Ấn bảN 2017 (version 2)



tải về 0.72 Mb.
trang9/13
Chuyển đổi dữ liệu16.11.2017
Kích0.72 Mb.
#1926
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13


PHÉP QUÁN TƯỞNG NIỆM PHẬT


THE METHODS OF MEDITATING IN BUDDHA



A. Phép quán tưởng:
I. CHỦ ĐÍCH: Chuyển đổi hiện cảnh thành

thiện cảnh, trừ các vọng tưởng, thân tâm định

tĩnh.


A. Observation method:
I. PURPOSE: To better present circumstance;

eliminate the unrealistic ambitions; purify the

body and mind.


II. SỰ TU TẬP:

1. Trước khi quán tưởng:
a. Điều hòa ăn uống: Ăn đồ nhẹ, chớ để quá no hoặc quá đói. Ăn đồ nặng thời tâm thần mê mẫn, lâu tiêu; quá đói thời xót bụng ngồi không bền; quá no thời thân thể nặng nề, hơi thở mạnh, gấp.

b. Điều hòa giấc ngủ: Cần tập ít ngủ để tâm thần được sáng suốt. Khi tập nếu buồn ngủ thời nên nghỉ, nhưng lúc nào cũng cố gắng.


c. Điều hòa thân thể: Thân thể phải sạch sẽ, rửa mặt cho tỉnh táo. Nếu tắm trước được nửa giờ thì tốt.
d. Chỗ ngồi, phòng tập: Chỗ ngồi dịu mềm để có thể ngồi lâu mà không tê nhức. Phòng tập nên lựa chỗ rộng, ít hoặc không người. Để ánh sáng lờ mờ. Lựa chỗ an tịnh.
e. Cách ngồi: Ngồi bán già, xếp chân, để bắp chân trái trên bắp chân mặt (hoặc chân mặt trên chân trái) kéo lại sát bên mình, ngón chân ngang bắp vế; hay ngồi kiết già thời để chân mặt trên bắp chân trái, bàn chân trái trên bắp chân mặt (hoặc trái lại), ngồi kiết già thì được lâu, lưng thẳng. Cách này khó tập hơn. Để bàn tay mặt trên bàn tay trái, uốn mình 5, 7 lần cho giản xương cốt. Ngồi thẳng lưng, không cong đằng trước, không ngã đằng sau. Rồi sửa đầu cho thẳng, sống mũi thẳng hàng với rún, không xiên bên này, bên kia; mắt ngó thẳng ra đằng trước, không cúi xuống, không ngữa lên; con mắt hơi nhắm lại.
f. Điều hòa hơi thở: Khi ngồi vừa thẳng và chưa nhắm mắt, nên hít không khí vào mũi rồi thở ra bằng miệng, thở chậm chậm. Thở nhiều lần như vậy rồi mới khép mắt. Đến khi ngồi tập, phải để ý hơi thở, đừng cho quá mạnh, gấp, có tiếng, đừng cho bực tức, không thông, thở một cách thông suốt nhẹ nhàng.

II. THE PRACTICE:

1. Prior to the Meditation:
a. Regulate the diet: Only eat foods which digest easily, and should not eat too much or too little. One's awareness is lessened when eating foods that are hard to digest. Hunger causes one to suffer and can not sit still. And fullness causes one to feel uncomfortable, breathing becomes loud and fast.
b. Regulate the sleep: Practice to sleep less to keep the mind bright. During the practice if there is a need to sleep then do so, but always try not to fall asleep.
c. Regulate the body: Keep the body clean. It is better to shower prior to the observation.
d. The seat and place: Soft seat helps prolong the sitting period without numbing the legs. It is better to sit in the large and quiet room with dim light.

e. The sitting styles: Sit half-fold (half lotus) or full-fold (full lotus) style. Sitting a half-fold style by crossing one leg on top the other. Pull the legs in until the toes are aligned with the knees. Whereas, sitting a full-fold style by crossing the right calf on top the left leg and left calf on top the right leg, or vice versa. This style helps one to sit longer and straighter, but it’s hard to practice. Place right hand on top the other, sit straight, the nose must line up with the navel, look straight and keep both eyes slightly opened.


f. Regulate the breathing: At the beginning, slowly and deeply breathe in with the nose and breathe out with the mouth for several time, then partly closed both eyes. During the practice, one must follow every breath - do not breathe strongly, rapidly or loudly; breathe softly and lightly, do not be frustrated.




2. Trong khi quán tưởng:

a. Trì chú: Mật niệm 3 lần chú Tịnh Pháp Giới: "Án lam tóa ha". Mật niệm ba lần chú Tịnh Ba Nghiệp: "Án ta phạ bà phạ thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám".

b. Quán tưởng: Sau khi nhờ công đức trì chú ba nghiệp thân tâm được thanh tịnh người tu hành bắt đầu quán tưởng. Quán tưởng nghĩa là quán xét những đức tánh của đức Phật. Phật có vô lượng công đức trí huệ, không thể một lần quán hết được; cho nên cần phải lần lượt, thứ lớp quán xét từng đức tánh một tùy theo trình độ và nghiệp lực của mình. Thí dụ, nếu chúng ta thường nhiều sân hận thì khi tu tập nên quán đức tánh từ bi hỷ xả của đức Phật; nếu nhiều mê mờ, sợ hãi chúng ta quán đức tánh trí huệ hùng lực của đức Phật v.v...
c. Quán tướng: Nếu phép quán tưởng không thể đối trị nghiệp lực vọng tâm, chúng ta có thể tu theo pháp quán tướng. Nghĩa là quán một trong 32 tướng tốt, 80 vẽ đẹp của đức Phật. Ví dụ, chúng ta quán tướng bạch hào của Phật (sợi lông trắng giữa hai chân mày), quán sợi lông trắng dài, bên trong trống lọng, uốn xéo xoay theo chiều phải. Sợi lông ấy do đức Phật qua vô lượng kiếp tu hành thanh tịnh mới kết thành như thế. Khi nào tướng ấy hiện rõ ràng trước mặt không mù mờ loạn động, thì phép quán ấy mới thành tựu.
Khi thành tựu được phép quán này chúng ta bắt đầu quán pháp tướng khác, cứ lần lượt như thế, cho đến lúc nào và bắt cứ ở đâu, tất cả hình tướng trang nghiêm của Phật đều hiển hiện trước mặt người tu hành, rõ ràng như xem vật giữa bàn tay, tức phép quán tưởng này được thành tựu.


2. During the Observation:

a. Moment of silence: At the beginning, silently reciting the mentra "Án lam tóa ha" for three times to purify the environment, and then continuing "An ta phạ thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám" for three times to purify three major karma.
b. Contemplating on Buddha's virtues: After the recitation of mantras, one process with the contemplating of Buddha's virtue. Buddha has innumerable merits and one can not contemplate all at once; therefore, he/she can contemplate one by one depending on his/her karma. For example, if one has a hot temper then he/she can contemplate Buddha's compassion and forgiveness, or Buddha's courage if he/she is in fear, etc.

c. Meditation on the Buddha's Body: In addition to contemplation on Buddha's virtues, one can meditate on the Buddha's body to overcome bad karma. To practice this method, one observes one of Buddha's 32 physiognomies and 80 beauty marks. For example, he/she can observe a white hair between the Buddha's eye brows. This long hair represents the Buddha's mindfulness. When that physiognomy has been deeply absorbed in one's mind, one has completed a step of this observation.

One then continues meditating on other physiognomies or beauty marks. When all of physiognomies and beauty of the Buddha have clearly appeared as real, one has fully completed this method.



d. Quán tượng: Nếu tu phép quán tướng không thành, thì nên tu theo pháp quán tượng. Người hành trì thỉnh một bức tượng đức Phật Thích Ca hay đức Phật A Di Đà đầy đủ tướng tốt, để vừa tầm con mắt, cho ánh sáng chiếu vào, đừng quá sáng, cũng đừng quá tối. Nhớ đừng cho ánh sáng vào mắt mình. Mở mắt vừa, chiêm ngưỡng chân dung của bức tượng, quán xét từng tướng một, chuyên tâm quán tưởng hình tượng không còn vọng động tạp niệm. Cho đến lúc nào bất cứ mở mắt hay nhắm mắt, hình ảnh bức tượng ấy đều nghiễm nhiên rõ ràng hiện trước mặt, tức là phép quán tượng này được thành tựu.


d. Meditation on the Buddha's statue: Place a picture or a statue of Shakyamuni or Amita (A-Di-Đà) Buddha in a quiet room with a dim light. In the front of Buddha's statue, one sits silently, keeps both eyes partly opened, reveres the statue and observe every feature of it; concentrates on the observation to avoid the disturbance of impure thoughts. When the statue has clearly appeared, even with eyes closed, one has successfully accomplished this method.

e. Sổ tức quán: Ngoài ba phương pháp trên, còn có phương pháp sổ tức dễ thực hành, và có ảnh hưởng nhiều trong sự đối trị vọng niệm. Sổ tức quán là quán tưởng và đếm hơi thở, theo hơi thở ra vào nhẹ nhàng thong thả, đếm từng tiếng một, đếm xuôi đến con số mình đã định rồi đếm ngược lại. Điều cần nhất là phải chuyên tâm vào hơi thở, không để tạp niệm xen vào. Nếu có quên hay nghi trong những con số mình đếm thì cần phải bỏ, bắt đầu đếm lại như trước cho được rõ ràng. Khi nào tu tập sổ tức quán này mà tâm trí hoàn toàn định tĩnh, tức có thể bắt đầu tập các phép quán khác.
Chú ý: Chủ đích của pháp quán tưởng là diệt trừ vọng tưởng, làm cho tâm trí được định tĩnh. Kinh luận có rất nhiều pháp môn khác nhau như pháp Ngũ Đình Tâm Quán hay 16 phép quán trong kinh Vô Lượng Thọ. Người hành trì có thể tùy theo hoàn cảnh, khả năng mà chọn lựa và thực hành tu tập.


e. Meditation on Breathing: Besides above three methods, the meditation on breathing is a method which is easy to practice and has major effect on controlling the impure thoughts. Meditation on breathing is a method that one can practice by counting one's breaths. Count one for every breath up to a selected number then back to one. If the count is messed up, then start over the cycle. Repeat this routine as desire. The important thing is that one needs to concentrate on following the breaths to avoid having disturbance by impure thoughts. When one's mind is peaceful and purified with this method one can practice on others.
Note: The purpose of the meditation methods mentioned is to eliminate the ambitions, and to purify one's mind. There are many other different methods from which one can choose to practice depending upon on one's ability and suitability.

f. Cách đối trị: Trong khi tu quán nếu thấy tinh thần mê mẫn, đầu muốn gục xuống, thì phải để tâm nơi chính giữa hai con mắt mà đối trị; nếu thấy tâm loạn động, thân ngồi không vững thời để tâm nơi rún để đối trị; khi trong ngực hơi tức thời nên phóng xả tâm trí, bớt chuyên chú để tâm được nhẹ nhàng khoan khoái; khi tâm chớm lười nhác, thân muốn nghiêng ngữa, miệng chảy nước miếng, phải chuyên chú nhiều hơn. Trong khi ngồi quán tưởng, có thấy cảnh giới gì lạ, không nên sanh tâm mừng hoặc sợ, cần phải luôn luôn nhớ nghĩ rằng vạn pháp đều không thật thì tự nhiên thân tâm khoan khoái nhẹ nhàng, trí huệ phát triển.


f. Controlling method: During the meditation if the mind is being darkened and the head is bending down, one need to focus at a middle point between both eyes; if the mind is being stampeded and the body cannot sit still, then one need to focus on the navel. When feeling pressure on the chest, one need to relax one's mind and reduce the concentration. On the other hand, when feeling lazy and the body is stooped, one needs to concentrate hard to overcome these weaknesses. During the meditation if something strange appears such as a lighting flash, apparitions... do not be so pleased or afraid, but see them as projections of desired thoughts.

3. Những điểm cần nhớ: Muốn phép quán tưởng được lợi ích, cần phải chú ý các điểm sau đây:
a. Kiên chí: Ngày nào cũng tập tùy theo giờ đã ấn định.
b. Tinh Tấn: Tuần đầu tập ngồi trong vòng 15 phút, tuần thứ hai ngồi nửa tiếng, đến tuần thứ 5, thứ 6 ngồi 45 phút. Cứ tập lần lần và tăng thêm cho đến 1 giờ hay 2 giờ chẳng hạn.
c. Nên tập lúc 4, 5 giờ sáng sau khi thức dậy hay buổi tối trước khi đi ngủ. Nếu chọn được buổi sáng thì tốt hơn.

d. Trong thời gian tu tập, cố gắng đừng để cho những người chung quanh biết, nhất là đừng khoe sự tu tập của mình cho người ngoài.


e. Sau khi ngồi tu quán, nếu cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt, tức buổi tập đó có kết quả đúng pháp.
f. Trong khi tu tập thấy thân tâm có gì thay đổi lạ lùng thời tìm hỏi thầy bạn để khỏi lạc vào tà pháp.


3. Points to remember: To be successful in meditation, one needs to remember the following:
a. Perseverance: Practice daily at determined hour
b. Diligence: Practice 15 minutes daily on first week, 30 minutes on second to fourth week and then 45 minutes on 5th and so on. It can go as long as 1 to 2 hours or more.
c. Best time to practice is at 4 or 5 o'clock in the morning, after waking up, or at night before going to sleep. Practicing in the morning is always better than at night.

d. Do not boast about your practice

e. After each session, if one has obtained a peaceful feeling then one has practiced the right way.
f. During the session if the mind or body feels uneasy, one needs to seek advice from his/her master or an experienced person.


B. Phép quán niệm Phật:

I. CHỦ ĐÍCH: Chuyển đổi tà niệm thành chánh niệm, ác cảnh thành thiện cảnh, dứt sạch các vọng niệm, chứng ngộ thực tướng các pháp.
II. SỰ TU TẬP:

1. Trước khi tu tập: Điều hòa ăn uống, giấc ngủ, hơi thở như pháp môn quán tưởng.


2. Quán niệm và trì danh niệm Phật: Pháp niệm Phật có phương pháp trì danh niệm Phật là giản dị và hợp với căn tánh của chúng sanh đời mạt pháp này. Kinh Di-Đà Sớ Sao có câu: "Đường tắt trong các đường tắt" là chỉ cho phương pháp trì danh này. Trì danh niệm Phật là niệm trì danh hiệu đức Phật A Di-Đà, niệm niệm nhớ nghĩ rõ ràng, không để tạp niệm xen vào. Có những phương tiện thực hành như sau:

B. Pondering method:

I. PURPOSE: To change impure thoughts to

right mindfulness, a bad circumstance to good

one, to eliminate all unrealistic thoughts, and to attain the truth of all forms.
II. THE PRACTICE:

1. Prior to Meditation: Regulate the diet, sleep and breathing as previous stated.


2. Continuously Reciting the name of Buddha: This is a simple and suitable method for human beings in this degrading period of the world, as Di-Đà Sớ Sao sutra stated: "Reciting the Buddha's name is a shortest path of all short paths to enlightenment". To practice this method, one must continuously recite, either loudly or silently, the name of Amita Buddha with undivided attention. By virtue of the undivided attention, one obtains pure thought. The following are several ways to practice this method.


a. Sổ thập niệm Phật: Cứ mỗi hơi thở ra niệm và đếm 10 câu niệm Phật; khi thở vào cũng như thế; hoặc một hơi thở ra vào niệm và đếm 10 câu niệm Phật (thời gian thực hành cũng như phép quán tưởng trên). Nếu vì nghiệp lực và hoàn cảnh không thể ngồi tu lâu được, thì ít nhất trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy thong thả rõ ràng niệm và đếm 10 danh hiệu Phật trong 10 hơi, làm cho thường sẽ được lợi ích nhiều.

a. Ten-count Recitation: For every breath, in or out, one silently recites the name of Amita Buddha 10 time, or 10 times for both in and out (time for practicing is the same as in the meditation method). If the condition does not allow one to practice long each time, one should silently recite the name of Buddha at least 10 times in 10 breaths before going to sleep each night and in the morning after waking up. Regularly practice this way one gets a lot of spiritual benefit.

b. Truy đảnh niệm Phật: Câu này nối liền câu kia, chữ trước tiếp chữ sau không gián đoạn, dứt khoảng. Phương pháp này chú trọng sự liên tục, nên bất cứ thở ra hay thở vào, đều phải chú tâm niệm Phật, cứ tiếp-tục như thế cho hết giờ mình đã định.


b. Continuation: Reciting the Buddha's name continuously. This method emphasizes the continuation; therefore, in every breath, one needs to concentrate on reciting the Buddha's name until the set time is expired.

c. Sổ châu niệm Phật: Cứ niệm một danh hiệu là lần một hạt chuỗi, chuyên tâm không để cho vọng niệm xen vào. Số chuỗi niệm tùy theo nguyện của mình. Ví dụ, nếu nguyện mỗi lần niệm hai chuỗi 108 hột, thì hôm nào cũng như vậy, không được thêm hay bớt, trừ khi bệnh hoặc nguyện niệm thêm.

c. Reciting with the Bodhi Beads: Counting a bead for each recitation. Concentrate on the counting and praying to avoid the disturbance of impure thoughts. The number of recitation depends on one's vow. If vowing to recite the Buddha's name by counting twice the string of 108 Bodhi beads, one need to be consistent


d. Phản văn niệm Phật: Chú ý nghe rõ từng tiếng niệm Phật của mình, miệng niệm thì tai chú ý nghe, không bỏ sót bất cứ một niệm lớn tiếng hay nhỏ. Chủ đích của phép môn này là chuyên nghe từng tiếng, từng chữ niệm Phật của mình để ngăn trừ các ngoại trần không cho len lỏi vào.

d. Sound listening Recitation: Pay attention to every word one recites, do not leave out any word, even when reciting silently. The purpose of this method is to listen to the sound of every wording, in order to prevent the invasion of any other sounds or thoughts.


e. Ban châu niệm Phật: Tức là vừa đi vừa niệm hoặc đi kinh hành trong chùa hoặc đi bách bộ trong sân chùa hay ở những nơi có bóng mát.
f. Chuyên niệm niệm Phật: Năm pháp trên là phương tiện tu hành của những lúc ngồi hoặc đi tịnh niệm. Phương pháp chuyên niệm niệm Phật thì bất cứ lúc nào, ở đâu cũng có thể niệm. Niệm trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi; niệm trong thời ăn uống, ngủ nghỉ; hễ tâm khởi động niệm thì niệm Phật. Niệm cho đến lúc nào thành thục, không gián đoạn xen hở. Thực tập cho đến khi nhất tâm bất loạn thì pháp môn này thành tựu.

e. Walking Recitation: Reciting while walking in the praying hall or under the tree shadows around the temple.

f. Frequent Recitation: The above five recitation methods are used to practice under scheduled time and at selected places. Whereas, the frequent recitation method is used at any time, any place. One can recite while walking, standing, lying or sitting; or one can recite while having a meal, sleeping etc. Whenever one's mind is being invaded by the impurities one needs to recite the name of Buddha. It will not be fully successful until one establishes oneself in mindful stage.

3. Cách thức niệm Phật: Tùy theo hoàn cảnh và căn cơ mà niệm Phật với những phương cách sau đây:


a. Cao thanh niệm Phật: Niệm tụng lớn tiếng, hòa theo điệu mõ thứ lớp điều hòa, tuần tự, theo nghi thức đã định sẵn. Ngày nào cũng tụng, theo thời giờ đã định, không biếng nhác trễ nãi, nhất là phải thành kính trang nghiêm khi đứng trước bàn Phật, và phải chú tâm tưởng nhớ đến Phật. Phương pháp này được thực hành khi nào đông người đồng tụng và ở những nơi rộn ràng không thể tịnh niệm được.
b. Đê thành niệm Phật: Không niệm lớn tiếng, chỉ niệm thầm nhỏ vừa đủ mình nghe. Cách thức này nên dùng trong những lúc ngồi tịnh niệm và khi làm lễ trước bàn thờ Phật một mình, vừa quán tưởng hình dung đức Phật vừa niệm, không để các tà niệm xen lẫn vào.
c. Mật niệm niệm Phật: Không niệm có tiếng như hai cách trên. ở đây chỉ niệm Phật bằng trí, bằng ý tưởng mà thôi, không dùng miệng lưỡi, chuyên tâm quán tưởng hình dung đức tướng và thầm lặng niệm trì danh hiệu Phật. Phương pháp này nên áp dụng trong lúc ngồi tịnh niệm, hoặc lúc đi giữa đường hay đang làm việc và ở những chỗ không có bàn Phật.


3. Method of Chanting: The following

chanting methods can be applied depending

on one's situation and ability:


a. Loud chanting: Chant loudly along with the sound of the wooden drum. Keep up the schedule daily; do not be lazy or late. Be solemn and respectful in front of the altar, and concentrate on the Buddha. One can practice this method with other people.
b. Soft chanting: Do not chant too loud, just enough for oneself to hear. This method is used for an individual to practice meditation or make a ceremony in front of the altar. Observing and reciting the Buddha at the same time, do not let the mind be interfered with impure thoughts.
c. Silent chanting: Unlike the above two, this method requires one to silently chant with one's mind and thought only. Concentrate on Buddha's statue and silently recite his name. This method is applied during walking or working, or at a place where there is no shrine available.

4. Thực tướng niệm Phật: Hai phương pháp quán tưởng và niệm Phật trên chỉ là phươngtiện để đi đến Pháp thật tướng niệm Phậtnày. Thực tướng niệm Phật là tìm hiểu chánh lý và thông đạt thực tướng của sự vật. Thực tướng của sự vật là tướng "lý tướng" mà đức Phật đã giác ngộ. Người muốn sống đời sống giải thoát phải đoạn trừ tất cả thiên chấp (có, không, đoạn, thường) để đạt đến lý nghĩa trung đạo. Thâm đạt lý trung đạo (sự thật các pháp) tức là niệm Phật mà không còn phân biệt mình là người niệm và đức Phật là người được niệm. Vì Phật và chúng sanh đều không ngoài tự tâm thanh tịnh, nên niệm Phật tức là niệm giác tính của mình. Ngoài giác tánh ấy không có một đức Phật nào đáng niệm. Niệm Phật đến cho thuần diệu ấy tức là hợp với bản giác thanh tịnh. Ta với Phật không hai không khác, không thấy có phiền não đáng trừ, không thấy có Niết Bàn đáng chứng, tâm hồn trong sáng, từ bi trí huệ. Dùng phương tiện cứu khổ chúng sanh, cũng không cần thấy tướng chúng sanh để độ. Nói một cách khác, thật tướng niệm Phật tức là giác ngộ sự thật của vạn pháp và sống đúng như thật của Phật.


4. Recitation by reflecting on the true Nature of reality: The methods of chanting and continuously reciting the name of Buddha above are the basic steps to this method. This method is used to search for the truth and to realize the reality of nature. The reality of nature is interdependent impermanent and nonsubstantial, which the Buddha already attained. To attain the true nature of reality or a life of liberation, one needs to eliminate the concept of self. When the truth of reality is attained, one has no distintion between oneself and Buddha. Buddha and beings are not different when the mind is purified; therefore, reciting the Buddha's name is to reflect on the Buddha nature of oneself. There is no enlightenment that can be searched outside. In short, by realizing the true nature of reality as non-self, one attains Buddha nature or enlightenment.

III. NHỮNG ĐIỂM CẦN NHỚ:

1. Chọn phương pháp tu quán niệm Phật. Đức Phật tùy theo căn cơ của chúng sanh mà chỉ các phương pháp. Chúng ta khi thực hành tùy theo căn tánh, chỉ nên lựa một pháp môn thực hành cho triệt để; tập từ dễ đến khó và khi thuần thục được pháp nào thì có thể tập pháp khác.


2. Mỗi ngày để dành nửa giờ hay một giờ để niệm Phật, vào buổi tối trước khi ngủ hay buổi sáng sau khi thức dậy. Những giờ ấy thanh tịnh nên tu tập được nhiều kết quả. Hai pháp chuyên niệm và thật tướng niệm Phật thì lúc nào cũng thực hành được.
3. Nên nhớ, người tu niệm sẽ gặp nhiều trở lực, ngoài các hoàn cảnh không thuận tiện còn có nội ma và ngoại ma luôn luôn đến phá và thử-thách. Người hành trì phải rất dõng mãnh tinh tấn mới khỏi bị ma làm thối thất.
4. "Phật cao một thước, ma cao một trượng". Các loài ma có thể hiện thành những hiện tượng kỳ lạ để lừa gạt khủng bố người tu hành. Chúng ta cần bình tĩnh sáng suốt để đối trị, để phân biệt tà ngụy.

5. Không nên khởi tâm mừng, cũng như

không nên sợ hãi khi thấy những hiện

tượng kỳ lạ trong khi tu niệm Phật. Chỉ nên

nhứt tâm quán tưởng niệm trì danh hiệu

Phật, xem vạn pháp là giả ảnh, không chắc

thực.


III. POINTS TO REMEMBER:

1. Select a suitable method. Buddha teaches the different types of practicing methods based upon the capacity of beings. When choosing a method, one should choose the type that is suitable to one's capability. Practice an easier method first before moving on to the harder one.


2. Spend about a half or one hour for reciting every night before going to sleep or in the morning after waking up. Both the silently reciting method and the reflecting on Buddha nature can be practiced at any time.

3. Remember, during the practice one may experience some adversities. Besides the inconvenient conditions, there are internal and external challenges; therefore, one needs to be courageous and diligent to overcome them.


4. Imagination can manifest in different strange forms to trick and threaten the person who tries to lead a religious life; therefore one need to be calm and knowledge to distinguish right from wrong.
5. During the practice if something strange appears, do not be so pleased or afraid, but only concentrate on reciting Buddha's name and realize that all forms are illusions.

C. Kết luận:

Pháp quán tưởng và pháp quán niệm Phật là hai pháp môn tu hành hợp với căn cơ chúng sanh hiện đại, và dễ thực hành. Chỉ có thực hành mới đúng như lời Phật dạy. Hàng Phật tử không thể xao lãng, không thể không thực hành một trong hai pháp môn trên được. Sự thực hành ở nơi đây bao trùm cả nghĩa tinh tấn dõng mãnh hành trì, không bao giờ thối thất gián đoạn.


Đừng có nên quá hăng hái lúc ban đầu, đến nỗi sanh bệnh và lạc vào ma đạo. Cần phải giữ mức trung bình, thong thả hướng tiến một cách chắc chắn, mới mong có nhiều kết quả thiết thực.
Thực hành hai pháp môn trên tức thực hành năm hạnh: Tinh tấn, hỷ xả, từ bi, thanh tịnh và trí huệ.


C. Conclusion:

The methods of reciting the Buddha's name are

simple, yet suitables for eveyone. As a Buddha

follower, one needs to practice Buddha's teachings. A Buddhist should not neglect practicing the methods above. The practice requires one to be constantly diligent and determined.


At the beginning, in order to prevent tiredness, one should not work so hard. One should begin

practicing lightly to assure more effective results.

Practicing the above two methods is to practice the Five Conducts: Diligence, Forgiveness,

Compassion, Purity and Wisdom.





tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương