“Nghiên cứu chất lượng sống bệnh nhân động kinh ở người lớn tại thành phố Đà Nẵng”


Các nghiên cứu của thế giới về CLS của bệnh nhân động kinh



tải về 0.8 Mb.
trang2/11
Chuyển đổi dữ liệu06.11.2017
Kích0.8 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

4. Các nghiên cứu của thế giới về CLS của bệnh nhân động kinh

Tất cả các bằng chứng có sẵn đều gợi ý rằng bệnh động kinh ảnh hưởng tiêu cực và thỉnh thoảng tác động mạnh đến CLS [18].

Nghiên cứu CLS của 90 bệnh nhân động kinh ở độ tuổi từ 15 – 50, được khám và điều trị tại Bệnh viện Songklanagarind ở Miền nam Thái Lan được tiến hành từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 1 năm 2007 cho thấy: lo âu và trầm cảm là những yếu tố ảnh hưởng làm giảm CLS bệnh nhân động kinh. Các yếu tố như tuổi, giới, trình độ văn hóa, bảo hiểm y tế, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và thuốc không ảnh hưởng đến CLS. Khi phân tích các thang điểm nhỏ hơn thì nhận thấy tần số cơn động kinh kết hợp với lo lắng cơn động kinh; nghề nghiệp với năng lượng/ mệt mỏi; lo âu với tất cả các thang điểm nhỏ của QOLIE - 31; trầm cảm với cảm giác dễ chịu, điểm CLS tổng thể, năng lượng/ mệt mỏi và chức năng nhận thức, chức năng xã hội; cuối cùng là bảo hiểm y tế với ảnh hưởng của thuốc [45].

Nghiên cứu CLS của 200 bệnh nhân động kinh tại thành phố Tehran (Iran) năm 2007 (sử dụng Bảng câu hỏi điều tra SF - 36) cho thấy bệnh nhân có điểm thấp trên tất cả các thang điểm nhỏ của Bảng câu hỏi điều tra SF - 36, điểm thấp hơn có ý nghĩa so với điểm CLS của dân số chung. Sức khỏe tâm thần và sinh lực (vitality) bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi bệnh và chức năng thể lực bị ảnh hưởng ít nhất. Tuổi, tình trạng hôn nhân, số cơn, dạng cơn động kinh và thời gian bệnh không ảnh hưởng đến CLS; nhưng giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và thu nhập ảnh hưởng đến CLS. Những yếu tố lâm sàng ảnh hưởng có ý nghĩa đến CLS là: số lượng thuốc sử dụng, số tác dụng phụ của thuốc, tần số cơn co giật, và thời gian tính từ cơn động kinh gần nhất [63].

Nghiên cứu CLS của 37 bệnh nhân động kinh ở Khu tự trị Tây Tạng (Trung Quốc) năm 2007 cho thấy điểm trung bình CLS tổng thể của QOLIE – 31 câu là 42,2 (SD 17,6) với điểm Lo cơn động kinh là thấp nhất 22,6 (SD 20,3) và điểm Ảnh hưởng của thuốc là cao nhất 85,8 (SD 18,6). Cơn động kinh dày, thu nhập thấp, tuổi cao, bệnh động kinh khởi phát muộn, và học vấn cao có tương quan ý nghĩa với điểm tổng thể của QOLIE – 31 và/ hoặc các thang điểm nhỏ hơn [80].

Nghiên cứu CLS của 65 bệnh nhân động kinh ở độ tuổi từ 65 trở lên tại thành phố Kansas (Hoa Kỳ) năm 2007 cho thấy CLS bệnh nhân động kinh lớn tuổi không khác với CLS bệnh nhân động kinh nói chung. Tuy nhiên, khi so sánh với quần thể dân số chung không bị động kinh thì những người già bị bệnh động kinh bị giảm rõ rệt CLS liên quan tới sức khỏe trên tất cả các lãnh vực. Nhiều yếu tố đặc trưng ở người già ảnh hưởng đến CLS liên quan đến sức khỏe của bệnh nhân động kinh lớn tuổi như: tuổi tác, các bệnh lý kết hợp, và các biến liên quan đến động kinh. Tác dụng phụ của thuốc chống động kinh và trầm cảm có thể gián tiếp ảnh hưởng đến CLS bệnh nhân động kinh [38].

Nghiên cứu tại Tehran (Iran) công bố năm 2008 cho thấy tần số cơn và thời gian tính từ cơn gần nhất ảnh hưởng đến CLS bệnh nhân động kinh [35]. Nghiên cứu tại Tây Tạng 2007 cho thấy tần số cơn cao có tác dụng xấu rõ rệt lên QOLIE – 31 [80].

Thuốc chống động kinh gây ra những thay đổi lớn trong sự kích hoạt hệ TKTW và dẫn đến những thiếu sót trong nhận thức và hành vi [70]. Loại thuốc đang sử dụng không ảnh hưởng đến CLS nhưng đơn trị liệu làm cải thiện CLS. Đa trị liệu làm tăng tác dụng phụ và ảnh hưởng tiêu cực đến CLS [38].



III. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SỐNG CỦA BỆNH NHÂN ĐỘNG KINH

1. Trầm cảm và lo âu

a. Lịch sử nghiên cứu và dịch tễ học trầm cảm, lo âu ở bệnh nhân động kinh

Bệnh nhân động kinh có tỉ lệ hiện mắc cao các rối loạn tâm thần kết hợp so với quần thể dân số bình thường [19], [61].

Trong các rối loạn tâm thần kết hợp thì trầm cảm là rối loạn tâm thần kết hợp thường gặp nhất ở bệnh nhân động kinh [79]. Khoảng năm 400 trước Công nguyên, bộ sách y khoa Corpus đã viết “Melancholic ordinarily become epileptics, and epileptics’ melancholics”, tạm dịch “Trầm cảm nặng thường gặp ở những người bệnh động kinh, và gọi là những bệnh nhân động kinh bị trầm cảm”. Thông qua phát biểu này chúng ta thấy ngay từ xa xưa y học đã nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa bệnh động kinh và trầm cảm.

Dịch tể học: những dự đoán tỉ lệ hiện mắc của trầm cảm ở bệnh nhân động kinh rất thay đổi. Tỉ lệ hiện mắc cao nhất của trầm cảm là 50 -55 % ở những bệnh nhân động kinh tại các phòng khám chuyên khoa [43] hoặc những đơn vị có theo dõi qua video (videotelemetry units) [42]. Những nét này được dựa trên những quần thể bao gồm những những người bị động kinh nặng, nhưng một số nghiên cứu cộng đồng thì cho gợi ý rằng tỉ lệ lưu hành ở cộng đồng thì không đặc trưng: 20 – 30 % ở những người có cơn động kinh tái diễn và 6 – 9 % ở những người ổn định được phát hiện bị trầm cảm.

Một tổng kết khác của Hrvoje Hecimovie và cộng sự cho thấy những nghiên cứu dịch tễ học gần đây nhất xác nhận 10 – 20 % bệnh nhân kiểm soát tốt cơn động kinh bị trầm cảm và 20 – 60 % bệnh nhân động kinh có cơn tái diễn bị trầm cảm [37].

Tháng 5 năm 2007 tác giả Stefan Beyenburg và các đồng nghiệp đã đăng một bài báo trên tạp chí Epilepsy and Behavior có tựa đề “Lo âu ở bệnh nhân động kinh: Hệ thống hóa và gợi ý can thiệp lâm sàng”. Bài báo nhấn mạnh: nhiều nghiên cứu lớn đã chỉ ra rằng tỉ lệ rối loạn khí sắc cao hơn ở bệnh nhân động kinh so với các bệnh lý nội khoa mạn tính khác như đái đường và hen suyễn. Hầu hết sự chú ý đều tập trung vào trầm cảm, mặc dù thực tế là lo âu có thể phổ biến hơn và gây tàn phế tương đương (equally disabling) [69]. Đầu năm 1971, Currie và các cộng sự xác định 19 % tỉ lệ lưu hành của rối loạn lo âu so với 11 % tỉ lệ lưu hành của rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân động kinh thùy thái dương. Nhiều nghiên cứu gần đây sử dụng bảng phỏng vấn chuẩn đối với mọi thể của bệnh nhân động kinh cho kết quả tương tự: tỉ lệ lưu hành 1 năm của rối loạn lo âu là 25 % và tỉ lệ này của rối loạn khí sắc là 19 %. Tuy nhiên, ở một số phòng khám chuyên khoa tỉ lệ lưu hành của rối loạn lo âu có thể hơn 50 %.

Bàn về trầm cảm kết hợp với bệnh động kinh hai tác giả Marco Mula và Bettina Schmitz đã viết trầm cảm và động kinh có một mối quan hệ hai chiều [53]. Qua nhận định này hai tác giả muốn nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng qua lại giữa động kinh và trầm cảm, động kinh làm xuất hiện trầm cảm và trầm cảm làm nặng nề thêm động kinh.

Cuốn sách hướng dẫn chẩn đoán bệnh tâm thần của Hội tâm thần học Hoa Kỳ (DSM-IV) phân biệt 11 loại lo âu khác nhau [27], [30]. Không loại lo âu nào mô tả nét đặc trưng (nếu có) của lo âu xảy ra ở người bị động kinh, một cách tiếp cận đã thành công ở trầm cảm. Do vậy không rõ ràng nếu những công cụ chẩn đoán lo âu hiện tại trình diễn một cách đầy đủ ở quần thể này (quần thể động kinh). Hơn nữa, hầu hết các nghiên cứu đã không cân nhắc đến những nhóm nhỏ (subtybe) của rối loạn lo âu hoặc thiết lập nên một mẫu (chăm sóc ban đầu hoặc chăm sóc thứ phát). Tuy nhiên, những thang điểm tự bản thân đánh giá gợi ý tỉ lệ tăng cao của lo âu, các cơn hoảng sợ, rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu lan tỏa, và các triệu chứng ám ảnh cưỡng bức ở bệnh nhân động kinh so với nhóm đối chứng khỏe mạnh. Ít có thông tin về tỉ lệ lưu hành của các triệu chứng lo âu ở cộng đồng dựa trên quần thể bệnh nhân bị động kinh. Trong một nghiên cứu lớn dựa trên những chẩn đoán được ghi nhận của các cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu, tỉ lệ của các rối loạn lo âu là 11 % trong số 5834 người bị động kinh, so với 5,6 % trong số 83163 người không bị động kinh. Rối loạn ám ảnh cưỡng bức hiếm gặp, hiện diện chỉ ở 0,4 % trường hợp, mặc dù rối loạn này hiện diện một nguy cơ liên quan (relative risk) là 2,5.

Một nghiên cứu nhận thấy 50-60 % bệnh nhân động kinh có các rối loạn khí sắc khác nhau trong đó có trầm cảm và lo âu, trầm cảm và lo âu có ảnh hưởng sâu sắc đến CLS bệnh nhân động kinh [16].

Trong các yếu tố kết hợp, trầm cảm và lo âu dường như là phổ biến nhất. Thực tế, thông qua các bảng tự đánh giá thì tỉ lệ lưu hành (prevalence) của trầm cảm từ 23 – 26 %, tỉ lệ lưu hành của lo âu được ước tính giữa 15 và 20 % [15], [19], [28].



b. Biểu hiện của trầm cảm và lo âu ở bệnh nhân động kinh

Năm 2005 hai tác giả M.J. Jackson và D. Turkington đã có bài đăng trên tạp chí Neurosurgery Psychiatry về vấn đề trầm cảm và lo âu trên bệnh nhân động kinh với nội dung như sau:

Trầm cảm: trầm cảm ở bệnh nhân động kinh có thể liên kết tạm thời với cơn co giật, nhưng rối loạn phổ biến nhất là trầm cảm giữa các cơn động kinh (inter – ictal) [50], [58]. Trong đề tài này chúng tôi chủ yếu nghiên cứu trầm cảm giữa các cơn động kinh.

Thêm vào những triệu chứng của mất hứng thú (anhedonia), giảm ngon miệng, giảm sinh lực, và rối loạn giấc ngủ, trầm cảm trong cơn hoặc loạn khí sắc thường kết hợp hơn với kích động và các yếu tố loạn thần hoặc xung động tự làm hại bản thân hơn là trầm cảm ở người không bị động kinh.

Trầm cảm trước cơn có thể xuất hiện nhiều giờ trước khi lên cơn: nếu được xử trí một loại bezodiazepine hoạt tính ngắn như clobazam thì có thể ngăn được cơn. Trầm cảm trong cơn thì hiếm, ít phổ biến hơn nhiều so với sợ trong cơn hoặc lo âu, nhưng có thể nặng.

Có những số liệu chống lại nhau trên những yếu tố làm tăng nguy cơ trầm cảm. Hầu hết nghiên cứu cho thấy rằng những cơn động kinh không kiểm soát được thì phối hợp với tỉ lệ lưu hành cao hơn so với không có cơn, nhưng những người bị động kinh thùy thái dương có nguy cơ cao hơn so với những người bị động kinh toàn thể vô căn, điều này gợi ý rằng không chỉ có sự hiện diện của các cơn động kinh hoặc các hậu quả xã hội của chẩn đoán động kinh mới bị đổ lỗi. Trầm cảm ở người thân thế hệ đầu tiên cũng đã được xác định như một yếu tố nguy cơ độc lập chỉ ra vai trò của di truyền. Ngược lại, trầm cảm có thể đi theo sự thoái lui của động kinh hoặc ngay sau phẫu thuật chữa động kinh hoặc bắt đầu của thuốc chống động kinh phát huy hiệu quả, như một phần của hiện tượng bình thường hóa áp lực (forced normalisation) được mô tả đầu tiên bởi Landolt. Thực ra, vài tháng đầu sau phẫu thuật chữa động kinh, thành công hay không, đã được xác định như một giai đoạn gia tăng nguy cơ của các rối loạn tâm thần, vì lý do này, điều cần thiết là những bệnh nhân sử dụng phẫu thuật để điều trị cần phải được đánh giá bởi một bác sĩ tâm thần liên quan đến chương trình.

Một số nghiên cứu mới đây đã cố gắng tìm hiểu ảnh hưởng của các triệu chứng lo âu làm giảm CLS liên quan đến sức khỏe ở bệnh nhân động kinh. Trong một nghiên cứu ở Hàn Quốc, lo âu là yếu tố có ý nghĩa nhất làm giảm CLS liên quan đến sức khỏe. Johnson và cộng sự cũng tìm hiểu mối liên quan của trầm cảm và lo âu đối với CLS liên quan đến sức khỏe ở bệnh nhân động kinh thùy thái dương. Trầm cảm và lo âu phối hợp một cách độc lập với giảm CLS liên quan đến sức khỏe và các biến của bệnh lý tâm thần kết hợp ảnh hưởng đến CLS nhiều hơn các biến của cơn lâm sàng hoặc các biến dân số học [64].

Rối loạn lo âu lan tỏa và động kinh: triệu chứng chủ yếu của rối loạn lo âu lan tỏa (RLLALT) là lo âu dai dẳng và làm cho người bệnh không làm được gì, diễn ra trong hầu hết thời gian trong ít nhất 6 tháng. Thường kết hợp với các triệu chứng thực vật hoặc cơ thể như tăng mệt mỏi, mất ngủ, khó tập trung, các vấn đề về giấc ngủ.

Tần số cơn co giật liên quan đến độ nặng của lo âu ở một số nghiên cứu chứ không phải tất cả. Tuổi và giới có ảnh hưởng liên quan một cách tế nhị, ví dụ: cơn động kinh đầu tiên ở tuổi cao có thể phối hợp mức lo âu cao. Nguy cơ của các rối loạn lo âu xuất hiện cao hơn ở động kinh cục bộ (động kinh thùy thái dương) so với động kinh toàn thể. Tỉ lệ cao nhất của rối loạn tâm thần kết hợp (bao gồm cả lo âu) được tường thuật ở những bệnh nhân với cơn động kinh mạn tính. Trong những rối loạn này, các biến tâm thần có giá trị dự đoán mạnh mẽ chất lượng sống nghèo nàn. Một yếu tố quan trọng liên kết cả hai trầm cảm và lo âu là nhận thức về sự kỳ thị. Điều này quan trọng vì một nửa số bệnh nhân động kinh có nhận thức bị kỳ thị cao và sự kỳ thị cao nhất trong nhóm bệnh nhân động kinh trẻ tuổi [53].

Người bị động kinh tử vong do tự sát là phổ biến hơn so với dân số chung (5 % so với 1,4 %). Những yếu tố phối hợp với tăng nguy cơ bao gồm: bệnh nhân nam trẻ (25 – 49 tuổi), có các bệnh lý tâm thần kết hợp bao gồm rối loạn nhân cách, động kinh thùy thái dương, những khó khăn cá nhân gồm những vấn đề xã hội hoặc công việc, bệnh động kinh kéo dài và kiểm soát cơn không hoàn toàn. Bệnh nhân động kinh thường dùng một lượng lớn thuốc chống động kinh và 80 -90 trường hợp toan tự sát là do quá liều.

Một nghiên cứu tại Thái Lan công bố năm 2009 cho thấy tần số cơn động kinh, trầm cảm và lo âu ảnh hưởng tới CLS bệnh nhân động kinh [45].

c. Ảnh hưởng của trầm cảm và lo âu đến CLS bệnh nhân động kinh

Trầm cảm và lo âu có thể tác động tiêu cực đến CLS [9]

Trầm cảm cũng được xem là yếu tố quan trọng nhất làm giảm CLS ở bệnh nhân động kinh hơn là bản thân bệnh động kinh [44].

Ảnh hưởng của các cơn động kinh đến CLS: nhiều nghiên cứu đã xác nhận mối liên quan của các biến liên quan đến tâm lý, xã hội và cơn động kinh đối với điểm CLS ở bệnh nhân động kinh. Tracy và cộng sự chỉ ra rằng điểm CLS bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi trầm cảm và các yếu tố như kiểm soát cơn động kinh.

Choi-kwon và cộng sự thấy rằng triệu chứng lo âu là yếu tố quan trọng nhất giải thích CLS thấp ở bệnh nhân động kinh, tiếp theo đó là trầm cảm, sự không thỏa mãn các yếu tố đời sống xã hội, rối loạn chức năng các hoạt động hằng ngày, và tần số cơn co giật.

Loring và cộng sự nhận thấy mặc dù CLS có nhiều yếu tố quyết định, các triệu chứng trầm cảm và lo cơn động kinh là những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến CLS của những bệnh nhân động kinh nặng.

Johnson và cộng sự chỉ ra rằng những cơn động kinh thường xuyên, nặng và mạn tính làm giảm CLS, nhưng chính lo âu và trầm cảm mới làm giảm CLS nhiều hơn.

Cramer và cộng sự thấy rằng trầm cảm lâm sàng kết hợp rõ ràng với CLS thấp ở bệnh nhân động kinh mọi thể.

Suurmeijer và cộng sự đã phát hiện sự kết hợp liên quan của các chức năng cơ thể, xã hội và tâm lý của bệnh nhân trong khái niệm của họ về CLS. Các tác giả tổng hợp khái niệm của họ rằng CLS của con người không bị ảnh hưởng trực tiếp bởi một bệnh lý mãn tính mà phản ảnh những vấn đề và những mối liên quan tạo ra do sự giảm hoặc mất của các nguồn lực cá nhân, xã hội và kinh tế (ví dụ: sự xấu đi của các vấn đề trong gia đình, những thay đổi nghề nghiệp, mất thu nhập, giảm lòng tự trọng và khả năng kiểm soát).

Khái niệm CLS này làm vững thêm khái niệm của Devins và cộng sự trong đó quan tâm đến ảnh hưởng của bệnh lý trong các hoạt động và sự chú ý của con người như các hoạt động xã hội, giải trí hoặc nghề nghiệp.

Không may là, đến nay trầm cảm vẫn chưa được phát hiện và chưa được điều trị ở một số lớn bệnh nhân động kinh và cũng chưa tạo được chú ý trong việc quản lý bệnh động kinh [9].

2. Các yếu tố khác

a. Thu nhập: Nghiên cứu năm 2002 của Rajesh Jacob và Prathap Tharyan về các yếu tố ảnh hưởng trên CLS bệnh nhân động kinh tại Ấn Độ nhận thấy những bệnh nhân động kinh có thu nhập thấp thì có tỉ lệ cao các rối loạn tâm thần kết hợp và thông qua đó ảnh hưởng xấu đến CLS [64].

b. Công việc hiện tại: Năm 2008, một báo cáo khoa học của Hiệp hội động kinh Bang Victoria (Epilepsy Foundation of Victoria) (Úc) đã khảo sát các chính sách đối với bệnh nhân động kinh từ năm 1984 đến năm 2007 và rút ra nhận xét là bệnh nhân động kinh thường không có việc làm và điều này ảnh hưởng xấu đến CLS của họ. Bản báo cáo cũng nhấn mạnh giáo dục là cánh cửa dẫn đến có việc làm và CLS tốt nhưng nhiều bệnh nhân động kinh trẻ đã không hoàn thành chương trình học.

c. Nghề nghiệp: Nghiên cứu của tác giả F. Rajabi và cộng sự tại Tehran (Iran) năm 2007 ghi nhận những bệnh nhân động kinh không có nghề nghiệp thì CLS thấp hơn hẳn so với các bệnh nhân hiện đang có việc làm [63].

d. Các biến liên quan đến bệnh động kinh:

- Thể động kinh: Nghiên cứu CLS 147 bệnh nhân động kinh tại Khoa Thần kinh, bệnh viện Cipto Mangunkusumo (Indonesia) năm 2005 kết luận động kinh toàn thể làm giảm CLS nhiều hơn so với động kinh cục bộ [40].

Trong khi đó, một nghiên cứu của các tác giả Mexico là Alanis – Guevara và cộng sự từ năm 2002 đến năm 2004 trên 401 bệnh nhân động kinh tại Viện quốc gia động kinh và phẫu thuật thần kinh của Mexico cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về CLS giữa các thể động kinh khác nhau [12].

- Thời gian bị bệnh: Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của thời gian bị bệnh động kinh đến CLS có kết quả trái ngược nhau, có nghiên cứu nhận thấy thời gian bị động kinh càng dài thì CLS càng giảm nhưng có nghiên cứu lại cho thấy thời gian bị động kinh không ảnh hưởng đến CLS.

- Tần số cơn động kinh: Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận rằng tần số cơn động kinh càng dày càng ảnh hưởng tiêu cực tới CLS [31], [40], [45]. Tần số cơn động kinh dày hơn, phản ánh sự khó khăn hơn trong kiểm soát cơn động kinh sẽ kết hợp với CLS nghèo nàn hơn [9].

Nghiên cứu năm 2007 tại Tehran cũng xác nhận ảnh hưởng của tần số cơn động kinh và thời gian tính từ cơn gần nhất đối với CLS [35].

Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh ở Miền Nam Thái Lan cũng xác nhận tần số cơn động kinh càng dày càng làm giảm CLS của bệnh nhân [45].

Nghiên cứu của Cynthya L. Harden và các cộng sự trên 118 bệnh nhân nữ cũng xác nhận bằng chứng rằng có một liên hệ giữa độ nặng của cơn động kinh và CLS, thậm chí khi kiểm soát được trầm cảm. Đặc biệt là những kết quả này gợi ý rằng độ nặng của các cơn có thể khởi phát sự phát triển hoặc làm tăng lo âu và/ những hành vi cách ly xã hội [24].

Nghiên cứu tại Tây Bengal (Ấn Độ) cũng ghi nhận CLS càng nghèo nàn nếu tần số cơn động kinh càng dày [9].

- Dùng đơn trị liệu hay đa trị liệu: Nghiên cứu CLS của 147 bệnh nhân động kinh tại Khoa Thần kinh, bệnh viện Cipto Mangunkusumo (Indonesia) năm 2005 kết luận đa trị liệu làm giảm CLS [40].

Nghiên cứu CLS của bệnh nhân động kinh tại Tây Bengan ghi nhận bệnh nhân dùng hai thuốc chống động kinh trở lên có CLS thấp [9].

Nghiên cứu CLS bệnh nhân động kinh tại Tehran (Iran) thì ghi nhận loại thuốc sử dụng không ảnh hưởng đến CLS nhưng đơn trị liệu giúp bệnh nhân cải thiện CLS [63].




Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

I. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu

- Gồm 300 bệnh nhân (nam và nữ) đã được chẩn đoán động kinh và đang được điều trị ngoại trú tại các trạm y tế xã/ phường và Bệnh viện Tâm thần thành phố Đà Nẵng.

- Thời gian bị bệnh động kinh của các bệnh nhân ít nhất là 12 tháng.

- Bệnh nhân động kinh thuộc ba thể phổ biến sau: Động kinh toàn thể co cứng – co giật, động kinh cục bộ vận động và động kinh cục bộ vận động toàn thể hóa.

- Các bệnh nhân đều từ 16 – 60 tuổi.

- Mỗi bệnh nhân được chọn 1 lần.

- Những bệnh nhân gặp khó khăn khi làm các Bảng đánh giá thì điều tra viên có thể đọc câu hỏi và các tình huống trả lời, bệnh nhân tự chọn phương án trả lời và điều tra viên sẽ điền vào Bảng đánh giá.

2. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu CLS của bệnh nhân động kinh và các yếu tố ảnh hưởng đến CLS của họ.

3. Không gian nghiên cứu: Bệnh nhân động kinh đang được điều trị ngoại trú tại 56 trạm y tế xã, phường thuộc thành phố Đà Nẵng và Bệnh viện Tâm thần.

4. Thời gian nghiên cứu: 01/2011 – 08/2011

5. Tiêu chuẩn chẩn đoán động kinh: Theo Gastaut bao gồm:

a. Bốn tiêu chuẩn lâm sàng:

- Triệu chứng lâm sàng đặc trưng của từng cơn: Do đề tài nghiên cứu chủ yếu trên 3 thể động kinh chính là động kinh toàn thể co cứng – co giật, động kinh cục bộ với các triệu chứng vận động và động kinh cục bộ diễn tiến thành cơn toàn thể hóa thứ phát. Do vậy chúng tôi chẩn đoán 3 thể này bằng các tiêu chuẩn sau:

+ Động kinh toàn thể co cứng – co giật: Trước khi xảy ra cơn có thể có triệu chứng báo trước như đau đầu, đầy hơi, rầu rĩ, lạnh lùng ít giờ hoặc ít ngày. Triệu chứng báo trước thường là bất thường cảm giác, vận động, co cứng cơ chi trên, các ảo giác, rối loạn tâm thần nhưng chỉ kéo dài 1/10 giây. Cơn thực sự có 3 giai đoạn:

Giai đoạn co cứng: đột ngột ngã xuống bất tỉnh nên có thể gây thương tích, các chi duỗi cứng, các ngón tay gấp, đầu ưỡn ngửa quay sang một bên, hàm nghiến chặt và có thể cắn vào lưỡi, hai mắt trợn ngược, tím vì không thở được, tiểu dầm hoặc đại tiện không tự chủ. Giai đoạn này kéo dài 10 -20 giây.

Giai đoạn giật: cơ thân và chi giật liên tiếp, ngắn, mạnh, có nhịp; hai mắt giật ngang hoặc giật lên. Có thể cắn phải lưỡi, sùi bọt mép. Giai đoạn này dài 1 - 2 phút, ít khi quá 6 phút.

Giai đoạn duỗi: hôn mê, các cơ doãi ra, phản xạ gân xương giảm, có thể có Babinski, thở bù lại mạnh, nhanh, ồn ào, thở ngáy sau vài phút tỉnh lại, không nhớ những gì đã xảy ra. Giai đoạn này kéo dài 5 – 10 phút.

+ Động kinh cục bộ với các triệu chứng vận động: Cơn động kinh cục bộ đơn thuần vận động (cơn Bravais – Jackson) do tổn thương thùy trán lên (vận động) giật khu trú nửa người, lan từ phần này đến phần khác gọi là hành trình Jackson tay – chân – mặt; lưỡi – mặt – tay; chân – mặt – tay. Mất ý thức thường xảy ra khi lan lên mặt.

+ Động kinh cục bộ vận động diễn tiến thành cơn toàn thể hóa thứ phát: bắt đầu cục bộ vận động chuyển nhanh sang cơn toàn thể nguyên phát co cứng – co giật, nếu không hỏi kỹ hay không quan sát kỹ thì khó phát hiện.

- Dấu hiệu thần kinh và tâm thần giữa các cơn.

- Tuổi khởi đầu.

- Căn nguyên (hay vô căn).

b. Hai tiêu chuẩn điện não đồ:

- Động kinh toàn thể co cứng – co giật:

+ Trong cơn: Trước cơn một vài giây xuất hiện rải rác sóng chậm biên độ thấp rối chuyển nhanh thành các nhọn, gai biên độ cao, tần số nhanh trên tất cả các kênh tương ứng với giai đoạn co cứng cơ. Sau 10 – 30 giây các gai tạo thành gai – sóng chậm tương ứng giai đoạn co giật; Sau đó tần số gai giảm dần và số lượng sóng chậm nhiều lên, ban đầu sóng chậm 3 chu kỳ/ giây sau đó 1 chu kỳ/ giây, tương ứng giai đoạn doãi cơ.

+ Giữa các cơn: Sóng kịch phát, lan tỏa, đồng thời hai bên bán cầu với biên độ cao dạng nhọn, đa nhọn, gai, nhọn hai pha, sóng Δ, , phức hợp nhọn sóng nhanh.

- Động kinh cục bộ với các triệu chứng vận động và động kinh cục bộ diễn tiến thành cơn toàn thể hóa thứ phát: Biểu hiện bằng các sóng chậm, điện thế cao đỉnh vuông, tần số 2 – 4 chu kỳ/ giây. Xen kẽ với sóng nhanh biên độ thấp. Ngoài cơn có nhọn 2 pha, 3 pha, sóng Δ,  ở vùng thái dương với biên độ cao. Khi chuyển thành cơn toàn thể co cứng – co giật thì điện não thể hiện như của cơn toàn thể nguyên phát co cứng – co giật.

Nguyên tắc chẩn đoán: Lâm sàng là quyết định, điện não là hỗ trợ. Chỉ chẩn đoán xác định động kinh khi có ít nhất hai cơn lâm sàng. Điện não đồ giúp hỗ trợ chẩn đoán xác định, loại cơn và vị trí động kinh.



c. Thêm hai tiêu chuẩn khác

- Kết quả điều trị (nếu có).

- Đặc điểm sinh lý bệnh [3].

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.

2. Chọn mẫu

a. Cỡ mẫu: 300 bệnh nhân

b. Phương pháp chọn mẫu: Mẫu phân tầng tỉ lệ, chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên đơn.

+ Tính toán tỉ lệ dân số của các quận/ huyện và các xã/ phường thuộc thành phố Đà Nẵng (Tỉ lệ này được tính dựa trên thông tin cập nhật trên website của thành phố Đà Nẵng).

+ Dựa vào kết quả đó để tính tỉ lệ bệnh nhân ở mỗi xã/ phường được chọn (trong số 300 bệnh nhân).

+ Dựa vào danh sách bệnh nhân ĐK đang được quản lý tại các trạm y tế xã/ phường để xây dựng khung mẫu.

+ Sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn bệnh nhân ĐK từ khung mẫu vào mẫu. Chọn đủ số bệnh nhân theo tính toán cho từng xã/ phường.

+ Điều chỉnh hiện tượng bỏ cuộc: tiếp tục sử dụng bảng số ngẫu nhiên để chọn một bệnh nhân khác thay thế.



3. Các tiêu chí đánh giá

a. Tiêu chí đánh giá nhân trắc học và đặc điểm lâm sàng

Gồm có nhóm tuổi, giới tính, thời gian bị bệnh động kinh, phân loại cơn, tần số cơn, biến chứng chấn thương do cơn động kinh, thuốc chống động kinh đang dùng.





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương