“Nghiên cứu chất lượng sống bệnh nhân động kinh ở người lớn tại thành phố Đà Nẵng”



tải về 0.8 Mb.
trang3/11
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích0.8 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

b. Tiêu chí đánh giá CLS

- Phiếu thu thập dữ liệu về các vấn đề liên quan (xem phụ lục 1):

Xã hội-nhân trắc học, chẩn đoán lâm sàng, thuốc hiện dùng, …



- Thang đánh giá CLS bệnh nhân Động kinh– 31 câu (QOLIE – 31):

(Chi tiết thang đánh giá xem phụ lục 4). Thang đánh giá này được thiết kế để khảo sát CLS bệnh nhân động kinh từ 18 tuổi trở lên, tuy nhiên trong nghiên cứu này độ tuổi được khảo sát từ 16 tuổi trở lên.

QOLIE – 31 gồm bảy thang điểm nhỏ hơn khảo sát về các lãnh vực sức khỏe sau:

+ Cảm giác dễ chịu (emotional well-being)

+ Chức năng xã hội (social functioning)

+ Năng lượng/ mệt mỏi (energy/ fatigue)

+ Chức năng nhận thức (cognitive functioning)

+ Lo lắng cơn co giật xuất hiện lại (seizure worry)

+ Ảnh hưởng của thuốc (medication effects)

+ Chất lượng sống tổng thể (overal quality of life)

Tổng điểm của QOLIE-31 được tính bằng cách tính tổng trung bình của các thang điểm nhỏ lại [10]. QOLIE-31 cũng còn một mục riêng đánh giá sức khỏe toàn bộ (overall health).

Nguyên tắc tính điểm QOLIE-31: những giá trị số được mã hóa trên những mục của QOLIE-31 được hiểu theo nguyên tắc điểm càng cao phản ảnh tình trạng sức khỏe càng dễ chịu. Ví dụ: nếu bệnh nhân vòng tròn số “10” ở câu 1 tức là họ có “CLS tốt nhất”, ngược lại nếu họ vòng số “0” thì họ có “CLS tệ nhất”. Tuy nhiên, các giá trị số được mã hóa đối với một số câu trên QOLIE-31 lại ngược với nguyên tắc trên, tức số thấp hơn lại phản ảnh tình trạng sức khỏe dễ chịu hơn. Ví dụ: nếu bệnh nhân vòng số “1” cho câu 14 tức họ có CLS dễ chịu, trong khi nếu họ vòng số “5” sẽ phản ánh CLS ít dễ chịu hơn. Qua những ví dụ này chúng ta thấy, những câu khác nhau trong QOLIE-31 có giá trị số được mã hóa khác nhau.

Để giải quyết những khác biệt này, quá trình cho điểm đầu tiên sẽ hoán chuyển các số được mã hóa sang thang điểm 0 – 100, với thang điểm sau khi hoán chuyển càng cao sẽ phản ánh CLS càng dễ chịu (phụ lục 6). Để thực hiện bước này, viết trong thang điểm hoán chuyển cho mỗi mục trong cột có tên “subtotal” ở phụ lục 5. Sau đó, cộng lại các subtotal của mỗi thang điểm và viết ra những giá trị này ở phần total. Cuối cùng chia mỗi total cho số câu hỏi đã được trả lời trong mỗi thang điểm để được kết quả cuối cùng (final score). Kết quả cuối cùng của mỗi thang điểm sẽ dao động trong khoảng 0 – 100. Điểm cao hơn phản ánh CLS tốt hơn, điểm thấp hơn phản ánh CLS tệ hơn.

Cần lưu ý trong phụ lục 5, nếu bệnh nhân trả lời bao nhiêu câu thì khi chia điểm chỉ chia cho số câu bệnh nhân trả lời. Ví dụ: nếu câu 11 trong phần Lo cơn động kinh bệnh nhân để trống (tức là bệnh nhân trả lời 4 câu) thì phần total score được chia cho 4 (thay vì chia cho 5) để thu được final score.

Bằng các thuật toán thống kê, các nhà nghiên cứu đã tính toán một chỉ số khác để đánh giá CLS, đó là T – score. T – score càng cao phản ánh CLS càng dễ chịu (Phụ lục 6).

Câu thứ 31 là một đánh giá chủ quan về tình trạng sức khỏe chung của bệnh nhân và không được tính vào điểm CLS tổng thể (total QOL score) [22].



c. Tiêu chí đánh giá trầm cảm và lo âu

* Trầm cảm: Theo ICD-10 (Bảng phân loại quốc tế 1992)

- Các triệu chứng của một giai đoạn trầm cảm

3 triệu chứng cơ bản

1. Khí sắc trầm




2. Mất mọi quan tâm thích thú




3. Giảm sinh lực đưa đến dễ mệt mỏi,giảm hoạt động

7 triệu chứng phổ biến

1. Giảm tập trung chú ý




2. Giảm tự trọng, giảm tự tin




3. Ý nghĩ có tội, thấy mình không xứng đáng




4. Bi quan về tương lai




5. Ý tưởng và hành vi tự sát




6. Rối loạn giấc ngủ




7. Giảm hoặc tăng thèm muốn ăn uống, sút cân


- Xếp loại chẩn đoán theo mức độ và số lượng các triệu chứng kể trên

- Thang đánh giá trầm cảm của Beck (13 câu) (Chi tiết thang đánh giá xem phụ lục 3)

Thang đánh giá trầm cảm rút gọn của Beck được đánh giá là nhạy [54]. Thang gồm một loạt các câu hỏi được xây dựng để đánh giá cường độ (intensity), mức độ nghiêm trọng (severity) và chiều sâu (depth) của trầm cảm ở bệnh nhân có bệnh tâm thần. Thang điểm có 21 câu, mỗi câu được thiết kế để đánh giá một triệu chứng đặc hiệu phổ biến ở người bị trầm cảm.

Mục đích: Thang đánh giá trầm cảm rút gọn của Beck ban đầu được phát triển để điều tra, đánh giá, và theo dõi những thay đổi của các triệu chứng trầm cảm trong số bệnh nhân ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe tâm thần. Thang này cũng được dùng để điều tra các triệu chứng trầm cảm ở các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu. Mất khoảng 5 – 10 phút để hoàn thanh thang đánh giá.

Những câu hỏi riêng của Thang đánh giá trầm cảm rút gọn của Beck khảo sát về khí sắc, sự bi quan, cảm giác thất bại, không cảm thấy thỏa mãn, tội lỗi, trừng phạt, căm gét bản thân, tự buộc tội, ý tưởng tự sát, khóc lóc, kích thích, cách ly xã hội, hình ảnh cơ thể, khó khăn trong công việc, mất ngủ, mệt mỏi, cảm giác ngon miệng, giảm cân, bận tâm về cơ thể, và giảm dục năng. Nghiên cứu này dùng thang điểm rút gọn (tức thang điểm có 13 câu). Mỗi mục gồm 4 câu trả lời, yêu cầu bệnh nhân đánh dấu vào chữ số tương ứng với câu trả lời mà bệnh nhân lựa chọn (0,1,2 hoặc 3), tương ứng với 4 độ tăng dần của một triệu chứng. Tổng điểm được tính bằng cách cộng điểm toàn bộ 13 mục [57].



  • 0 - 9 điểm: Không có trầm cảm

  • 10 - 16 điểm: Trầm cảm nhẹ

  • 17 - 29 điểm: Trầm cảm mức độ trung bình

  • 30 - 63 điểm: Trầm cảm nặng

* Lo âu theo ICD-10: Về tiêu chuẩn chẩn đoán lâm sàng của RLLA do có nhiều thể nên chúng tôi chọn rối loạn lo âu toàn thể (GAD) là rối loạn hay gặp nhất:

Lưu ý: Ở trẻ em và thanh thiếu niên khoảng dao động của các triệu chứng trong biểu hiện lo âu lan tỏa thường hạn chế hơn so với người lớn và các triệu chứng đặc hiệu của sự kích thích thần kinh thực vật thường ít nổi bật hơn. Đối với những bệnh nhân này nếu muốn, một nhóm các tiêu chuẩn thay thế được cung cấp để sử dụng trong mục F 93.80 (rối loạn lo âu lan tỏa ở trẻ em).

A. Phải có một khoảng thời gian ít nhất 6 tháng với sự căng thẳng nổi bật, lo lắng và cảm giác lo sợ về các sự kiện, các rắc rối hàng ngày.

B. Ít nhất bốn trong số các triệu chứng được liệt kê dưới đây phải có mặt, ít nhất một trong bốn triệu chứng đó phải nằm trong mục từ (l) đến (4):

Các triệu chứng kích thích thần kinh thực vật:

(1). Hồi hộp, tim đập mạnh, hoặc nhịp tim nhanh

(2). Vã mồ hôi

(3). Run


(4). Khô miệng (không do thuốc hoặc mất nước)

Các triệu chứng liên quan đến vùng ngực và bụng:

(5). Khó thở

(6). Cảm giác nghẹn

(7). Đau hoặc khó chịu ở ngực

(8). Buồn nôn hoặc khó chịu ở bụng (ví dụ: sôi bụng)

Các triệu chứng liên quan đến trạng thái tâm thần:

(9). Chóng mặt, không vững, ngất xỉu hoặc choáng váng

(10) Cảm giác mọi đồ vật không thật (tri giác sai thực tại) hoặc bản thân ở rất xa hoặc "không thực sự ở đây" (giải thể nhân cách)

(11). Sợ mất kiềm chế, "hóa điên" hoặc ngất xỉu

(12). Sợ bị chết

Các triệu chứng toàn thân:

(13). Các cơn đỏ mặt hoặc ớn lạnh

(14). Tê cóng hoặc cảm giác kim châm

Các tnệu chứng căng thẳng:

(15). Căng cơ hoặc đau đớn

(16). Bồn chồn hoặc không thể thư giãn

(17). Có cảm giác tù túng, đang bên bờ vực, hoặc căng thẳng tâm thần

(18). Có cảm giác có khối trong họng, hoặc khó nuốt

Các triệu chứng không đặc hiệu khác:

(19). Đáp ứng quá mức với một sự ngạc nhiên nhỏ hoặc bị giật mình

(20). Khó tập trung hoặc đầu óc "trở nên trống rỗng" vì lo lắng hoặc lo âu

(21). Cáu kỉnh dai dẳng

(22). Khó ngủ vì lo lắng

C. Rối loạn này không đáp ứng tiêu chuẩn của rối loạn hoảng sợ (F41.0) của rối loạn lo âu ám ảnh sợ (F40. -), rối loạn ám ảnh nghi thức (F42.) hoặc rối loạn nghi bệnh (F45.2).

D. Những chẩn đoán loại trừ hay gặp nhất: rối loạn lo âu này không phải do một rối loạn cơ thể: như cường giáp, không phải do một rối loạn tâm thần thực tổn (F00-F09) hoặc rối loạn có liên quan đến chất tác động tâm thần (F10-F19) như sử dụng quá mức các chất giống amphetamin hoặc hội chứng cai benzodiazepine [39].

- Đặc điểm lâm sàng của GAD: Đặc điểm lâm sàng biểu hiện chủ yếu với 3 yếu tố sau:

+ Căng thẳng vận động: run rẩy, không thư giãn được, không yên, mệt mỏi, đau lưng, đau gáy, đau đầu.

+ Tăng hoạt động hệ thần kinh thực vật: thở ngắn, hồi hộp, ra mồ hôi, chóng mặt, bốc hỏa hoặc ớn lạnh, tiểu nhiều, đau vùng thượng vị, buồn nôn, nóng ruột, ợ hơi, sình bụng, ỉa chảy.

+ Tăng cảnh giác (hyperarousal): luôn cảnh giác và kiểm tra.

Qua đó ta thấy các triệu chứng cơ bản của rối loạn lo âu toàn thể là lo âu, căng thẳng vận động, tăng hoạt động hệ thần kinh thực vật và tăng cảnh giới. Lo âu quá mức làm ảnh hưởng đến mọi mặt sinh hoạt và lao động của ngườì bệnh. Sự căng thẳng vận động biểu hiện bằng dễ giật mình, bất an, đau đầu. Tăng hoạt động hệ thần kinh thực vật biểu hiện bằng hụt hơi, ra mồ hôi nhiều, hồi hộp, và nhiều rối loạn dạ dày ruột. Tăng cảnh giới biểu hiện bằng dễ bị kích thích, dễ bị giật mình dù với những kích thích nhỏ, không thể tĩnh tâm được.

- Thang đánh giá Beck lo âu (Chi tiết thang đánh giá xem phụ lục 3):

Đây là bảng câu hỏi tự trả lời dành cho bệnh nhân. Trong đó có danh sách 21 triệu chứng phổ biến của lo âu. Bệnh nhân đọc cẩn thận các mục trong danh sách. Để thể hiện triệu chứng đó gây khó chịu cho bệnh nhân như thế nào trong tháng qua (bao gồm cả hôm nay), bệnh nhân khoanh tròn vào số trong các ô ở cột bên cạnh mỗi triệu chứng. Mỗi triệu chứng được đánh giá ở 4 mức độ:

+ 0: Không có

+ 1: Có nhẹ - không gây khó chịu

+ 2: Trung bình - nó không tạo sự hài lòng

+ 3: Nặng - nó gây khó chịu nhiều cho tôi

Tổng điểm được tính bằng tổng điểm của 21 mục. Trên cơ sở tổng điểm chúng ta đánh giá mức độ lo âu của bệnh nhân như sau:

+ 0 - 9: Không lo âu

+ 10 - 16: Lo âu mức độ nhẹ

+ 17 - 30: Lo âu mức độ trung bình

+ 31 trở lên: Lo âu mức độ nặng

4. Phương pháp chọn nghiên cứu viên và bệnh nhân

a. Phương pháp tuyển nghiên cứu viên

- Các bác sĩ điều trị tại các khoa lâm sàng và các bác sĩ làm việc tại Khoa khám bệnh.

- Các bác sĩ là nghiên cứu viên sẽ được tập huấn trước khi tiến hành thu thập số liệu. Nội dung tập huấn gồm các vấn đề sau: CLS bệnh nhân động kinh, phiếu điều tra CLS bệnh nhân động kinh (phần hành chính), QOLIE - 31, Thang Beck đánh giá trầm cảm, Thang Beck đánh giá lo âu. Trong các buổi tập huấn các điều tra viên sẽ trực tiếp làm thử các phiếu điều tra, sau đó rút kinh nghiệm và thống nhất cách làm để khi thu thập số liệu giảm thiếu được sai lệch.

b. Chọn bệnh nhân: Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nhận bệnh sẽ được chọn tham gia nghiên cứu.

c. Phân tích thống kê: Sử dụng phần mềm xử lý số liệu Excel và SPSS.

d. Dân số phân tích: Tất cả bệnh nhân được tuyển có dữ liệu có thể đánh giá được đều sẽ được phân tích.

e. Các biến phân tích

- Các biến độc lập.

- Các biến phụ thuộc.

f. Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 04/2011 đến 05/2011.

g. Phương pháp thống kê

- Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 15.0 để tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tối thiểu, tối đa của 7 thang điểm mà QOLIE – 31 khảo sát. Dựa vào kết quả thu được sẽ tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, tối thiểu, tối đa QOLIE – 31 của nhóm nghiên cứu.

- Phân tích đặc điểm của rối loạn trầm cảm và lo âu ở bệnh nhân động kinh trong nghiên cứu.

- Khảo sát mối liên quan giữa trầm cảm và lo âu, đơn trị liệu và đa trị liệu, tuổi, giới,… với CLS bệnh nhân động kinh.



II. VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

1. Bệnh nhân tự nguyện ký thỏa thuận tham gia nghiên cứu và có quyền không trả lời những vấn đề mà họ cho là nhạy cảm.

2. Các thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp được đảm bảo giữ bí mật.

3. Đây là nghiên cứu mô tả, không can thiệp, mọi biện pháp đánh giá đều được quyết định theo tình trạng của người bệnh.


Chương 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
I. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1. Phân bố các đối tượng theo giới và tuổi

Bảng 3.1. Phân bố các đối tượng theo giới và tuổi

Tuổi

Giới

Trung bình

Độ lệch chuẩn

P

Nam

N

161*

35,16

11,02

> 0,05

%

54

Nữ

N

138

35,54

11,33

%

46

Tổng cộng

N

299

35,33

11,15

%

100

Phân bố tỉ lệ bệnh nhân nam : nữ là 54 % : 46 %. Tuổi trung bình của mẫu là 35,35).

2. Phân bố các đối tượng theo nhóm tuổi

Bảng 3.2. Phân bố các đối tượng theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi

Số lượng

Phần trăm

16 – 30

118

39,5

31 – 45

116

38,8

46 – 60

65

21,7

Tổng cộng

299

100,0

Nhóm tuổi 16 – 30 và 31 - 45 chiếm đa số với tỉ lệ lần lượt là 39,5 % và 38,8 %; nhóm tuổi 46 - 60 chiếm tỉ lệ 21,7 %.

3. Phân bố tình trạng hôn nhân theo nhóm tuổi

Bảng 3.3. Phân bố tình trạng hôn nhân theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi

Tình trạng hôn nhân

Tổng cộng

Độc thân

Có gia đình

Góa/ Ly hôn/ Ly thân

16 – 30

90

82,6 %

18

16,5 %

1

0,9 %

109

100 %

31 – 45

50

43,9 %

54

47,4 %

10

8,8 %

114

100 %

46 – 60

20

31,3 %

41

64,1 %

3

4,7 %

64

100 %

Tổng cộng

160

55,7 %

113

39,4 %

14

4,9 %

287

100 %

Lứa tuổi từ 31 – 45 có 43,9 % sống độc thân. Lứa tuổi từ 46 – 60 có 31,3 % sống độc thân.

4. Phân bố các đối tượng theo nghề nghiệp

Bảng 3.4. Phân bố các đối tượng theo nghề nghiệp

Nghề nghiệp

Số lượng

Phần trăm

Giá trị

Không có

168

56,0




LĐ phổ thông

58

19,3




Buôn bán

25

8,4




Viên chức/ Văn phòng

10

3,3




Nông dân

14

4,7




Khác

18

6,0

Không xác định được

7

2,3

Tổng cộng

300

100

Không nghề nghiệp chiếm đa số (56,0 %), lao động phổ thông (19,3 %). Các nghề nghiệp còn lại chiếm tỉ lệ thấp hơn.

5. Tình trạng công việc hiện tại

Bảng 3.5. Tình trạng công việc hiện tại của đối tượng

Tình trạng công việc hiện tại

Số lượng

Phần trăm

Giá trị

Thất nghiệp

159

53,0




Đang làm việc

95

31,7

Không xác định được

46

15,3

Tổng cộng

300

100

Thất nghiệp chiếm đa số với 159 người (53,0 %), đang có việc làm là 95 người (31,7 %).

6. Mức thu nhập

Bảng 3.6. Mức thu nhập của gia đình các đối tượng

Mức thu nhập

Số lượng

Phần trăm

Giá trị

Hộ nghèo

180

60,0




Hộ không nghèo

77

25,7

Không xác định được

43

14,3

Tổng cộng

300

100,0



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương