“Nghiên cứu chất lượng sống bệnh nhân động kinh ở người lớn tại thành phố Đà Nẵng”



tải về 0.8 Mb.
trang7/11
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích0.8 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Nhóm bệnh nhân động kinh dùng đơn trị liệu có điểm trung bình CLS tổng thể là 51,18 điểm, nhóm bệnh nhân dùng đa trị liệu có điểm trung bình CLS tổng thể là 47,50 điểm.

Chương 4

BÀN LUẬN
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1. Tuổi

Trong số 300 bệnh nhân của chúng tôi, bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 16 tuổi, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 60 tuổi. Tuổi trung bình là 35,35.

Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Thái Lan năm 2007 thì tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 32,52 tuổi [45], nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Tây Tạng (Trung Quốc) năm 2007 thì tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 28 tuổi [80], nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Tehran (Iran) năm 2006 thì tuổi trung bình của bệnh nhân nghiên cứu là 32,60 tuổi [63].

Tuổi trung bình bệnh nhân động kinh trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn một chút so với các nghiên cứu khác, tuy nhiên sự khác biệt này không lớn và độ tuổi này phù hợp với điều kiện để hoàn thành bảng đánh giá QOLIE - 31, bảng Beck trầm cảm và bảng Beck lo âu.



2. Giới

90 bệnh nhân trong nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Thái Lan năm 2007 có 43 bệnh nhân nam, 47 bệnh nhân nữ [45]. Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Tehran (Iran) năm 2006 thì 54,5 % bệnh nhân là nam [63]. Trong 37 bệnh nhân của nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Tây Tạng (Trung Quốc) năm 2007 có 19 bệnh nhân nam và 18 bệnh nhân nữ [80].

Nghiên cứu của chúng tôi có 300 bệnh nhân thì có 162 bệnh nhân nam và 138 bệnh nhân nữ (Tương ứng tỉ lệ 54 % và 46 %). Như vậy sự phân bố tỉ lệ bệnh nhân theo giới trong nghiên cứu của chúng tôi thì tỉ lệ nam: nữ cũng không khác nhiều so với nghiên cứu của Thái Lan và có phần tương đồng với nghiên cứu tại Iran và Trung Quốc.

3. Tình trạng hôn nhân

Trong nghiên cứu của chúng tôi lứa tuổi từ 31 – 45 có 43,9 % độc thân, lứa tuổi từ 46 – 60 có 31,3 % sống độc thân.

Trong 37 bệnh nhân của nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Tây Tạng (Trung Quốc) năm 2007 có 45,9 % kết hôn, 51,4 % độc thân, ly hôn là 2,7 % [80]. Nghiên cứu tại Tehran (Iran) có khoảng 60 % bệnh nhân động kinh là độc thân [63].

So sánh tỉ lệ bệnh nhân động kinh sống độc thân trong nghiên cứu của chúng tôi và hai nghiên cứu của Trung Quốc và Iran chúng ta thấy rằng tỉ lệ này khá cao (Ở Đà Nẵng lứa tuổi từ 31 – 45 có 43,9 %, lứa tuổi từ 46 – 60 có 31,3 %, ở Tây Tạng là 51,4 % và ở Tehran có khoảng 60 %).

Kết quả thu được của chúng tôi cũng xác nhận tỉ lệ khá cao bệnh động kinh sống độc thân. Một số nghiên cứu đã cho thấy người bị động kinh nhiều khả năng bị thất nghiệp và ít có khả năng lập gia đình [80].

Điều này phản ánh sự khó khăn của bệnh nhân động kinh đối với việc lập gia đình vì những lý do khác nhau như sự kỳ thị của cộng đồng, sự không đảm bảo về kinh tế và sức khỏe, sự thay đổi về mặt nhân cách,…



4. Nghề nghiệp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân động kinh là lao động phổ thông chiếm tỉ lệ cao nhất (19,3 %), buôn bán và viên chức/ văn phòng chiếm tỉ lệ thấp hơn.

Đặc biệt, có tới 56,0 % bệnh nhân động kinh không có nghề nghiệp. Điều này nói lên sự khó khăn của bệnh nhân động kinh trong việc học nghề và tìm cho mình một công việc thích hợp. Theo các nghiên cứu dịch tễ học thì số bệnh nhân động kinh phát bệnh trước 6 tuổi chiếm 60 %, đồng thời khoảng 85 % bệnh nhân động kinh ở các nước đang phát triển không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách [1]. Chính hai yếu tố nói trên ảnh hưởng đến khả năng học tập của trẻ, bệnh tiến triển càng lâu thì khả năng học tập càng kém, nhân cách thay đổi do vậy khi bước vào tuổi lao động đa số bệnh nhân động kinh đều không có nghề nghiệp, có chăng chỉ là những công việc mang tính chất giản đơn và thời vụ.

5. Tình trạng công việc hiện tại của bệnh nhân động kinh

Nghiên cứu tại Tehran (Iran) năm 2006 có 29 % bệnh nhân động kinh đang thất nghiệp [63].

Nghiên cứu của chúng tôi có 53,0 % bệnh nhân động kinh đang thất nghiệp (Bảng 3.5). Đây là một tỉ lệ cao so với quần thể người lao động có sức khỏe bình thường vì theo Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì tỉ lệ thất nghiệp sáu tháng đầu năm 2011 ở Việt Nam ước tính là 2,58 % [8].

Tỉ lệ thất nghiệp cao phản ánh tình trạng khó khăn của bệnh nhân động kinh trong cuộc sống. So với người bình thường, bệnh nhân động kinh khó học việc hơn, khó tìm việc phù hợp với sức khỏe của mình và nếu có tìm được việc cũng khó duy trì được công việc trong thời gian dài. Điều này được Albena Grabowska – Grzyb và các cộng sự kết luận trong một nghiên cứu là những bệnh nhân động kinh bị trầm cảm thường bỏ việc vì khí sắc trầm, giảm các hoạt động, rối loạn nhận thức và thay đổi nhịp sinh học. Chính những yếu tố này tác động tiêu cực đến khả năng lao động của họ [13].

Trong Bảng 3.5 có 15,3 % số bệnh nhân được hỏi không cung cấp thông tin về tình trạng công việc hiện tại của họ, có lẽ đây là vấn đề nhạy cảm do vậy tỉ lệ không không cung cấp thông tin khá cao. Tuy nhiên, do cỡ mẫu đủ lớn nên các số liệu còn lại vẫn có ý nghĩa thống kê khi xử lý.

6. Mức thu nhập của gia đình bệnh nhân động kinh

Kết quả từ nghiên cứu này cho thấy số bệnh nhân động kinh thuộc hộ nghèo chiếm 60 %, số bệnh nhân động kinh thuộc hộ không nghèo chiếm 25,7 %. Có 43 bệnh nhân (14,3 %) không xác định được mức thu nhập của gia đình.

Như vậy chúng ta thấy tỉ lệ bệnh nhân động kinh sống trong hộ nghèo cao hơn nhiều so với quần thể bình thường vì theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì tỉ lệ hộ nghèo năm 2010 ở Việt Nam là 9,45 % [8].

II. ĐẶC ĐIỂM BỆNH ĐỘNG KINH

1. Thời gian mắc bệnh động kinh của các đối tượng

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân mắc bệnh trên 5 năm chiếm đa số (86,2 %), tiếp theo là bệnh nhân mắc bệnh từ 1 – 5 năm (12,7 %).

Đây là những con số hợp lý vì hầu hết những bệnh nhân động kinh đang được điều trị đều là những bệnh nhân đã được chẩn đoán, quản lý và điều trị ngoại trú từ nhiều năm nay.

2. Thể động kinh của các đối tượng

Về thể động kinh, trong nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy động kinh cục bộ chiếm đa số (47,6 %) (trong đó cơn cục bộ toàn thể hóa chiếm 38,3 %, cơn cục bộ vận động chiếm 9,3 %); Động kinh toàn thể co cứng - co giật chiếm 44,3 % và 8,0 % số bệnh nhân không xác định được thể động kinh.

Tỉ lệ thu được trong đề tài nghiên cứu này phù hợp với một số kết quả của các nghiên cứu khác đã công bố, theo đó ở các nước đang phát triển, động kinh cục bộ chiếm tỉ lệ cao hơn động kinh toàn thể [1].

Tỉ lệ động kinh cục bộ cao tại các nước đang phát triển phản ánh tần suất khá cao của động kinh triệu chứng, mắc phải sau tổn thương chu sinh, nhiễm trùng và chấn thương đầu.

Một nghiên cứu khác trên người lớn nhận thấy 55 – 60 % bệnh nhân động kinh có cơn cục bộ hoặc những cơn liên quan đến cục bộ, 26 – 32 % có cơn toàn thể tiên phát và 8 – 17 % có các cơn không phân loại được [66].

3. Tần số cơn động kinh

Về tần số cơn động kinh, qua Bảng 3.9 chúng ta thấy số bệnh nhân động kinh có cơn càng dày chiếm số lượng càng ít dần. Cụ thể là số bệnh nhân không có cơn trong năm qua chiếm 24,7 %,  1 cơn/ năm nhưng không quá 1 cơn/ tháng chiếm 40,7 %, số bệnh nhân có tần số cơn động kinh  1 cơn/ tháng nhưng không quá 1 cơn/ tuần chiếm 19,3 %, số bệnh nhân có tần số cơn động kinh > 1 cơn/ tuần nhưng không quá 1 cơn/ ngày chiếm 7,7 %, số bệnh nhân có tần số cơn động kinh > 1 cơn/ ngày chiếm 2,7 %.

Việc phân loại tần số cơn động kinh như trên được tham khảo từ một nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Miền Nam Thái Lan. Theo nghiên cứu của Thái Lan thì tỉ lệ bệnh nhân động kinh có cơn càng dày càng giảm dần, cụ thể như sau: số bệnh nhân không có cơn trong năm qua hoặc có tần số cơn động kinh  1 cơn/ năm nhưng không quá 1 cơn/ tháng là 62,2 %, số bệnh nhân có tần số cơn động kinh  1 cơn/ tháng nhưng không quá 1 cơn/ tuần là 21,11 %, số bệnh nhân có tần số cơn động kinh > 1 cơn/ tuần nhưng không quá 1 cơn/ ngày là 10,00 %, số bệnh nhân có tần số cơn động kinh > 1 cơn/ ngày là 6,67 %.

Như vậy những bệnh nhân động kinh trong nghiên cứu của chúng tôi cũng có tần số xuất hiện cơn động kinh tương tự nghiên cứu tại Miền Nam Thái Lan. Điều này nói lên rằng khả năng kiểm soát cơn động kinh của những bệnh nhân được điều trị tại Đà Nẵng là khá tốt.



4. Biến chứng chấn thương do cơn động kinh gây ra

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 33,3 % bệnh nhân từng bị chấn thương do cơn động kinh gây ra, 54,7 % bệnh nhân không bị chấn thương do cơn động kinh gây ra.

Tỉ lệ trên khá phù hợp với tỉ lệ thu được trong nghiên cứu tại Miền Nam Thái Lan là 43,33 % bệnh nhân bị chấn thương do cơn động kinh gây ra và 56,67 % bệnh nhân không bị chấn thương [45].

5. Dùng đơn trị liệu và đa trị liệu

Về vấn đề dùng đơn trị liệu hay đa trị liệu, 57,3 % số bệnh nhân động kinh trong nghiên cứu dùng đơn trị liệu và 42,7 % số bệnh nhân dùng đa trị liệu.

Nghiên cứu tại Miền Nam Thái Lan là 75 % bệnh nhân động kinh dùng đơn trị liệu và 25 % bệnh nhân dùng đa trị liệu [45]. Như vậy tỉ lệ bệnh động kinh dùng đơn trị liệu tại Miền Nam Thái Lan cao hơn tại Đà Nẵng.

III. ĐẶC ĐIỂM CHẤT LƯỢNG SỐNG BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH

1. Tổng hợp điểm của 7 yếu tố cấu thành CLS bệnh nhân động kinh

Như trong phần tổng quan chúng tôi đã đề cập, trên cơ sở của các nghiên cứu đã được làm ở nhiều quốc gia khác nhau, chúng tôi nhận thấy Bảng đánh giá CLS bệnh nhân động kinh 31 câu (QOLIE – 31) là bảng được nhiều nước sử dụng (trong đó có các nước Châu Á) có độ tin cậy cao, do vậy chúng tôi quyết định chọn bảng này đề đánh giá.

Qua bảng 3.12 chúng ta thấy điểm CLS tổng thể của bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng là 48,8. Trong các thành phần cấu tạo nên CLS thì điểm cao nhất là CLS chung (55,2 điểm), điểm thấp nhất là Sinh lực/ mệt mỏi (40,2 điểm) và Lo cơn động kinh (40,3 điểm).

2. So sánh điểm CLS tổng thể của bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng với hai nghiên cứu tương tự tại Kansas và Tây Tạng

So sánh kết quả thu được tại Đà Nẵng với các kết quả nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Kansas (Hoa Kỳ) năm 2007 [38] và một nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Khu tự trị Tây Tạng năm 2007 [80] (Bảng 3.42).



Bảng 3.42. So sánh điểm CLS tổng thể 3 nghiên cứu


Yếu tố

Đà Nẵng

(2010)

Kansas

(2007)

Tây Tạng

(2007)

Lo cơn động kinh

40,3

69,9

22,6

CLS chung

55,2

64,6

47,3

Cảm giác dễ chịu

49,8

66,6

42,4

Năng lượng/ mệt mỏi

40,2

51,9

43,2

Nhận thức

46,5

61,4

40,6

Ảnh hưởng của thuốc

50,6

65,6

85,8

Chức năng xã hội

54,7

65,6

41,2

CLS tổng thể

48,8

62,7

42,2

Qua Bảng 3.42 chúng ta thấy điểm trung bình của các yếu tố cấu thành CLS bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng ở mức trung bình, thấp hơn điểm trung bình trong nghiên cứu tại Kansas nhưng lại cao hơn kết quả nghiên cứu tại Tây Tạng.

Về vấn đề Lo cơn động kinh, điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi là 40,36 trong khi đó điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu tại Kansas là 69,9. Như vậy bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi (tuổi trung bình là 35,42) lo lắng về sự xuất hiện của cơn động kinh nhiều hơn bệnh nhân trong nghiên cứu tại Kansas (tuổi trung bình là 66), giải thích vấn đề này các nhà nghiên cứu tại Kansas đã cho rằng Lo cơn động kinh có khuynh hướng ít liên quan hơn đối với bệnh nhân động kinh lớn tuổi so với bệnh nhân động kinh trẻ tuổi ở các nghiên cứu khác. Điều này có thể được giải thích bằng thực tế rằng các cơn động kinh ở người già thường được khống chế tốt. Thêm vào đó, một số nhà nghiên cứu lý luận rằng người già thích nghi đối với những thay đổi về sức khỏe của họ qua thời gian và nhận thức kỳ vọng xã hội của họ thì ít hơn so với người trẻ hoặc người trung niên [38]. Điểm lo cơn động kinh trong nghiên cứu tại Tây Tạng là 22,6 nói lên một điều là những bệnh nhân động kinh tại đây rất lo lắng về việc sẽ xuất hiện các cơn động kinh. Điều này dễ hiểu vì theo các tác giả của nghiên cứu hầu hết bệnh nhân động kinh tại Tây Tạng chỉ dùng các thuốc dân gian để chữa bệnh động kinh [80].

Ngạc nhiên hơn, về vấn đề ảnh hưởng của thuốc, cả nghiên cứu của chúng tôi và nghiên cứu tại Kansas điểm thu được lần lượt là 50,62 và 65,6 nhưng kết quả thu được tại Tây Tạng là 85,8. Điều này chứng tỏ bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng và Kansas khá lo lắng về việc thuốc chống động kinh ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh hoạt,… khi dùng kéo dài, trong khi đó bệnh nhân động kinh tại Tây Tạng lại ít lo lắng về vấn đề này. Điều này có thể được lý giải là trong nghiên cứu tại Tây tạng có gần 60 % số bệnh nhân được điều trị bằng thuốc truyền thống của Tây Tạng, do đó họ hầu như không bị tác dụng phụ của điều trị ảnh hưởng đến cuộc sống [80]. Chính vì vậy điểm Ảnh hưởng của thuốc ở bệnh nhân động kinh tại Tây Tạng đạt 85,8.

Trong ba nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng, Kansas và Tây Tạng thì điểm CLS tổng thể của bệnh nhân động kinh tại Đà Nẵng đạt mức trung bình (48,8), tại Kansas cao hơn một chút (62,7). Điểm CLS thấp nhất của bệnh nhân động kinh tại Tây Tạng (42,2), điều này chỉ ra CLS nghèo nàn của bệnh nhân động kinh ở miền nông thôn Tây Tạng [80].

IV. ĐẶC ĐIỂM RỐI LOẠN TRẦM CẢM

1. Đặc điểm lâm sàng trầm cảm

Ở bệnh nhân động kinh, có tỉ lệ cao các rối loạn tâm thần kết hợp [73]. Một nghiên cứu trên 60 bệnh nhân động kinh tại bệnh viện Rasoul Akram, Tehran (Iran) về rối loạn tâm thần kết hợp trên bệnh nhân động kinh cho thấy tỉ lệ hiện mắc các rối loạn tâm thần nặng kết hợp trên bệnh nhân động kinh là 68,3% [15].

Những nghiên cứu trong 20 năm qua cho thấy rằng trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần kết hợp phổ biến nhất với bệnh nhân động kinh ở mọi lứa tuổi [58], [65], [76], trầm cảm là nguyên nhân phổ biến gây ra hành vi toan tự sát và tự sát ở bệnh nhân động kinh [56].

Trầm cảm ở bệnh nhân động kinh vẫn chưa được chẩn đoán và chưa được điều trị [14], [79].

Do não chi phối tình cảm và cảm xúc của con người nên việc rối loạn chức năng hoạt động bình thường của não có thể gây trầm cảm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người có tổn thương thùy trán và thùy thái dương dễ bị mắc trầm cảm hơn những người bị tổn thương những vùng khác của não.

Người ta gợi ý rằng có một mối liên quan hai chiều giữa động kinh và trầm cảm. Nhiều nghiên cứu gợi ý rằng trầm cảm và động kinh có thể chia sẻ những cơ chế sinh bệnh tương tự và sự hiện diện của cái này có thể thúc đẩy sự phát triển của cái kia và ngược lại.

Trầm cảm ở bệnh nhân động kinh có thể xảy ra với những biểu hiện sau:

- Các triệu chứng trầm cảm có thể xảy ra ngay trước khi có cơn động kinh. Các triệu chứng thường ngắn và cảm xúc người bệnh trở lại bình thường khi hết cơn.

- Các triệu chứng trầm cảm có thể xảy ra sau cơn. Trong tình huống đó, các triệu chứng kéo dài trong vài giờ và hiếm khi kéo dài tới hai tuần.

- Biểu hiện thường xuyên nhất của trầm cảm ở bệnh nhân động kinh là trầm cảm giữa các cơn động kinh. Loại trầm cảm này không bị ảnh hưởng bởi việc kiểm soát cơn động kinh. Đối với loại trầm cảm này người bệnh có biểu hiện giảm hứng thú trong các hoạt động hàng ngày, dễ bị kích thích, có thể có cảm giác tuyệt vọng, sợ hãi và lo lắng [41].

Trong nghiên cứu của mình chúng tôi thực hiện việc khảo sát trầm cảm giữa các cơn động kinh.

2. Tỉ lệ hiện mắc trầm cảm của các đối tượng theo thang đánh giá của Beck

Qua Bảng 3.13 và Bảng 3.14 chúng ta thấy tỉ lệ bệnh nhân động kinh bị trầm cảm trong nghiên cứu là 41,7 %, trong đó bệnh nhân động kinh nam bị trầm cảm là 40,7 %, bệnh nhân động kinh nữ bị trầm cảm là 42,8 %.

Trong khi đó tỉ lệ hiện mắc trầm cảm trong dân số chung là 1 - 3 % ở nam giới và 2 – 9 % ở nữ giới [74].

Như vậy chúng ta thấy tỉ lệ trầm cảm trên bệnh nhân động kinh cao hơn rất nhiều so với quần thể dân số chung. Tuy nhiên, nếu so sánh kết quả mà chúng tôi thu được với các kết quả của những nghiên cứu khác trên thế giới về tỉ lệ trầm cảm trên bệnh nhân động kinh thì chúng ta sẽ thấy không có sự khác biệt nhiều.

Trong các rối loạn tâm thần kết hợp trên bệnh nhân động kinh thì trầm cảm đứng đầu với tỉ lệ hiện mắc giữa các cơn là 9 – 55 % phụ thuộc vào dân số mẫu và phương pháp đánh giá [37], [74].

Ước lượng tỉ lệ hiện mắc của trầm cảm ở bệnh nhân động kinh có sự thay đổi, tỉ lệ cao nhất gặp ở bệnh nhân động kinh điều trị nội trú là 50 – 55 %. Một số nghiên cứu tại cộng đồng gợi ý rằng 20 – 30 % bệnh nhân động kinh vẫn còn cơn co giật bị trầm cảm, 6 – 9 % những bệnh nhân động kinh được kiểm soát tốt cơn co giật bị trầm cảm [32].

Năm 2005, một đề tài nghiên cứu trên 60 bệnh nhân tại Campinas, Brazil đã xác định tỉ lệ 31,6 % bệnh nhân động kinh bị trầm cảm, trong đó 40,63 % bệnh nhân nữ và 21,43 % bệnh nhân nam bị trầm cảm [32].

Nghiên cứu của Kanitpong Phabphal và cộng sự trên 126 bệnh nhân động kinh mạn tính tại Thái Lan năm 2007 cho thấy tỉ lệ hiện mắc trầm cảm trên bệnh nhân động kinh là 39 % [46].

Tháng 10/2007 một báo cáo khoa học của Hoa Kỳ đã ghi nhận trầm cảm là một nguy cơ lớn đối với phụ nữ bị động kinh tại Hoa Kỳ. Nghiên cứu thống kê ghi nhận 1/3 bệnh nhân động kinh nữ bị trầm cảm [49].

Năm 2009 một báo cáo của các tác giả Pakistan nghiên cứu trên 100 bệnh nhân động kinh điều trị nội trú nhận thấy có khoảng 61 % bị trầm cảm [21] (theo tiêu chuẩn của ICD – 10).

Một tổng kết khác của tác giả Enra Sujlic cho thấy rối loạn tâm thần kết hợp thường gặp nhất trên bệnh nhân động kinh là trầm cảm giữa các cơn động kinh, tỉ lệ hiện mắc thay đổi từ 40 – 60 % [34].

Như vậy, kết quả thu được từ đề tài nghiên cứu này cũng phù hợp với những kết quả thu được từ các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài, đó là tỉ lệ hiện mắc trầm cảm cao ở bệnh nhân động kinh. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh nhân động kinh nữ và bệnh nhân động kinh nam bị trầm cảm không có sự khác biệt nhiều.



3. Tỉ lệ trầm cảm theo hôn nhân

Theo Bảng 3.15 ta thấy nhóm bệnh nhân là góa/ ly hôn/ ly thân có tỉ lệ bị trầm cảm cao nhất (64,3 %), tiếp theo là nhóm bệnh nhân độc thân (42,5 %), cuối cùng là nhóm có gia đình (38,9 %). So sánh tỉ lệ trầm cảm giữa các nhóm trên cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê với p < 0,05. Như vậy, tình trạng hôn nhân có ảnh hưởng đến tỉ lệ trầm cảm của các đối tượng.

Nghiên cứu trên 100 bệnh nhân động kinh tại Islamabad (Pakistan) cho thấy những bệnh nhân bị động kinh có gia đình thì tỉ lệ bị trầm cảm cao hơn những bệnh nhân động kinh sống độc thân [21]. Các tác giả Pakistan giải thích kết quả trên có thể do những trách nhiệm hôn nhân là yếu tố gây stress [21].

Nghiên cứu của Kanitpong Phabphal và cộng sự trên 126 bệnh nhân động kinh mạn tính tại Thái Lan năm 2007 cho thấy tình trạng hôn nhân không liên quan đến trầm cảm [46].



4. Trầm cảm và tình trạng công việc hiện tại

Qua Bảng 3.16 ta thấy nhóm bệnh nhân động kinh đang thất nghiệp có tỉ lệ bị trầm cảm cao hơn nhóm bệnh nhân động kinh hiện đang có việc làm (53,45 % so với 25,26 %).

So sánh sự khác biệt tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm bệnh nhân động kinh hiện đang thất nghiệp và nhóm hiện đang có việc làm thì thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

Ở đây có mối quan hệ hai chiều giữa thất nghiệp và trầm cảm, trầm cảm làm bệnh nhân động kinh khó khăn trong việc tìm việc làm và duy trì công việc, khi mất việc hoặc không có công việc thì tỉ lệ bệnh nhân động kinh bị trầm cảm cũng như mức độ trầm cảm cũng nặng lên, khi trầm cảm nặng lên lại càng làm bệnh nhân động kinh khó tìm việc hơn.

Trong một bài viết đăng trên tạp chí Epilepsy and Behavior số tháng 4 năm 2003 bàn về những cơ chế gây trầm cảm trong bệnh động kinh, Hvorje Hecimovie và cộng sự đã nhấn mạnh mất khả năng lao động là một yếu tố mạnh gây trầm cảm trên bệnh nhân động kinh [37].



5. Trầm cảm và thu nhập

Qua bảng 3.17 ta thấy nhóm bệnh nhân động kinh sống trong hộ nghèo có tỉ lệ bị trầm cảm là 54,4 %, nhóm bệnh nhân động kinh sống trong hộ không nghèo có tỉ lệ bị trầm cảm là 18,2 %.

So sánh sự khác biệt tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm bệnh nhân động kinh nói trên thì thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

Nghiên cứu tỉ lệ trầm cảm trên 100 bệnh nhân động kinh tại thành phố Abbotabad (Pakistan) được công bố năm 2009 ghi nhận nhóm bệnh nhân có mức thu nhập hàng tháng càng thấp thì tỉ lệ trầm càng cảm cao [21].



6. Trầm cảm và thời gian bị bệnh động kinh

Nghiên cứu của Kanitpong Phabphal và cộng sự trên 126 bệnh nhân động kinh mạn tính tại Thái Lan năm 2007 nhận thấy không có mối liên hệ giữa thời gian bị bệnh động kinh và hội chứng trầm cảm.

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi (Bảng 3.18) chúng ta thấy nhóm bệnh nhân bị bệnh từ 1- 5 năm có 28,9 % bị trầm cảm trong khi đó nhóm bệnh nhân bị bệnh động kinh > 5 năm có 43,8 % bị trầm cảm [46].

So sánh sự khác biệt tỉ lệ trầm cảm giữa hai nhóm bệnh nhân động kinh nói trên thì thấy sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với P > 0,05.

Như vậy kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự kết quả nghiên cứu của các tác giả Thái Lan, tức không có mối liên hệ giữa thời gian bị bệnh động kinh và hội chứng trầm cảm.

7. Trầm cảm và tần số cơn động kinh

Qua Bảng 3.19 chúng ta thấy Nhóm bệnh nhân không có cơn trong năm qua thì 29,7 % bị trầm cảm; Nhóm bệnh nhân  1 cơn/ năm nhưng không > 1 cơn/ tháng có 38,5 % bị trầm cảm; Nhóm bệnh nhân > 1 cơn/ tháng nhưng không > 1 cơn/ tuần có 69,0 % bị trầm cảm.

So sánh sự khác biệt giữa ba nhóm trên thì nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Như vậy, nhóm bệnh nhân động kinh có tần số cơn càng dày càng có tỉ lệ bị trầm cảm cao (Hai nhóm còn lại chúng tôi không so sánh được vì cỡ mẫu không đủ lớn).

Kết quả thu được của chúng tôi cũng khá phù hợp với nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài, đó là bệnh nhân động kinh có tần số cơn càng cao, cường độ cơn càng mạnh càng có nguy cơ bị trầm cảm [11], [25], [62].

Nghiên cứu của Kanitpong Phabphal và cộng sự trên 126 bệnh nhân động kinh mạn tính tại Thái Lan năm 2007 cho thấy trầm cảm có liên quan đến tần số cơn động kinh [46].

Trong một nghiên cứu dịch tễ học, Jacoby và cộng sự nhận thấy rằng trầm cảm xảy ra ở 4 % bệnh nhân động kinh không có cơn, 10 % bệnh nhân bị ít hơn một cơn trong một tháng và 21 % ở những bệnh nhân có tần số cơn động kinh lớn hơn [53].

O’ Donoghue và cộng sự lưu ý rằng những bệnh nhân động kinh đang có cơn thì có nguy cơ rõ ràng bị trầm cảm so với những bệnh nhân không còn cơn (33 % so với 6 %) [53].

Một báo cáo của các tác giả Hy Lạp sau khi nghiên cứu trên 201 bệnh nhân động kinh nhận thấy tần số cơn động kinh là yếu tố nguy cơ độc lập đối với sự phát triển của lo âu và trầm cảm [76].





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương