“Nghiên cứu chất lượng sống bệnh nhân động kinh ở người lớn tại thành phố Đà Nẵng”


Trầm cảm và biến chứng chấn thương do cơn động kinh



tải về 0.8 Mb.
trang8/11
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích0.8 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

8. Trầm cảm và biến chứng chấn thương do cơn động kinh

Trong nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 3.20) Nhóm bệnh nhân động kinh có biến chứng chấn thương thì 42,0 % bị trầm cảm; Nhóm bệnh nhân động kinh không có biến chứng chấn thương thì 39,0 % bị trầm cảm.

So sánh sự khác biệt tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm bệnh nhân động kinh nói trên thì thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.

Nghiên cứu của Kanitpong Phabphal và cộng sự trên 126 bệnh nhân động kinh mạn tính tại Thái Lan năm 2007 cho thấy trầm cảm có liên quan đến biến chứng chấn thương do cơn động kinh [46].



V. ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN LO ÂU

1. Tỉ lệ các mức độ lo âu theo thang đánh giá lo âu của Beck

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ lo âu cả 3 mức độ là 49,7 % (Bảng 3.21).

Cả hai nghiên cứu tại bệnh viện cũng như ở cộng đồng đều thống nhất tỉ lệ hiện mắc của lo âu trên bệnh nhân động kinh là 10 – 25 % và trong hầu hết trường hợp là RLLALT [20], [47].

Tỉ lệ mắc lo âu ở bệnh nhân động kinh thay đổi tùy theo nghiên cứu, nghiên cứu của Khoa Thần kinh thuộc Viện trường Campinas, Brazil năm 2006 là 31,6 % [32].

Một tổng kết khác của các tác giả tại Khoa thần kinh, thuộc Bệnh viện Trung tâm Luxembourg thì “tại một số nơi chăm sóc thứ phát (secondary care) và nơi chăm sóc đặc biệt, tỉ lệ lưu hành của lo âu có thể quá 50 %” [69].

Các triệu chứng lo âu giữa các cơn động kinh (interictal anxiety) được tường thuật là có ở 66 % bệnh nhân động kinh [47].

Nghiên cứu của Kanitpong Phabphal và cộng sự trên 126 bệnh nhân động kinh mạn tính tại Thái Lan năm 2007 cho thấy tỉ lệ hiện mắc lo âu là 20 % [46].

Như vậy, tỉ lệ hiện mắc lo âu của bệnh nhân động kinh trong nghiên cứu của chúng tôi khá cao (49,7 %). Để lý giải điều này chúng tôi cho rằng sự chênh lệch về tỉ lệ giữa các nghiên cứu có thể tùy thuộc vào công cụ đánh giá. Tuy nhiên, một điểm chung mà chúng ta có thể thống nhất là tỉ lệ lo âu trên bệnh nhân động kinh là khá cao.



2. Tỉ lệ lo âu theo hôn nhân

Qua Bảng 3.22 chúng ta thấy nhóm bệnh nhân động kinh độc thân và đã có gia đình có tỉ lệ lo âu cao (52,5 % và 47,8 %), nhóm góa/ ly hôn/ ly thân có tỉ lệ lo âu thấp hơn (28,6 %). So sánh sự khác biệt tỉ lệ lo âu giữa 3 nhóm trên cho kết quả là sự khác biệt trên có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Như vậy tình trạng hôn nhân có liên quan đến tỉ lệ lo âu trên bệnh nhân động kinh.



3. Tỉ lệ lo âu theo công việc hiện tại

Qua Bảng 3.23 chúng ta thấy nhóm bệnh nhân động kinh hiện tại đang thất nghiệp có 59,7 % bị lo âu, trong khi đó nhóm bệnh nhân đang có công việc chỉ 31,6 % bị lo âu.

So sánh sự khác biệt tỉ lệ lo âu giữa hai nhóm bệnh nhân trên cho kết quả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tức là, nhóm bệnh nhân động kinh bị thất nghiệp có tỉ lệ lo âu cao hơn nhóm bệnh nhân động kinh hiện đang có việc làm. Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu được công bố năm 1993 của tác giả Marly De Albuquerque “thất nghiệp là một trong những nguyên nhân gây lo âu ở bệnh nhân động kinh” [55].

4. Tỉ lệ bị lo âu theo mức thu nhập

Kết quả thu được của chúng tôi cho thấy nhóm bệnh nhân động kinh thuộc diện hộ nghèo có 55,0 % bị lo âu, nhóm bệnh nhân thuộc hộ không nghèo có 35,1 % bị lo âu (Bảng 3.24).

So sánh sự khác biệt tỉ lệ lo âu giữa hai nhóm bệnh nhân trên cho kết quả sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,005. Tức là, nhóm bệnh nhân thuộc diện hộ nghèo có tỉ lệ bị lo âu cao hơn nhóm bệnh nhân thuộc diện hộ không nghèo.

5. Tỉ lệ bị lo âu theo thời gian bị bệnh động kinh

Qua Bảng 3.25 ta thấy nhóm bệnh nhân động kinh bị bệnh từ 1- 5 năm có 48,7 % bị lo âu. Nhóm bệnh nhân bị bệnh trên 5 năm có 50,2 % bị lo âu.

So sánh sự khác biệt tỉ lệ lo âu giữa hai nhóm bệnh nhân trên cho kết quả sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Như vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian bị bệnh không ảnh hưởng tới tỉ lệ bị lo âu của các đối tượng.

Tuy nhiên, có nghiên cứu lại cho kết quả ngược lại, tức là tỉ lệ bị rối loạn lo âu cao gặp ở những bệnh nhân động kinh trong thời gian đầu bị bệnh, nhiều năm sau khi bị động kinh tỉ lệ bị rối loạn lo âu giảm đi. Điều này có thể lý giải là trong thời gian đầu khi bị bệnh động kinh người bệnh cảm thấy lo lắng vì các cơn động kinh (trước đây họ không có), vì bị chấn thương khi lên cơn, vì sức khỏe bị ảnh hưởng, … sau một thời gian nhiều năm bệnh nhân động kinh dần dần thích nghi với tình trạng bệnh tật của mình, các cơn động kinh được kiểm soát do điều trị,… do đó rối loạn lo âu giảm dần.



6. Tỉ lệ lo âu và tần số cơn động kinh

Qua kết quả thu được ở Bảng 3.26 chúng ta nhận thấy nhóm bệnh nhân động kinh có tần số cơn càng dày thì tỉ lệ bị lo âu càng cao.

Tuy nhiên, khi so sánh sự khác biệt tỉ lệ lo âu giữa các nhóm chúng tôi nhận thấy sự khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê với p > 0,05.

Kết quả này cũng tương tự kết quả thu được trong nghiên cứu của Kanitpong Phabphal và cộng sự trên 126 bệnh nhân động kinh mạn tính tại Thái Lan năm 2007 là mức độ lo âu không liên quan với tần số cơn động kinh [46].

Tuy nhiên, một báo cáo của các tác giả Hy Lạp sau khi nghiên cứu trên 201 bệnh nhân động kinh nhận thấy tần số cơn động kinh là yếu tố nguy cơ độc lập đối với sự phát triển của lo âu và trầm cảm [76].

VI. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CLS TỔNG THỂ CỦA BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH TẠI ĐÀ NẴNG

1. Trầm cảm

a. Trầm cảm và CLS tổng thể

Bảng 3.27 cho thấy giữa trầm cảm và CLS tổng thể có tương quan theo chiều nghịch với r = - 0,669. Điều này được thể hiện rõ qua Biểu đồ 3.1. Như vậy CLS tổng thể có khuynh hướng giảm khi điểm trầm cảm tăng.

Kết quả thu được của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả thu được của một nghiên cứu mà David W. Loring và cộng sự tiến hành năm 2004 với kết quả trầm cảm và lo âu là hai yếu tố quan trọng nhất phối hợp với CLS ở bệnh nhân động kinh [29].

b. Tương quan giữa trầm cảm với các thành phần CLS

Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy trầm cảm ảnh hưởng nhiều nhất đến Lo cơn động kinh, CLS chung, Chức năng nhận thức và Sinh lực/ mệt mỏi (Bảng 3.28).

Trong khi đó nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Thái Lan nhận thấy những bệnh nhân động kinh bị trầm cảm có các thang điểm thấp là Cảm giác dễ chịu, Sinh lực/ mệt mỏi, Chức năng nhận thức, và chức năng xã hội [45].

Tóm lại, sự hiện diện của trầm cảm có giá trị tiên đoán CLS bệnh nhân động kinh cao hơn tần số cơn động kinh và làm gia tăng sự sử dụng nguồn lực y tế [44]. Trầm cảm ảnh hưởng rõ rệt đến CLS và gây mất chức năng (disability) ở bệnh nhân động kinh và là yếu tố tiên đoán hành vi tự sát [55].



2. Lo âu

a. Lo âu và CLS tổng thể

Bảng 3.29 cho thấy giữa lo âu và CLS tổng thể có tương quan theo chiều nghịch với r = - 0, 563. Điều này được thể hiện rõ qua Biểu đồ 3.2. Như vậy CLS tổng thể có khuynh hướng giảm khi điểm lo âu tăng.



b. Tương quan giữa lo âu với các thành phần CLS

Bảng 3.30 cho thấy lo âu ảnh hưởng nhiều nhất đến Lo cơn động kinh, Chức năng nhận thức, Chức năng xã hội và CLS chung.

Qua việc phân tích mối liên quan giữa trầm cảm và lo âu với CLS tổng thể bệnh nhân động kinh chúng tôi nhận thấy trầm cảm và lo âu ảnh hưởng rõ rệt đến CLS bệnh nhân động kinh, trầm cảm và lo âu càng nặng thì CLS bệnh nhân động kinh càng giảm nhiều.

Kết quả thu được của chúng tôi cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu CLS của bệnh nhân động kinh ở một số nước trên thế giới, ví dụ nghiên cứu CLS của 90 bệnh nhân động kinh ở độ tuổi từ 15 – 50, được khám và điều trị tại bệnh viện Songklanagarind ở Miền Nam Thái Lan được tiến hành từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 1 năm 2007 cho thấy: lo âu và trầm cảm là những yếu tố ảnh hưởng làm giảm CLS bệnh nhân động kinh [45].

Trong một nghiên cứu về mối liên quan giữa các bệnh lý tâm thần kết hợp và CLS bệnh nhân động kinh trên một mẫu gồm 80 bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Ấn Độ năm 2002 hai tác giả là Rajesh Jacob và Prathap Tharyan đã xác nhận sự hiện diện của các rối loạn tâm thần kết hợp cũng làm giảm rõ rệt các thang điểm của Bảng đánh giá CLS bệnh nhân động kinh 31 câu so với những bệnh nhân động kinh không có rối loạn tâm thần kết hợp [63].

Theo ba tác giả Hungary là Brigitta Baran, Marta Farkas và Peter Rajna thì lo âu kết hợp trên bệnh nhân động kinh làm giảm CLS nhiều hơn bản thân các cơn động kinh [23].

Trầm cảm và lo âu ảnh hưởng xấu đến CLS bệnh nhân động kinh nhiều hơn là bản thân bệnh động kinh [23].

3. Các nhóm tuổi và CLS tổng thể

Qua Biểu đồ 3.3 và Bảng 3.31 chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt nhiều và điểm trung bình CLS tổng thể của ba nhóm tuổi. Phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt điểm trung bình CLS tổng thể giữa các nhóm tuổi không có ý nghĩa với p > 0,05.

Nghiên cứu CLS của 200 bệnh nhân động kinh tại thành phố Tehran (Iran) năm 2007 (sử dụng Bảng câu hỏi điều tra SF - 36) cho thấy tuổi không ảnh hưởng đến CLS [63].

Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Thái Lan công bố năm 2009 cũng ghi nhận tuổi không ảnh hưởng đến CLS [45].

Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh lớn tuổi tại Kansas (Hoa Kỳ) cũng ghi nhận CLS bệnh nhân động kinh lớn tuổi không khác biệt so với CLS bệnh nhân động kinh trẻ tuổi [38].

4. Tình trạng hôn nhân và CLS tổng thể

Qua Bảng 3.32 chúng ta nhận thấy những bệnh nhân động kinh có gia đình thì điểm CLS tổng thể cao nhất (51,2), những bệnh nhân động kinh là góa/ ly hôn/ ly thân có điểm trung bình CLS tổng thể thấp nhất (45,0). Tuy nhiên, phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt điểm trung bình CLS tổng thể giữa các nhóm hôn nhân không có ý nghĩa với p > 0,05.

Kết quả trên cũng phù hợp với nghiên cứu năm 2009 của Abhik Sinha và cộng sự trên 204 bệnh nhân động kinh tại Tây Bengal (Ấn Độ), tức không có sự khác biệt CLS có ý nghĩa thống kê đối với các nhóm bệnh nhân động kinh theo tình trạng hôn nhân [9].

5. Trình độ văn hóa và CLS tổng thể

Qua Bảng 3.33 chúng ta thấy điểm trung bình CLS tổng thể cao nhất ở nhóm có trình độ trung học phổ thông (54,4), thấp nhất ở nhóm mù chữ (34,9).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể của các nhóm trình độ văn hóa cho thấy sự khác biệt điểm trung bình CLS tổng thể giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Để lý giải điều này chúng tôi tiếp tục phân tích sâu về điểm trung bình Beck trầm cảm của các nhóm học vấn thì nhận thấy điểm Beck trầm cảm của nhóm mù chữ (13,6) là cao hơn so với của các nhóm còn lại. Tiếp tục so sánh điểm Beck trầm cảm trung bình giữa các nhóm học vấn thì thấy sự khác biệt nói trên có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Do vậy, lý giải kết quả thu được ở Bảng 3.33 chúng tôi cho rằng điểm trung bình CLS tổng thể thấp nhất ở nhóm mù chữ có khả năng liên quan đến điểm trầm cảm cao ở nhóm này.

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CLS của 147 bệnh nhân động kinh tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Cipto Mangunkusumo (Indonesia) năm 2005 ghi nhận trình độ văn hóa thấp là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt làm giảm CLS [40].

Trong khi đó, nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Thái Lan công bố năm 2009 lại ghi nhận trình độ văn hóa không ảnh hưởng đến CLS [45].



6. Nghề nghiệp và CLS tổng thể

Qua Bảng 3.34 chúng ta thấy nhóm viên chức/ văn phòng có điểm trung bình CLS tổng thể cao nhất (76,3), tiếp theo là nhóm buôn bán (60,6), thấp nhất là nhóm không có nghề nghiệp (42,0).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể của các nhóm nghề nghiệp cho thấy sự khác biệt điểm trung bình CLS tổng thể giữa các nhóm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Như vậy nghề nghiệp có ảnh hưởng đến điểm trung bình CLS tổng thể của bệnh nhân động kinh.

Nghiên cứu của tác giả F. Rajabi và cộng sự tại Tehran (Iran) năm 2007 cũng ghi nhận những bệnh nhân động kinh không có nghề nghiệp thì CLS thấp hơn hẳn so với các bệnh nhân hiện đang có việc làm [63].

7. Tình trạng công việc hiện tại và CLS tổng thể

Bảng 3.35 cho thấy những bệnh nhân động kinh hiện đang có việc làm có điểm trung bình CLS tổng thể (59,9), cao hơn so với nhóm bệnh nhân động kinh hiện thất nghiệp (41,7).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể hai nhóm trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Như vậy tình trạng công việc hiện tại ảnh hưởng tới CLS tổng thể của bệnh nhân động kinh.

8. Thu nhập và CLS tổng thể

Bảng 3.36 cho thấy những bệnh nhân động kinh thuộc hộ không nghèo có điểm CLS tổng thể (61,5) cao hơn so với nhóm bệnh nhân động kinh thuộc hộ nghèo (43,2).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể hai nhóm trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Như vậy điều kiện kinh tế ảnh hưởng tới CLS tổng thể của bệnh nhân động kinh.

Một nghiên cứu năm 2002 của Rajesh Jacob và Prathap Tharyan về các yếu tố ảnh hưởng trên CLS bệnh nhân động kinh tại Ấn Độ. Trong nghiên cứu này các tác giả nhận thấy những bệnh nhân động kinh có thu nhập thấp thì có tỉ lệ cao các rối loạn tâm thần kết hợp và thông qua đó ảnh hưởng xấu đến CLS [64].

9. Thời gian bị bệnh động kinh và CLS tổng thể

Bảng 3.37 cho thấy những bệnh nhân động kinh bị bệnh từ 1 – 5 năm có điểm CLS tổng thể (55,8) cao hơn so với nhóm bệnh nhân động kinh bị bệnh trên 5 năm (47,6).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể hai nhóm trên bằng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Như vậy thời gian bị bệnh có ảnh hưởng tới CLS tổng thể của bệnh nhân động kinh.

Kết quả thu được của chúng tôi ngược lại với kết quả thu được trong nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Thái Lan công bố năm 2009, theo đó ghi nhận thời gian bị động kinh không ảnh hưởng đến CLS [45].



10. Thể động kinh và CLS tổng thể

Bảng 3.38 cho thấy những bệnh nhân động kinh cục bộ có điểm CLS tổng thể (52,6 và 47,8) cao hơn so với nhóm bệnh nhân động kinh toàn thể (45,2).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể hai nhóm trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Như vậy động kinh cục bộ có CLS tổng thể tốt hơn động kinh toàn thể.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu CLS của 147 bệnh nhân động kinh tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Cipto Mangunkusumo (Indonesia) năm 2005, trong đó kết luận động kinh toàn thể làm giảm CLS nhiều hơn so với động kinh cục bộ [40].

Nghiên cứu của các tác giả Mexico là Alanis – Guevara và cộng sự từ năm 2002 đến năm 2004 trên 401 bệnh nhân động kinh tại Viện quốc gia Động kinh và Phẫu thuật Thần kinh của Mexico cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về CLS giữa các thể động kinh khác nhau [12].



11. Tần số cơn động kinh và CLS tổng thể

Qua Bảng 3.39 chúng ta thấy nhóm bệnh nhân động kinh có tần số cơn càng dày thì điểm trung bình CLS tổng thể càng thấp dần.

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể các nhóm trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Các tác giả nước ngoài cũng đã ghi nhận điều này, tần số cơn động kinh càng dày càng ảnh hưởng tiêu cực tới CLS [31], [40], [45]. Tần số cơn động kinh dày hơn, phản ánh sự khó khăn hơn trong kiểm soát cơn động kinh sẽ kết hợp với CLS nghèo nàn hơn [9].

Nghiên cứu năm 2007 tại Tehran cũng xác nhận ảnh hưởng của tần số cơn động kinh và thời gian tính từ cơn gần nhất đối với CLS [35].

Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh ở Miền Nam Thái Lan cũng xác nhận tần số cơn động kinh càng dày càng làm giảm CLS của bệnh nhân [45].

Nghiên cứu của Cynthya L. Harden và các cộng sự trên 118 bệnh nhân nữ cũng xác nhận bằng chứng rằng có một liên hệ giữa độ nặng của cơn động kinh và CLS, thậm chí khi kiểm soát được trầm cảm. Đặc biệt là những kết quả này gợi ý rằng độ nặng của các cơn có thể khởi phát sự phát triển hoặc làm tăng lo âu và/ những hành vi cách ly xã hội [24].

Nghiên cứu tại Tây Bengal (Ấn Độ) cũng ghi nhận CLS càng nghèo nàn nếu tần số cơn động kinh càng dày [9].

Như vậy tần số cơn động kinh là một yếu tố dự đoán CLS nghèo nàn [49], [52].

12. Biến chứng chấn thương do cơn động kinh và CLS tổng thể

Nhóm bệnh nhân động kinh có biến chứng chấn thương do cơn động kinh có điểm trung bình CLS tổng thể là 44,26 điểm, nhóm bệnh nhân không có biến chứng chấn thương do cơn động kinh có điểm trung bình CLS tổng thể là 51,67 (Bảng 3.40).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể hai nhóm trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Như vậy, việc cơn động kinh gây chấn thương có ảnh hưởng đến CLS của bệnh nhân động kinh.



13. Đa trị liệu và CLS tổng thể

Theo kết quả thu được của chúng tôi, nhóm bệnh nhân động kinh dùng đơn trị liệu có điểm trung bình CLS tổng thể là 51,18 điểm, nhóm bệnh nhân dùng đa trị liệu có điểm trung bình CLS tổng thể là 45,70 (Bảng 3.41).

So sánh điểm trung bình CLS tổng thể hai nhóm trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu CLS của 147 bệnh nhân động kinh tại Khoa Thần kinh, Bệnh viện Cipto Mangunkusumo (Indonesia) năm 2005, theo đó đa trị liệu làm giảm CLS [40].

Nghiên cứu CLS của bệnh nhân động kinh tại Tây Bengan ghi nhận bệnh nhân dùng hai thuốc chống động kinh trở lên có CLS thấp [9].

Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Tehran (Iran) thì ghi nhận loại thuốc sử dụng không ảnh hưởng đến CLS nhưng đơn trị liệu giúp bệnh nhân cải thiện CLS [63].

Một yếu tố khác có thể ảnh hưởng đến CLS bệnh nhân động kinh đó là sự thích nghi với điều trị thuốc, bệnh nhân động kinh nào càng thích nghi với điều trị thuốc thì CLS càng tăng [75]. Năm 2008, Collin A. Hovinga và cộng sự nghiên cứu về mối liên quan giữa dung nạp thuốc chống động kinh với CLS của bệnh nhân động kinh thấy rằng tỉ lệ không dung nạp thuốc là 29 % và kết hợp với giảm kiểm soát cơn, giảm chất lượng sống [24].

Hạn chế của đề tài nghiên cứu của chúng tôi là chưa đánh giá được yếu tố này, do vậy chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu vấn đề này trong tương lai.



VII. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỐNG BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH

1. Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý và điều trị động kinh hiện nay: Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng công tác quản lý và điều trị động kinh hiện nay vẫn còn một số điểm tồn tại như sau

- Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành y tế và các ngành khác (giáo dục và dạy nghề, LĐTB và XH, ...), do vậy việc điều trị động kinh chỉ đơn thuần do ngành y tế đảm nhiệm trên phương diện điều trị thuốc là chính.

- Việc phát hiện sớm và điều trị sớm bệnh nhân động kinh còn gặp nhiều khó khăn do các rào cản văn hóa xã hội.

- Việc điều trị còn thiên về hóa trị liệu, khuynh hướng đa trị liệu mà chưa quan tâm đến việc nâng cao CLS cho bệnh nhân động kinh.



2. Các giải pháp nâng cao CLS bệnh động kinh: Như các phần trên chúng tôi đã đề cập, nghiên cứu của chúng tôi đã xác định được hai mục tiêu then chốt đã đề ra đó là:

Thứ nhất, CLS của bệnh nhân động kinh tại thành phố Đà Nẵng chỉ ở mức trung bình.

Thứ hai, xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến CLS của bệnh nhân động kinh tại thành phố Đà Nẵng.

Với mục tiêu thứ nhất, chúng tôi thấy cần phải nâng cao CLS cho bệnh nhân động kinh tại thành phố Đà Nẵng.

CLS bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, do vậy về mặt lý thuyết muốn nâng cao CLS cho bệnh nhân động kinh chúng ta cần tác động vào tất cả các yếu tố đó.

Tuy nhiên, trong thực tế sẽ có những yếu tố chúng ta tác động được nhưng cũng có những yếu tố nằm ngoài khả năng can thiệp.

Những yếu tố chúng ta có thể can thiệp là:

- Chẩn đoán sớm và điều trị sớm động kinh.

- Phát hiện và điều trị các rối loạn trầm cảm – lo âu trên bệnh nhân động kinh.

- Lựa chọn thuốc điều trị, ưu tiên đơn trị liệu.

- Kiểm soát tốt cơn động kinh.

- Ngăn ngừa chấn thương do cơn động kinh.

- Nghề nghiệp và công việc.

- Thu nhập.

Những yếu tố chúng ta không thể can thiệp là:

- Thể động kinh.

- Thời gian bị bệnh.

- Tần số cơn động kinh (Với động kinh kháng trị).

Dựa vào điều kiện kinh tế xã hội của thành phố Đà Nẵng và hệ thống chăm sóc quản lý, điều trị bệnh động kinh có sẵn chúng tôi xin đề xuất các nhóm giải pháp sau:

1. Nhóm giải pháp liên quan đến vấn đề chẩn đoán và điều trị

1.1. Chẩn đoán sớm và điều trị sớm động kinh

Cũng như các bệnh lý khác, việc chẩn đoán và điều trị sớm bệnh động kinh sẽ giúp bệnh nhân có tiên lượng tốt về sau. Tuy nhiên, điều này vẫn còn gặp nhiều khó khăn do các rào cản sau:

- Tại nhiều địa phương, nhất là vùng nông thôn và miền núi còn quan niệm đây là bệnh liên quan đến “ma quỷ, âm dương”, do vậy khi một người bị lên cơn động kinh thì ngay lập tức được đưa đi cúng bái, chữa trị bằng các loại thuốc “đông y” hoàn toàn không có tác dụng.

- Tâm lý không muốn điều trị bằng thuốc tây vì sợ độc hại nếu sử dụng kéo dài.

- Dấu bệnh do mặc cảm, kỳ thị.

Vì những lý do nói trên, hiện nay việc chẩn đoán sớm và điều trị sớm cho bệnh nhân động kinh vẫn còn gặp nhiều khó khăn, nhất là những nơi xa xôi, hẻo lánh, điều kiện kinh tế văn hóa thấp.

Do vậy giải pháp cho vấn đề này là:

a. Tăng cường công tác truyền thông về bệnh động kinh: Truyền thông nhằm mục đích là thay đổi nhận thức của người dân về bệnh động kinh, phát hiện sớm bệnh động kinh và đưa người bệnh đi điều trị sớm. Công tác truyền thông cần phải được làm thường xuyên, liên tục và lâu dài.

- Cơ quan chủ trì: Bệnh viện tâm thần.

- Cơ quan phối hợp: Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, các trung tâm y tế quận/ huyện, các trạm y tế xã/ phường, đội ngũ cộng tác viên tại các xã/ phường.

- Đối tượng đích: nhân dân, gia đình người bệnh động kinh.

- Nội dung truyền thông:

+ Các kiến thức cơ bản về động kinh, biểu hiện lâm sàng,… cần nhấn mạnh trong nội dung truyền thông rằng đây là bệnh không do ma quỷ gây ra, bệnh có thể chữa được và được điều trị miễn phí (với các thuốc trong chương trình).

+ Nâng cao nhận thức, kỹ năng chăm sóc cho người thân của bệnh nhân động kinh: Bệnh nhân động kinh và những người chăm sóc phải được thông tin về diễn biến bệnh, tiên lượng, các mục tiêu điều trị, những nguy cơ và lợi ích của điều trị (bao gồm những nguy cơ sinh ra do sự kém kiềm chế cảm xúc và ngừng điều trị đột ngột).

- Phương tiện truyền thông: tờ rơi, áp phích, báo, đài phát thanh, truyền hình.

- Địa điểm truyền thông: tại các gia đình trong khu dân cư, các cuộc họp của tổ dân phố, nhân các sự kiện, …

b. Tập huấn tăng cường năng lực phát hiện sớm và quản lý bệnh động kinh cho tuyến y tế cơ sở.

- Cơ quan chủ trì: Bệnh viện Tâm thần.

- Cơ quan phối hợp: các trung tâm y tế quận/ huyện, các trạm y tế xã/ phường, đội ngũ cộng tác viên tại các xã/ phường.

- Nội dung tập huấn:

+ Tập huấn các kỹ năng phát hiện, chẩn đoán, theo dõi điều trị và quản lý bệnh nhân động kinh tại tuyến cơ sở. Kỹ năng phát hiện bệnh động kinh cần tập trung vào việc làm sao phát hiện sớm bệnh nhân động kinh. Sau khi phát hiện được bệnh nhân có biểu hiện động kinh thì tuyến y tế cơ sở sẽ giới thiệu bệnh nhân đến khám tại Bệnh viện Tâm thành phố, tại đây bệnh nhân sẽ được khám lâm sàng, kiểm tra điện não đồ để xác định chẩn đoán. Tiếp theo, bệnh nhân sẽ được chuyển sang Phòng Chỉ đạo tuyến và quản lý bệnh nhân tâm thần tại cộng đồng để làm bệnh án điều trị ngoại trú. Cuối cùng, bệnh án này sẽ được chuyển về quản lý tại trạm y tế địa phương. Hàng tháng bệnh nhân sẽ được tái khám và nhận thuốc điều trị tại trạm y tế địa phương dưới sự giám sát của các bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Những việc cần làm trong mỗi lần tái khám là kiểm tra việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân, kiểm tra đáp ứng điều trị, tác dụng phụ của thuốc, bệnh nhân có bị trầm cảm và lo âu kết hợp hay không,... dựa vào kết quả kiểm tra để có hướng xử lý thích hợp.

+ Tập huấn công tác truyền thông về bệnh động kinh cho nhân viên các trạm y tế xã/ phường, đội ngũ cộng tác viên. Nội dung tập huấn tập trung vào việc phát hiện sớm và quản lý bệnh động kinh cho tuyến y tế cơ sở.

c. Tăng cường nhân lực cho y tế cơ sở: hiện tại nhân lực tại các trạm y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu, trong khi đó họ phải phụ trách rất nhiều chương trình khác nhau (Tiêm chủng mở rộng, Lao, HIV/AIDS, phòng chống mù lòa, Tâm thần phân liệt và Động kinh,…). Do vậy, việc tăng cường nhân lực cho các trạm là vô cùng quan trọng.

Bệnh viện Tâm thần sẽ phối hợp cùng các trung tâm y tế quận/ huyện đánh giá nhu cầu nhân lực (cán bộ chuyên trách quản lý bệnh nhân động kinh) cho các TTYT quận/ huyện và các trạm y tế xã/ phường. Đối chiếu với số nhân lực hiện tại để có cơ sở đề xuất với Sở Y tế, Sở Nội vụ trình UBND thành phố cho thêm chỉ tiêu nhân lực.




Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương