mb.
trang9/11
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích0.8 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

1.2. Phát hiện và điều trị các rối loạn trầm cảm – lo âu trên bệnh nhân động kinh

- Cơ quan chủ trì: Bệnh viện Tâm thần.

- Cơ quan phối hợp: các trung tâm y tế quận/ huyện, các trạm y tế xã/ phường, đội ngũ cộng tác viên tại các xã/ phường.

- Nội dung công việc:

+ Tập huấn cho các bác sĩ công tác tại Bệnh viện Tâm thần, các cán bộ chuyên trách tâm thần tại các trạm y tế xã/ phường cách sử dụng hai bộ test để phát hiện trầm cảm, lo âu là Beck trầm cảm và Beck lo âu.

+ Đưa việc thực hiện hai bộ test nói trên vào công việc khám thường quy cho bệnh nhân động kinh tại Bệnh viện Tâm thần và các trạm y tế xã/ phường.

+ Định kỳ làm test cho bệnh nhân mỗi tháng 1 lần (khi bệnh nhân tới khám và nhận thuốc ngoại trú).

Nếu phát hiện bệnh nhân có biểu hiện của trầm cảm và lo âu thì:

+ Tại Bệnh viện Tâm thần: Lập hồ sơ điều trị, sử dụng thuốc chống trầm cảm, chống lo âu. Có thể kết hợp Liệu pháp kích hoạt hành vi (Behavior Activation) hoặc Liệu pháp định tâm (Mind fullness) tùy trường hợp.

+ Tại trạm y tế xã/ phường: Nếu phát hiện bệnh nhân bị rối loạn trầm cảm – lo âu thì làm thủ tục chuyển lên Bệnh viện Tâm thần khám và lập hồ sơ điều trị. Sau khi được lập tại Bệnh viện Tâm thần, hồ sơ sẽ được chuyển về quản lý và theo dõi điều trị tại trạm y tế.

Thuốc điều trị:

+ Thuốc chống trầm cảm: Tùy theo bệnh nhân và đặc điểm lâm sàng hội chứng trầm cảm mà sử dụng fluoxetine hoặc amitriptiline.

+ Thuốc giải lo âu: diazepam.

+ Kinh phí: BHYT hoặc thông qua kinh phí của CTMTQGCSSKTT tại cộng đồng.

+ Thời gian điều trị: 6 tháng.

+ Theo dõi trong quá trình điều trị: Bệnh nhân sẽ được khám định kỳ 1 – 2 lần/ tháng để đánh giá hiệu quả điều trị, phát hiện và xử lý các tác dụng phụ khi sử dụng thuốc CTC.



1.3. Lựa chọn thuốc điều trị, ưu tiên đơn trị liệu

Chúng ta biết rằng đơn trị liệu góp phần nâng cao CLS bệnh nhân động kinh, dễ quản lý hơn, dung nạp thuốc tốt hơn, không tương tác thuốc và chi phí ít hơn trong khi đó đa trị liệu làm tăng tác dụng phụ của thuốc chống động kinh và làm giảm CLS.

Chính vì vậy trong thực hành lâm sàng điều trị cho bệnh nhân động kinh, các bác sĩ cần ưu tiên sử dụng đơn trị liệu. Để làm tốt điều này cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng sử dụng thuốc chống động kinh cho các bác sĩ công tác tại Bệnh viện Tâm thần và các cán bộ chuyên trách tâm thần tại các trạm y tế.

- Cơ quan chủ trì: Bệnh viện Tâm thần.

- Cơ quan phối hợp: các trung tâm y tế quận/ huyện, các trạm y tế xã/ phường.

- Nội dung tập huấn: Các kỹ năng sử dụng thuốc chống động kinh. Khuynh hướng điều trị động kinh tại Việt Nam là hay dùng đa trị liệu, đây là điều cần tránh. Chỉ dùng đa trị liệu khi cần thiết.

+ Thay đổi nhận thức về việc lạm dụng đa trị liệu.

+ Chọn thuốc chống động kinh phù hợp với thể động kinh.

+ Chọn liều thích hợp, đủ kiểm soát cơn động kinh nhưng không gây tác dụng phụ.

1.4. Ngăn ngừa chấn thương do cơn động kinh

Đây là một vấn đề khó khăn vì cơn động kinh xuất hiện bất ngờ, không lường trước được và đặc biệt đối với những bệnh nhân có cơn động kinh toàn thể cơn lớn co cứng co giật hoặc động kinh cục bộ phức tạp thì khi lên cơn bệnh nhân thường mất ý thức.

- Cơ quan chủ trì: Bệnh viện Tâm thần.

- Cơ quan phối hợp: Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, các trung tâm y tế quận/ huyện, các trạm y tế xã/ phường, đội ngũ cộng tác viên tại các xã/ phường.

- Đối tượng đích: nhân dân, gia đình người bệnh động kinh.

- Nội dung truyền thông: Để giảm thiểu độ nặng của chấn thương chúng ta có thể hướng dẫn bệnh nhân động kinh không leo cao, tắm sông, suối, không gần lửa, nước sôi,... không điều khiển xe máy, xe đạp. Làm những công việc không liên quan đến độ cao, nước, ...



1.5. Kiểm soát tốt cơn động kinh:

Việc kiểm soát tốt cơn động kinh lệ thuộc nhiều yếu tố như chẩn đoán sớm, đúng thể và lựa chọn thuốc chống động kinh phù hợp. Nếu chúng ta làm tốt các giải pháp được đề cập ở các phần 1.1, 1.2, 1.3 thì sẽ giải quyết được vấn đề này. Tuy nhiên, theo các thống kê thì vẫn có khoảng 20 – 30 % số bệnh nhân động kinh không đáp ứng với điều trị bằng các thuốc chóng động kinh.



2. Nhóm giải pháp liên quan đến các yếu tố xã hội

2.1. Nghề nghiệp và công việc

Dựa vào kết quả nghiên cứu thu được tại Đà Nẵng (nhóm bệnh nhân động kinh không có nghề nghiệp CLS thấp hơn nhóm bệnh nhân động kinh có nghề nghiệp).

Mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh động kinh trong độ tuổi lao động có việc làm ổn định, có thu nhập.

Để làm được việc này, Bệnh viện Tâm thần sẽ tham mưu cho Sở Y tế, Sở Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Sở Giáo dục và Đào tạo, ... đề xuất UBND thành phố Đà Nẵng về chính sách ưu đãi đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người bệnh động kinh. Cụ thể là:

- Tổ chức khảo sát những bệnh nhân động kinh còn khả năng lao động hiện không có việc làm. Phương thức thực hiện: Xây dựng phiếu khảo sát thu thập thông tin, phối hợp với UBND các xã và Phòng Lao động Thương binh và Xã hội các quận/ huyện để khảo sát nhu cầu đào tạo nghề và nhu cầu việc làm của bệnh nhân động kinh còn khả năng lao động.

- Trên cơ sở kết quả khảo sát, sẽ tổ chức tư vấn cho bệnh nhân động kinh để thẩm định lại nhu cầu và định hướng việc làm cho từng đối tượng. Từ đó giúp họ chọn ngành nghề phù hợp với bản thân.

Kết quả tư vấn sẽ giúp xác định lại nhu cầu việc làm của lao động. Lập hồ sơ lưu trữ về nhu cầu việc làm của các đối tượng được được khảo sát. Sau đó giới thiệu đi học nghề và giới thiệu việc làm cho từng đối tượng lao động.

2.2. Thu nhập

Theo các nghiên cứu đã công bố thì CLS bệnh nhân có liên quan chặt chẽ đến thu nhập. Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh ở người lớn tại Đà Nẵng ban đầu đã thu được kết quả là 60 % bệnh nhân động kinh sống trong các hộ nghèo, các bệnh nhân động kinh trong nhóm hộ nghèo có CLS thấp hơn những bệnh nhân động kinh sống trong nhóm hộ không nghèo.

Do vậy, thu nhập tốt là yếu tố quan trọng làm nâng cao CLS bệnh nhân động kinh. Dù còn nhiều khó khăn nhưng trong những năm qua thành phố Đà Nẵng đã có nhiều chính sách cho bệnh nhân thuộc diện này, đó là:

Quyết định số 09/2009/QĐ-UBND ngày 25/02/2009 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc Phê duyệt Đề án giảm nghèo trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2009 – 2015 với mục tiêu tổng quát “Tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân thành phố Đà Nẵng nói chung, những hộ hiện tại có cuộc sống khó khăn với mức thu nhập thấp nói riêng, để đến năm 2015 cơ bản không còn hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ người/ tháng ở thành thị và 400.000 đồng/ người/ tháng ở nông thôn trở xuống”. Việc thực hiện Quyết định này sẽ có tác động tốt đến CLS bệnh nhân động kinh vì theo thống kê trong nghiên cứu của chúng tôi thì 60 % số bệnh nhân động kinh sống trong các hộ nghèo và nhóm bệnh nhân động kinh sống trong hộ nghèo có CLS thấp hơn nhóm bệnh nhân động kinh sống trong những hộ không nghèo.

Quyết định số 21/2010/QĐ-UBND ngày 19/07/2010 của UBND thành phố Đà Nẵng về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng quy định “Người mắc bệnh tâm thần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tế chuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm được hỗ trợ 270.000 đồng/ tháng”.

Quyết định số 24/2010/QĐ-UBND ngày 23/08/2010 của UBND thành phố Đà Nẵng về chính sách trợ giúp đối với bộ đội xuất ngũ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng quy định “Bộ đội xuất ngũ bị bệnh tâm thần chưa được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng ưu đãi người có công được trợ cấp 500.000 đồng/ tháng”.

Các giải pháp cho vấn đề này là:


  • Bệnh viện Tâm thần tham mưu cho Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh và Xã hội, ... đề xuất UBND thành phố Đà Nẵng về việc tăng thêm trợ cấp hàng tháng cho bệnh nhân động kinh.

  • Đào tạo nghề và thu xếp công việc thích hợp cho bệnh nhân động kinh để họ có thể tự mình tạo thu nhập (các giải pháp được đề xuất tương tự ở mục 2.1).


KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 300 bệnh nhân động kinh đang được quản lý và điều trị nội ngoại trú tại Bệnh viện Tâm thần Đà Nẵng chúng tôi có một số kết luận như sau:



  1. Chất lượng sống bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng:

  • Chất lượng sống tổng thể của bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng là: 48,8 điểm.

  • Điểm cụ thể của bảy thang điểm xếp theo thứ tự giảm dần là:

  • CLS chung: 55,2 điểm.

  • Chức năng xã hội: 54,7 điểm.

  • Thuốc dùng: 50,6 điểm.

  • Cảm giác dễ chịu: 49,8 điểm.

  • Nhận thức: 46,5 điểm.

  • Lo cơn động kinh: 40,3 điểm.

  • Sinh lực/ mệt mỏi: 40,2 điểm.

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến CLS bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng:

  • Trầm cảm.

  • Lo âu.

  • Trình độ văn hóa.

  • Nghề nghiệp.

  • Tình trạng công việc hiện tại.

  • Hoàn cảnh kinh tế gia đình.

  • Thời gian bị bệnh.

  • Thể động kinh.

  • Tần số cơn động kinh.

  • Biến chứng chấn thương do cơn động kinh.

  • Đơn trị liệu và đa trị liệu.

KIẾN NGHỊ

Dựa vào kết quả thu được chúng tôi có những kiến nghị sau:



  1. Chất lượng sống bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng chỉ ở mức trung bình. Do vậy, chúng ta cần đề ra các giải pháp thiết thực để nâng cao CLS cho bệnh nhân động kinh.

  2. Đề xuất các giải pháp nâng cao CLS cho bệnh nhân động kinh: trên cơ sở xác định điểm CLS của bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng và các yếu tố làm giảm CLS bệnh nhân động kinh, chúng tôi đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao CLS cho bệnh nhân động kinh là:

    • Nhóm giải pháp liên quan đến vấn đề chẩn đoán và điều trị (Chẩn đoán sớm và điều trị sớm động kinh; Điều trị các rối loạn trầm cảm và lo âu kết hợp trên bệnh nhân động kinh, lựa chọn thuốc điều trị, ưu tiên đơn trị liệu; Ngăn ngừa chấn thương do cơn động kinh; Kiểm soát tốt cơn động kinh).

    • Nhóm giải pháp mang tính xã hội (Đào tạo nghề và giải quyết công ăn việc làm để tăng thu nhập cho bệnh nhân động kinh).

Đà Nẵng, ngày 03/ 04/2012
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI CƠ QUAN CHỦ TRÌ


BSCKII. Trần Nguyên Ngọc BSCKII.Lâm Tứ Trung

TÀI LIỆU THAM KHẢO





Tài liệu tiếng Việt

1.

Tô Hồng Đức, Nguyễn Quang Vinh, Trần Diệp Tuấn (2008), Phân Loại cơn động kinh trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng I thành phố Hồ Chí Minh, Y học thành phố Hồ Chí Minh, 12(3), tr. 172 – 175.

2.

Bảo Hùng (2010), Khảo sát hình ảnh lâm sàng trầm cảm trên bệnh nhân động kinh, Thầy thuốc Việt Nam, (12), tr. 1 - 7.

3.

Chương trình quốc gia chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng (2001), Chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng cho các bệnh loạn thần nặng mạn tính, tr. 69 - 72.

4.

Huỳnh Tố Hương, Vũ Anh Nhị (2007), Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của cơn động kinh đầu tiên ở người trưởng thành, Y học thành phố Hồ Chí Minh, 1(2), tr.8 - 14

5.

Hoàng Khánh (2009), Giáo trình nội thần kinh, NXB Đại học Huế,
tr. 150 - 160.

6.

Nguyễn Hữu Kỳ (1995), Tâm thần học (Giáo trình sau đại học), NXB Thuận Hóa, tr. 8 - 11.

7.

Lê Minh (2009), Ý nghĩa của phân loại quốc tế về động kinh trong thực hành thần kinh học lâm sàng, Trang web Hội thần kinh, tr. 1 - 5.

8.

Tỉ lệ thất nghiệp ở Việt Nam 6 tháng đầu năm 2011 (2011), Website Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội..

Tài liệu tiếng Anh

9.

Abhik Sinha, Debasish Sanyal, Sarmila Malik, Prasentjit Sengupta, Samir Dasgupta (2011), Factors associated with quality of life of patients with epilepsy attending a tertiary care hospital in Kolkata, India, Neurology Asia 2011, 16 (1), pp. 33 - 37.

10.

Ada Piazzini, Ettore Beghi, Katherine Turner, Monica Ferraroni (2008), Health-Related quality of life in epilepsy: Findings obtained with a new Italian instrument, Epilepsy and Behavior, 13, pp. 119 – 126.

11.

Ajay Thapar, Michael Kerr, Gordon Harold (2009), Stress, anxiety, depression, and epilepsy: Investigating the relationship between psychological factors and seizures, Epilepsy and Behavior, 14,
pp. 134– 140.

12.

Alanis – Guevara I, Pena E, Corona T, Lopez – Ayala T, Lopez – Meza E, Lopez – Gomez M (2005), Sleep disturbances, socioeconomic status, and seizure control as main predictors of quality of life in epilepsy, Epilepsy and Behavior, 7 (2005), pp. 481 – 485.

13.

Albena Grabowska – Grzyb, Joanna Jedrzejckzack, Ewa Naganska, Ursula Fiszer (2006), Risk factors for depression in patients with epilepsy, Epilepsy and Behavior, 8, pp. 411– 417.

14.

Alejandro Arana, Charle E. Wentwood, M.S., Jose L. Ayuso – Mateo, and Felix M. Arellano (2010), Suicide – Related Events in Patients Treated with Antiepileptic Drugs, The New England Journal of Medicine, 363, pp.542 - 51.

15.

Amir Shabani, Behnoosh Dashti, Hadi Teimoori (2006), Frequency of Psychiatric Comorbidities in Epilepsy in Iranian Sample, Iran J Psychiatry, (1), pp.148 - 152.

16.

Andres M. Kanner (2008), Epilepsy - Related Depression, A supplement to Neurology Review, pp. 1- 5.

17.

Andres M. Kanner (2011), Anxiety Disorder in Epilepsy: The Forgotten Psychiatric Comorbidity, Epilepsy Currents, 11(3), pp. 90 – 91

18.

Ann Jacoby, Gus A. Baker (2008), Quality of life trajectories in epilepsy: A review of the literature, Epilepsy and Behavior, 12,
pp. 557 – 571.

19.

Asadi AA – Pooya, Sperling MR (2011), Depression and Anxiety in patients with epilepsy, With or Without Other Chronic Disorder, Iran Red Crescent Med, 13(2), pp.112-116

20.

Ayhan Bilgic, Savas Yilmaz, Serap Tiras, Guthis Deda, Emine Zinnur Kilic (2006), Depression and anxiety symptom severity in a group of children with epilepsy and related factors, Turkish Journal of Psychiatry, 17(3), pp. 1- 8.

21.

Aziz - ur - Rehman Yousafzai, Rizwan Taj (2009), Frequency of depression in epilepsy: A hospital Based Study, J Ajub Med Coll Abbottabad 2009, 21(2), pp. 73 – 75.

22.

Barbara G. Vickrey, Kenneth R. Perrine, Ron D. Hay, Bruce P. Hermann, Joice A. Cramer, Kimford J. Meador, Orrin Devinsky (1993), Quality of life in epilepsy QOLIE-31 (Version 1.0), Scoring manual, pp. 1- 9.

23.

Brigitta Baran, Marta Farkas, Peter Rajna (2002), Anxiety in epilepsy, Klinikai tanulmany, 55 (9 – 10), pp.303 - 310.

24.

Collin A. Hovinga, Miya R. Asato, ranjani manjunath, Jame W. Wheless (2008), Association of non- adherence to antiepileptic drugs and seizures, quality of life, and productivity: Survey of patients with epilepsy and physisians, Epilepsy and Behavior, 13, pp.316 – 322.

25.

Cynthya L Harden, David Aaron Maroof, Blagovest Nikolov, Kristen Fowler, Michael Sperling, Joyce Liporace, Page Pennell, Douglas Labar, Andrew Herzog (2007), The effect of seizure severity on quality of life in epilepsy, Epilepsy and Behavior, 11, pp. 208 – 211.

26.

Daniel Molleken, Hertha Richter – Appelt, Stephan Stodieck, Thomas Bengner (2009), Sexual quality of life in epilepsy: Correlation with sex hormone blood levels, Epilepsy and Behavior, 14, pp. 226 – 231.

27.

Dan J. Stein, Eric Hollander (2005), Textbook of Anxiety Disorder, American Psychiatric Publishing, pp. 13 – 14.

28.

David B. Bresnahan (2004), Psychiatric Comorbidity in Epilepsy and End Stage Renal Disease, Winscosin Medical Journal 2004, 103(6), pp. 64 – 68.

29.



David W. Loring, Kimford J. Meador, Gregory P. Lee (2004), Determinants of quality of life in epilepsy, Epilepsy and Behavior, 5, pp. 976 – 980.

30.

American Psychiatric Association (1994), Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders, 4th Edition, Text Revision, pp. 435 - 437.

31.

Eitan Auriel, Hagay Landov, Ilan Blatt, Jacques Theitler, Revital Galdelmal – Marton (2009), Quality of life in seizure – free patients with epilepsy on monotherapy, Epilepsy and Behavior, 14, pp. 130 – 133.

32.

Elizabete Abib Pedroso de Souza, Priscila Camile Barioni Salgado (2006), A psychosocial view of anxiety and depression in epilepsy, Epilepsy and Behavior, 8, pp. 332 – 338.

33.

Elisabeth M.S. Sherman, Stephanie Y. Griffiths, Sare Akdag, Mary B. Connolly, Daniel J. Slick, Samuel Wiebe (2008), Sociodemographic correlates of health – related quality of life in pediatric epilepsy, Epilepsy and Behavior, 12, pp. 96 – 101

34.

Enra Suljic (2007), How much stigma can influence the development of depression in epilepsy, Neurology Clinic, Clinical Center of University of Sarajevo, Bosnia and Herzegovina, pp. 77 – 80.

35.

Food and Agriculture Organization (2002), Brief Review of World quality of life, pp. 1- 10.

36.

Hiba Arif, Richard Buchsbaum, David Weintraub, Joanna Pierro (2009), Patient – reported cognitive side effects of antiepileptic drugs: Predictors and comparison of all commonly used antiepileptic drugs, Epilepsy and Behavior, 14, pp. 202 – 209.

37.

Hrvoje Hecimovie, Jennifer D. Goldstein, Yvette I. Sheline, and Frank G. Gilliam (2003), Mechanism of depression in epilepsy from a clinical perspective, Epilepsy and Behavior, 4, pp. 25 – 30.

38.

Ikuko Laccheo, Elizabeth Ablah, Robin Heinrichs, Toni Sadler, Lyle Baade, Kore Liow (2008), Assessment of quality of life among the elderly with epilepsy, Epilepsy and Behavior, 12, pp. 257 – 261.

39.

International Statistical Classification of Diseases and Related Health Problems (2007), Chapter VI, Diseases of the nervous system.

40.

Irawaty Hawari, Zakiah Syeban, Silvia F Lumempouw (2007), Low education, more frequent of seizure, more types of therapy, and generalized seizure type decreased quality of life among epileptic patients, Quality of life in epileptic patients, 16(2), pp.101 - 103.

41.

Jacqueline Foong (2010), Psychiatric Disorders in epilepsy, Chapter 16

42.

Jackson M J, Turkington D (2005), Depression and Anxiety in Epilepsy, J neurol Neurosurg Psychiatry, 76(1), pp. 45 – 47.

43.

Jame L. Levenson (2008), Psychiatric Issues in Neurology, Part 3: Epilepsy, Primary Psychiatry, 15(1), pp.21 - 26.

44.

John O. Elliot, Bo Lu, Bassel Shneker, Christine Charyton, J. Layne Moore (2009), Comorbidity, health screening, and quality of life among persons with a history of epilepsy, Epilepsy and Behavior, 14, pp. 125 – 129.

45.

Kanitpong Phabphal, Alain Greater, Kitti Limapichat, Pornchai Satirapunya, Suwanna Setthawacharawanick (2009), Quality of Life in Epileptic Patients in Southern Thailand, J Med Assoc Thai, 92(6),
pp. 762 – 769.

46.

Kanitpong Phabphal, Suwana Sattawatcharawanick, Ponchai Sathirapunya, Kitti Limapichat (2007), Anxiety and Depression in Thai Epileptic Patients, J Med Assoc Thai, 90(10), pp. 2011 – 2013.

47.

Kiki Mohammad Iqbal, Aldy S. Ramble, Hasan Sjahir (2006), Correlation between Anxiety and Depression Symptoms with Seizure Severity in Epilepsy Patients at Neurology Department Haji Adam Malik Hospital Medan, North Sumatra, Indonesia, Majala Kedokteran Nusantara, 39(2), pp. 85 – 93.

48.

Kimford J. Meador (2008), Suicide in patients with epilepsy, Epilepsy currents, 8(2), pp. 40 - 42.

49.

Kosy S, Thomas SV, Nair CRS, Sarma PS (2004), Frequent seizures and polytherapy impair quality of life in persons with epilepsy, Neurology Asia, 9 (1), pp.142.

50.

Liang Po Hsieh, Hui – Ju Kao (2004), Comparison of depressive symptoms between patients with chronic epilepsy and migraine, Neurology Asia, 9(1), pp.138.

51.

Lynn Chapieski, Vicki brewer, Karen Evankovic, Kathy Culhane – Shelburne, Karen Zelman, Ann Alexander (2005), Adaptive functioning in children with seizures: Impact of maternal anxiety about epilepsy, Epilepsy and Behavior, 7, pp. 246 – 252.

52.

Magdalena Szaflarski, Jason M. Meckler, Michael D. Privitera, Jerzy P. Szaflarski (2006), Quality of life in medication – resistance epilepsy: The effects of patient’s age, age at seizure onset, and disease duration, Epilepsy and Behavior, 8, pp. 547 – 551.

53.

Marco Mula, Bettina Schmitz (2007), Depression in Epilepsy – Mechanism and Therapeutic Approaches, European Neurological Diseases, pp.58 –60

54.

Marcos Serrano – Duenas; Sabrina Sevilla; Paola Lastra (2007); Concurrent Validity of the Hamilton Depression Rating Scale and the Beck Depression Inventory versus the ICD – 10 Diagnostic Criteria among Patients with Parkinson’s Disease, Revista Ecuatoriana de Neurologia, 16(3), pp.174 – 180.

55.

Marly de Albuquerque, Carlos jose Reis De Campos (1993), Epilepsy and anxiety, Arq Neuropsychiatry, 51(3), pp.313 - 318.

56.

Maurizio Pompili, Nicola Vanacore, Sara Macone, Mario Amore, Gian franco Perticoni, Matteo Tonna, Enrico Sasso, David Lester (2007), Depression, hopelessness and suicide risk among patients suffering from epilepsy, Ann Ist Super Santa, 43(4), pp. 425 -429.

57.

Michael Polgar (2010), Beck Depression Inventory, Encyclopedia of Mental Disorder, pp. 1 – 4.

58.

Ozalp Ekinci, Jeffrey B. titus, Ayse Arman Rodopman, Meral Berkem, Edwin Trevathan (2009), Depression and anxiety in children and adolescents with epilepsy: Prevalence, risk factors, and treatment, Epilepsy and Behavior, 14, pp. 8 – 18.

59.

Panayiotis N. Varelas (2008), Seizure in Critical Care, Humana Press, pp. 1 – 2.

60.

Pavel Ortinski and Kimford J Meador (2004), Cognitive side effects of antiepileptic drugs, Epilepsy and Behavior, 5, pp. 60 – 65.

61.

Pedro E Hernandez-Frau (2010), Psychiatric Disorders Associated With Epilepsy, E Medicine, pp. 2.

62.

Priscila Camile Barioni Salgado, Fernando Cendes (2009), The effects of Epileptic Seizures Upon Quality of Life, J Epilepsy Cli Neurophysiol, 15(3), pp.110-113.

63.

Rajabi F, Dabiran S, Hatmi Z. N, and Zamani G (2008), Quality of life of epileptic patients Compared to General Population of Tehran, Acta Medica Iranica, 47, pp.75 – 78.

64.

Rajesh Jacob and Prathap Tharyan (2007) , Psychiatric Comorbidity and Quality of Life in People with Epilepsy, German Journal of Psychiatry, ISSN, pp.1433 - 1055.

65.

Sheri Cotterman – Hart (2010), Depression in epilepsy: Why aren’ t we treating?, Epilepsy and Behavior, 19, pp. 419 - 421.

66.

Simon Shorvon, Emilio Perucca, David Fish and Edwin Dodson (2004), The treatment of epilepsy, Blackwell Publishing, pp.23.

67.

Sourabh Saxena (2010), The world Health Ogarnization (WHO) in 1998 defined Quality of life.

68.

Sridharan R, Epidemiology of epilepsy (2002), Current science, 82(6), pp. 664 – 670.

69.

Stefan Beyenburg, Alex J. Mitchell, Dieter Schmidt, Christian E. Elger, Marcus Reuber (2005), Anxiety in patients with epilepsy: Systematic Review and Suggestions for clinical management, Epilepsy and Behavior, 7, pp. 161 – 171.

70.

Stephen M. Stahl, Essential Psychopharmacology (2009), Cambridge University Press, pp. 772 – 774.

71.

Theo P. B. M. Suurmeijer, Marieke F. Reuvekamp, Bert P. Aldenkamp (1998), Jan Overweg, and On Gie Sie, Quality of Life in Epilepsy: Multidimensional Profile and Underlying Latent Dimensions, J. Epilepsy, 11, pp.84 - 97.

72.

Theo P. B. M. Suurmeijer, Marieke F. Reuvekamp, Bert P. Aldenkamp (2011), Social Functioning, Psychological Functioning, and Quality of Life in Epilepsy, J. Epilepsy, 42(9), pp.1160 – 1168.

73.

Titlic M, Basic S, Hajnsek S, Lusic I (2009), Comorbidity Psychiatric disorders in epilepsy: a review of literature, Science Edition, pp.105 - 109

74.

Todova K, Amaoudova M (2010), Depressive disorder in epilepsy, Journal of IMAB – Annual Preceeding (Scientific Papers),16(3), pp.57 – 60.

75.

Uijl S. G, Uiterwaal C, Aldenkamp A. P, Carpay J. A (2009), Adjustment of treatmaent increases quality of life in patients with epilepsy: a randomized controlled pragmatic trial, European Journal of Neurology, 16, pp.1173 - 1177.

76.

Vasilios K Kimiskidis, Nikolaos I Triantafyllou, Elenii Kararizou (2007), Depression and anxiety in epilepsy: the association with demographic and seizure – related variable (2007), Annal of general psychiatry, V.1- 3, pp. 7 – 8.

77.

Wilhelmia A.M. Swinkels, Walter van Emde Boas, Jarl Kuyk, Richard van Dyck, and Philip Spinhoven (2006), Interictal Depression, Anxiety, Personality Traits, and Psychological Dissociation in Patients withTemporal Lobe Epilepsy (TLE) and Exta – TLE, Epilepsia, 47 (12), pp. 2092 – 2013.

78.

Winnie K. L.Yam, Gabriel M. Ronen, Sharon W.W. Cherk, Peter Rosenbaum, K.Y. Chan (2008), Health – related quality of life of children with epilepsy in Hong Kong: How does it compare with that of youth with epilepsy in Canada, Epilepsy and Behavior, 12, pp. 419 – 426.

79.

Zarko Martinovie, Perisa Simonovie, Rada Djokie (2006), Preventing depression in adolescents with epilepsy, Epilepsy and Behavior, 9,
pp. 619 – 624.

80.

Zuhua Zhao, Qin Zhang, Thashi Tsering, Sangwan, Xuejun Hu, Ling Liu, Huifang Shang, Qin Chen, Yonghong Liu, Xuhong Yang, Wenzhi Wang, Shichuo Li, Jianzhong Wu, Josemir W. Sander, Dong Zhou (2008), Prevalence of convulsive epilepsy and health-related quality of life of the population with convulsive epilepsy in rural areas of Tibet Autonomous Region in China: An initial survey, Epilepsy and Behavior, 12, pp. 373 – 381.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương