Ấn bảN 2017 (version 2)



tải về 0.72 Mb.
trang8/13
Chuyển đổi dữ liệu16.11.2017
Kích0.72 Mb.
#1926
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13


ĐẠO PHẬT TẠI HOA-KỲ


BUDDHISM IN THE UNITED STATES




Đạo Phật được truyền bá đến Hoa Kỳ qua những sách vở của người Tây phương viết về Phật giáo và qua những nhà truyền giáo Á Châu.
Trong khi các nước Tây phương như Anh, Pháp ... đi xâm chiếm thuộc địa vào các thế kỷ trước, những người thực dân ấy, có một số trí thức muốn tìm hiểu về nền văn minh, văn hóa Á Đông, cho nên họ đã tìm hiểu về tôn giáo như Phật giáo, Khổng giáo, Ấn giáo ... Do đó, Phật giáo đã được truyền vào các nước Tây phương ở những thập niên đầu của thế kỷ 19.
Thời đó có những học giả Tây phương phục vụ trong ngành thuộc địa, là cơ hội đưa họ đến với Phật giáo, trong số đó có những người đáng kể như ông Wiliam Jones (người Iran), ông Charles Wilkens (dịch giả người Anh, ông đã dịch Bhagavad Gita - Chí Tôn Ca từ Sanskrit sang Anh văn), ông A. Csoma de Koros (1784-1842) là nhà ngôn ngữ học người Hunggary, ông Houghton Hodgson (người Anh), ông Eugene Burnouf (dịch giả Pali người Pháp), ông Henry S. Olscott (1832-1907) là người Mỹ, tác giả Phật Giáo Vấn Đáp - The Buddhist Catechism - xuất bản lần đầu tiên năm 1881, Sir Edwin Arnold (1832-1904) thi hào người Anh, tác giả thi phẩm bất hủ Ánh Sáng Á Châu - The Light of Asia - Xuất bản lần đầu tiên năm 1879.

Buddhism was propagated into the United States through books and research written by Western or Asian missionaries.

Many centuries ago, a number of English and French people came to Asian countries in invasion wars. Some of them were interested in Asian culture so they studied Buddhism, Confucianism, Taoism and Hinduism. Buddhism was propagated in to western countries in the first decades of the 19th century.



At that time, Western intellectuals severed the colonial forces in Asian countries where they had the opportunity to know Buddhism. Among them were William Jones ( Iranian), Charles Wilken (English - he translated Bhagabad Gita - Chi-Ton-Ca from Sanskrit to English), A.C soma de Koros (Hungarian 1784-1842), Houghton Hodgson (English), Eugene Burnouf (French), Henry S. Olscott (American 1832 - 1907 author of The Buddhist Catechism published in 1881), and Sir Edvin Arnold (English poet - author of The Light of Asia published in 1879).


Người có nhiệt tâm nhất, để truyền bá Đạo Phật tại Anh quốc cũng như Hoa kỳ có lẽ là T. W. Rhys Davids (1843-1922), ông là người Anh, một viên chức của Hoàng gia Anh, làm việc trong bộ máy thuộc địa của Nam Á, sau khi khám phá ra kho tàng Phật giáo ẩn tàng trong các bộ kinh Pàli, ông quyết định chấm dứt con đường danh vọng, đi vào lãnh vực nghiên cứu kinh điển Phật giáo (ông có 4 bằng tiến sĩ: Triết học, Văn chương, Ngôn ngữ và Sử học). Năm 1882, ông cùng vợ là bà Caroline Augusta Davids thành lập tại Luân Đôn Hiệp Hội Thánh Điển Pàli (Pàli Text Society), đây là một tổ chức Phật giáo đầu tiên tại Anh quốc, với sự tham gia của nhiều học giả nổi tiếng Âu châu và Á châu để nghiên cứu và biên soạn, chuyển ngữ và in ấn kinh điển bằng tiếng Pàli và Anh văn. Ông đã cho in Kinh Na Tiên năm 1890, Phật giáo lịch sử và văn học in năm 1896, Những pháp thoại của đức Phật in năm 1899, Phật giáo Ấn độ in năm 1903. Anagarika Dharmapala (1864-1933), người Tích Lan, môn đệ của Henry S. Olcot, đã thành lập Hội Maha Bodhi tại Ấn độ vào ngày 31-5-1891.
Năm 1892, ông có xuất bản tờ Maha Bodhi, ông đã viết bài Một thế giới Phật giáo thống nhất - A United Buddhist World. Những bài khảo cứu về Phật giáo của những học giả kể trên, và những tác phẩm đã nói, dĩ nhiên là đã được truyền sang và ảnh hưởng đến lớp trí thức Mỹ.
Tại Hoa kỳ có Ralph Waldo Emerson vào năm 1820, ông đã chủ trương tờ báo Journal với những bài viết về Ấn độ và châu Á, vào thập niên 30, ông đã viết những bài về Phật giáo, như về nhận thức nhân quả ông đã viết: "Phật giáo là một triết thuyết siêu nghiệm, một hành vi tạo tác dù thiện, dù ác (nhân) đều tạo ra quả và không vượt khỏi luật nhân quả". Một bài với tựa là Buddhism, ông viết: "Thực thể (hay chân ngã) là sự khẳng định bao la, không có tính phủ định, sự tự cân bằng, hóa giải hết mọi thứ quan hệ dính mắc ràng buộc ... Chân tâm không bị ràng buộc bởi tất cả mọi giới hạn. Trong con người nó luôn được xác định như sự lạc quan tích cực, ngược lại với sự bi quan tiêu cực."
Còn Henry David Thoreau (1817-1862), ông đọc Bhagavad Gita do Charles Wilkens dịch rồi thấm nhuần tư tưởng, học thuật Ấn độ. Tháng 7 năm 1840, ông Emerson cùng bạn bè thành lập tờ báo Dial, ban biên tập có Thoreau làm phụ tá, năm ấy mới có 23 tuổi.
Năm 1842, Thoreau làm phụ tá cho Emerson và năm 1844 ông đã giới thiệu cho độc giả Hoa kỳ bộ Kinh Pháp Hoa Saddhamanpundarika, kinh này ông dịch từ L'Introduction à l'Histoire du Bouddhisme Indien của Eugene Burnouf xuất bản tại Paris. Có bài ông đã viết: "Những lời Phật nói là chân lý tối thượng mà người nghe có thể đạt đến chỗ đoạn diệt hoàn toàn mọi khổ đau; có thể đi theo con đường tốt nhất (Đạo Đế) để đạt được Phật tính và có thể thành Phật. Con đường tốt nhất để đạt được Phật tính là con đường thực hành thiền định".
Ông đã có những lúc hành thiền trong một cabin nhỏ hẹp. Ông mất năm 1862. Năm 1866, John Weiss viết về ông như sau: "Sắc diện trầm tĩnh của Thoreau không có một vết hằn nào diễn tả sự khát vọng hay sự bất mãn; tình cảm và cảm xúc do ảnh hưởng bên ngoài không làm phiền và bào mòn được nó. Ông sống như một nhà sư Phật giáo với mong muốn sớm đạt được đỉnh cao của đời sống thiền định".


In England and in the United States, T.W Rhys Davids (1843-1922) was a missionary who devoted his heart and mind to his work. He was an officer of England Royal Government, working for South Asian Colonial Department. He had four Ph.D degrees in philosophy, literature, linguistics, and history. After recognizing a treasure of Buddhism in sùtra-pitaka in Pali language, he then no longer pursued his career and began studying Buddhism. In 1882 he and his wife, Mrs Caroline Augusta Davids, formed Pali Text Society in London. It was the first Buddhist association in England where a number of European and Asian researchers gathered together to study, write books, translate and publish sùtra-pitaka in Pali and in English. The association published Nagasena Sutra (Kinh Na Tien) in 1890, Buddhism History and Literature in 1896, Budha Dharma Teachings in 1899, Buddhism in India in 1903. Anagarika Dharmapala (1864 - 1933), one of of Henry S. Olcott’s disciplines in Srilanka, established Maha Bodhi Association in India in May 31st, 1891.
In 1892 he published Maha Bodhi newspaper and wrote an article named "A United Buddhist World". Many researches, books and articles about Buddhism spread by the organization had a significant influence on American students.

In the United States, Ralph Waldo Emerson published Journal newspaper in 1820 in which there were many articles about India and Asia. In 1930’s he did many researches about Buddhism, i.e. "Cause and Effect" Enlightenment, he wrote: "Buddhism is an outstanding teaching. An action definitely causes an effect no matter it was an accidental or deliberate one." In writing about Buddism, he stated, "Upadhi reality is an absolute eternity, not negation, self-balanced character, and self-resolver of all complicated relations. True hearted ego is not tied to any limitations. Inside every being, true hearted ego is defined as a good karma optimistic attitude, opposite to a bad karma pessimistic attitude."


After reading "Bhagavad Gita" translated by Charles Wilkens, Henry David Thoreau (1817 - 1862) became interested in Indian domain of learning. At the age of 23, Thoreau was an assistant editor staff of a newspaper where Emerson was working. In July 1840, Emerson and his friends established the Dial newspaper.
In 1842 Thoreau became Emerson’s secretary and two years later in 1844 he published Saddhamanpundarika which was translated from the original "L’introduction a` L’ Histoire du Bouddhisme Indien" by Eugene Burnouf published in Paris. He wrote, "Budha teachings are extreme truth which leads the followers to nirvana where sufferers stop to achieve Buddha nature. The best way to achieve the Buddha nature is to practice mediation and concentration."

He used to do walking meditation in a small cabin. He passed away in 1862. In 1866, John Weiss wrote about Thoreau as follow: "His calm attitude reflects no burning desire or any dissatisfaction; outside loves and emotions could not impact on his attitude. He lived his monk-like life to achieve the extreme result of a meditation life."



Lại còn có nhà thơ Walt Whitman cũng tiếp nhận nhiều quan điểm của Phật giáo, họ cùng sanh hoạt trong Câu Lạc Bộ Tiên Nghiệm, họ đã truyền bá tư tưởng thiền của Phật giáo đến với quần chúng Mỹ thời bấy giờ, họ đã gieo mầm móng để người Mỹ ưa chuộng con đường thiền của Phật giáo sau nầy.
Về các nhà truyền giáo Á châu tại Hoa kỳ, ngày nay người ta được biết có pháp sư Hui Shan và bốn người gốc Kabul ở Afgantistan đã đến Canada, Mỹ và Mexico để truyền bá đạo Phật vào năm 458. Ở lại Canada 3 vị Tăng để hành đạo, còn Hui Shan và một vị Tăng nữa đã đến Trung Mỹ để truyền giáo trong 40 năm, sau đó vì gặp khó khăn với thổ dân, Hui Shan trở về Trung Hoa năm 499. Năm 502, ông được vua Lương Võ Đế tiếp kiến và giao cho Du Kỳ tiếp xúc với Hui Shan để ghi nhận sự kiện truyền bá đạo Phật ở nước ngoài. Sự kiện này sử gia đời Tống Mã Đoan Lâm có ghi lại trong Văn Hiến Thông Khảo. Nhưng công cuộc truyền bá Phật giáo của Hui Shan không có ảnh hưởng gì đến Phật giáo Hoa Kỳ ngày nay.

Vào tháng 9 năm 1893, tại Chicago có tổ chức lần đầu tiên một Đại Hội Tôn Giáo Thế Giới thuộc tổ chức The World Parliament of Religion do tiến sĩ J. H. Barrows làm chủ tịch đương thời, Tổ chức này đã mời Pháp sư Anagarika Dharmapala, người Tích Lan đang khôi phục thành tích Bồ Đề Đạo Tràng tại Ấn độ. Cũng mời Thiền sư Nhật bản Soyen Shaku, mặc dù thiền sư không biết nói tiếng Anh.




Poet Walt Whitman studied Buddhism and propagated Buddhist Zen to Americans at Tien Nghiem Club. He was one of the first persons who set the first steps in introducing Zen to Americans later.

In 458, among four Asian monks (three Afghanistanian and one Chinese) coming to Canada to propagate Buddhism, two of the three Afghanistanian monks stayed in Canada and the other two left Canada to the Midwest of America. After forty years living and working as a missionary in the Midwest of America, Huishan - the Chinese monk - came back to China in 499 because of too many difficulties from Native Americans. In 502 Huishan was invited to meet King Luong Vo De to tell the King about his Buddhism propagation cause. A TSung historian Ma Doan Lam mentioned Huishan’s propagation cause in Van Hien Thong Khai. However, Huishan’s propagation work does not have any effect to Buddhism movement nowadays in the United States.


In September 1893, in Chicago, the first International Religions Conference held by the World Parliament of Religion by J. H. Barrows, Ph.D, president. This organization invited Srilanka master, Anagarika Dharmapala and Zen master Soyen Shaku to restore Bodhimandala in India.

Anagarika Dharmapala (1864-1933):

Ông đến Hoa kỳ dự Đại Hội Tôn Giáo Thế Giới có mang theo một viên ngọc Xá Lợi, một tượng Phật nhỏ và 20 ngàn quyển Ngũ giới (Five Precepts) để tặng Đại Hội. Sau khi Đại Hội bế mạc ngày 26-9-1893, ông được mời giảng tại hội trường Anthenaeum với chủ đề Phật Giáo và Thông Thiên Học, ngày 10-10-1893, ông xuống tàu về nước. Trên đường về ông có ghé thăm Nhật bản, Hawaii và Trung quốc.


Năm 1896 Dharmapala trở lại Hoa kỳ theo lời mời của tiến sĩ Paul Carus, người Phật tử Đức, sống tại Hoa kỳ. Lần này ông thuyết pháp tại các thành phố New York, Chicago, San Francisco, Grand Rapids, Cincinati, Duluth, Mineapolis, Iowa City, Des Moines, Dayton và Columbus. Đề tài được yêu cầu thuyết trình nhiều lần là "Sự Hòa Giải của Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo".
Năm 1897, lần đầu tiên Dharmapala tổ chức lễ Phật Đản đầu tiên trên đất Mỹ. Ba mươi bảy ngọc đèn tượng trưng cho 37 phẩm trợ đạo được thắp sáng và chừng 400 Phật tử người Mỹ đã thành kính lắng nghe Ngài tụng kinh Magala từ bản chép tay trên lá bối.

Chuyến thứ ba trở lại Mỹ từ năm 1902 đến 1904, ngài đi thuyết pháp nhiều nơi. Đặc biệt đã cảm hóa được giáo sư William James thuộc đại học Harvard.


Năm 1925 ngài đi Anh quốc, rồi ghé Mỹ cuối cùng. Ngài đã viên tịch ngày 16-1-1933 tại Ấn độ. Trước đó ngài đã xuất gia và thọ cụ túc giới ở Tích Lan. Do sự tranh đấu của Ngài, sau khi Ấn độ độc lập, Bồ Đề Đạo Tràng đã được trả lại cho Phật giáo.

Anagarika Dharmapala (1864-1933): In Sept, 1893 Anagarika Dharmapala was invited to The World Parliament of Religion (a world religion conference) in Chicago by Doctor J.H. Browns, the chairman of the conference. At the conference, Anagarika Dharmapala gave the committee one of Buddha‘s sarira, a Buddha statue, and 20000 books of Five Precepts. After the conference, in September 26th, 1893 he was invited to give a speech about Buddhism and Thong Thien Hoc at Anthenaeum Hall. He left the U.S to come back to India in October 10th, 1893. On the way home, he visited Japan, Hawaii, and China.
In 1896 Dr. Paul Carus invited Dharmapala to the U.S again. (Paul Carus was a German Buddhist living in the U.S.) Dharmapala gave speeches in New York, Chicago, San Francisco, Grand Rapids, Cincinnati, Duluth, Minneapolis, Iowa City, Des Moines, Dayton, and Columbus. One of his popular topics was "Buddhism and Catholic Conciliation."
In 1897 Dharmapala held the first "Buddhist Birthday ceremony" in the United States. In the ceremony, 37 lanterns represented for 37 Buddhist Assistant Chapters were lighted on, and about 400 American Buddhists attended the ceremony and respectfully listened to Dharmapala chanting Magala from a handwriting copy on Laboi (a Buddhist paper).

His third time to the U.S was from 1902 to 1904 and he also had speeches at many different places. He met and talked to Professor William Jones (at Harvard University) and made him become interested in Buddhism.


In 1925 he came to England and the U.S for the last time. He passed away in January 16th, 1933 in India. He became a Buddhist monk in Srilanka. After his death, Budhamandara Bo De Dao Trang was handed back to Buddhist, due to his contribution to Buddhism Movement in India.


Thiền sư Soyen Shaku (1851-1919):

Ông xuất gia năm 1871. Năm 1884 theo học tại Đại Học Keio. Năm 1887 sang Tích Lan học Pàli và tu hành như Tăng sĩ Tích Lan. Ngài đã gặp và quen biết với Đại tá Olcott, do đó ngài được mời tham dự Đại Hội Tôn Giáo Thế Giới năm 1893 tại Chicago. Vì không biết nói tiếng Anh nên ngài viết bài tham luận Luật Nhân Quả của Đạo Phật nhờ sinh viên Daisetz Teitaro Suzuki (sau này là tác giả Thiền Luận) dịch ra Anh văn và nhờ Tiến sĩ Barrows đọc hộ. Sau đại hội, tiến sĩ Carus mời ông và hai vị Tăng Nhật bản khác đến nhà nghỉ của ông ở Lasalle, Illinois. Ở đây, họ đã thảo luận về tôn giáo, triết học và Soyen giúp đọc lại bản thảo của Carus "Lời giáo huấn của Đức Phật".

Tháng 6 năm 1905, thiền sư Soyen trở lại Mỹ theo lời mời của thương gia Alexander Russel. Lần này có hai đệ tử đi theo ngài là D.T. Suzuki và Nyogen Senzaki. Sau chuyến hoằng pháp, ngài trở về Nhật bản và viên tịch tại chùa Engakuji vào năm 1919, thọ 68 tuổi.


Master Soyen Shaku (1851-1919):

Soyen Shaku became a monk in 1871. In 1884 he studied at Keio University. In 1887 he came to Srilanka to learn Pali and lived there as a Srilankan monk. In 1893 he was invited to "The World Parliement of Religion" because of his acquaintance with Colonel Olcott. Soyen did not speak English; so Daisetz Teitaro Suzuki, a student who was later the author of "Essays in Zen Buddhism", translated Soyen’s speech to English and Dr. Barrows read it at the conference. After the conference, Master Soyen Shaku and two Japanese monks were invited to stay at Dr. Carus’s place in Lasalle, Illinois. They talked about religion, philosophy, and Dr. Carus asked Master Soyen to help him read the draft of Carus’s book "Buddha’s teachings" before it was published.


In June 1905, Mater Soyen and his disciplines D.T. Suzuki and Nyogen Senzaki were invited to the U.S again by Alexander Russel, a business man. Master Soyen came back to Japan and passed away at Engakuji pagoda in 1919, at the age of 68.


Thiền sư Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966):

Ông có bằng cấp tiến sĩ, là giáo sư của nhiều trường đại học Mỹ, Nhật và Âu châu, là tác giả, dịch giả của hơn 100 tác phẩm Anh ngữ hay Nhật ngữ, được xem là người có công đầu trong việc hoằng truyền thiền Lâm Tế tại Mỹ. Ông sinh trong một gia đình hành thiền Rinzai, theo học thiền công án với thiền sư Kosen, thiền sư tịch năm 1892, ông lại theo học thiền với thiền sư Soyen Shaku, người kế thừa sự nghiệp của thiền sư Kosen.


Sau khi tốt nghiệp khoa triết ở đại học Tokyo, Suzuki được thiền sư Soyen khuyến khích sang Mỹ du học và phụ giúp tiến sĩ Paul Carus trong việc hoằng dương chánh pháp tại Mỹ, lúc đó Carus đang làm chủ bút tờ báo Open Court ở Lasalle. Trước tiên, Suzuki giúp Carus trong việc dịch quyển Đạo Đức Kinh, tiếp theo là dịch phẩm Sự Thức Tỉnh Của Niềm Tin (Awakening of Faith) của Ashvaghoska. Ông bắt đầu viết tác phẩm đầu tiên là Đại Cương về Phật Giáo Đại Thừa (Outlines of Mahayana Buddhism), trong thời gian này ông vừa dịch sách vừa học Pàli và Sanaskri. Suzuki ở Lasalle trong thời gian 11 năm để học, dịch thuật, nghiên cứu, viết sách và thỉnh thoảng làm thông dịch cho thiền sư Soyen khi người đến Mỹ hoằng pháp.
Năm 1902, ông trở về Nhật kết hôn với Beatrice Erskinelane, một hội viên Thông Thiên Hịch. Vợ chồng ông sống trong căn nhà nhỏ gần thiền viện Engaku cho đến khi Soyen viên tịch năm 1919, ông mới dọn đến Tokyo. Ông dạy triết học và tôn giáo học tại đại học Otari. Tại đây, ông thành lập hội Nonsectarian Mahayana và phát hành tờ báo Phật Giáo Phương Đông. Năm 1927 ông cho xuất bản quyển Thiền Luận (Essays in Zen Buddhism).
Năm 1936, Suzuki được mời dạy tại Anh quốc. Tại đây ông gặp Alan Watts, một phụ nữ trẻ tuổi, về sau viết nhiều sách thiền và chủ trương tờ Buddhism in England. Ông đã hướng dẫn Alan đến Nhật học thiền.

Năm 1949, ông đến Honolulu để tham dự Đại hội các Triết gia Đông và Tây lần thứ 2. Tại đây ông gặp Philip Kapleau, đã hướng dẫn vị này xuất gia và tu học tại Nhật bản từ năm 1953.

Năm 1953, Suzuki được mời dạy tại đại học Columbia, New York. Lúc này ông nổi tiếng về sách thiền, các buổi giảng và hành thiền của ông. Phong trào học hỏi và hành thiền của người Mỹ bắt đầu từ đây.

Năm 1957, Đại hội Thiền và Phân Tâm Học tổ chức tại Mỹ, Suzuki là một đại biểu nổi bật. Trong năm này ông nghỉ dạy ở Columbia, sau đó được mời giảng ở các đại học Massachusettes, Cambridge, Harvard.

Năm 1959, Hội Phât giáo Cambridge được thành lập, ông được mời giữ chức Chủ Tịch. Ba năm sau ông trở về Nhật Bản tiếp tục dịch và viết sách.

Suzuki mất năm 1966 tại thiền viện Kamakura, hưởng thọ 96 tuổi. Ông là người có ảnh hưởng sâu rộng về Thiền ở Mỹ cũng như các nước khác. Sự nghiệp của ông là công nghiệp của vị Bồ Tát đã hoằng truyền Phật pháp tại Tây phương.



Master Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966):

Daisetz Teitaro Suzuki had a Ph.D. degree. He was a professor at many universities in Japan, Europe, and the U.S. He wrote books in Japanese and in English. He was considered as the founder of Lam Te Zen Chan Sect in the U.S. Suzuki was born in a family where all family members practiced Zen Rinzai. He studied Zen with Zen Master Kosen. After Master Kosen passed away in 1892, he continued his study with Zen Master Soyen Shaku who was appointed to take the position after Master Kosen.


After graduated in philosophy department at Tokyo University, Suzuki was encouraged by Master Soyen to come to the United States to study and to help Dr. Paul Carus propagating Buddhist Zen. Carus was the editor of "Open Court" newspaper in Lasalle at that time. Suzuki worked for Carus as a translator, and he translated "Dao Duc Kinh", then "Awakening of Faith" originated by Ashvaghoska. He wrote his first book "Outlines of Mahayana Buddhism" while he was working as a translator and studying Pali and Sanaskri.

Suzuki lived in Lasalle for 11 years to study, to write books, and to be a translator for Soyen whenever he came to the U.S.


In 1902, Suzuki returned to Japan and married to Beatrice Erskinelane, a member of Thong Thien Hoc Association. The couple lived in a small house close to Engaku temple. After Master Soyen passed away in 1919, they moved to Tokyo. Suzuki taught philosophy and religion at Otari Univeristy. He was also the founder of Nonsectorian Mahayana and published "Eastern Buddhism"(a newspaper), and "Essays in Zen Buddhism"(1927).


In 1936, Suzuki was invited to teach at England where he met young Alan Watts, and instructed her to study Zen in Japan. Alan Watts wrote many books of Zen and published "Buddhism in England".

In 1949, Suzuki traveled to Honolulu to attend the second international conference of philosophers from East and West. At the conference he met Philip Kapleau who then became a monk and studied Zen in Japan from 1953.
In 1953, he was invited to lecture at Columbus University in NewYork. At that time he was well-known by his Zen books, lectures at universities, and courses of practicing zen. His successful work established a foundation for his movement of studying and practicing Zen.
In 1957, a conference of Zen was held in the U.S. Suzuki attended the conference and was very distinguished. In this time, he resigned his position at Columbus University to teach at universities of Massachusettes, Cambridge, and Harvard. In 1959, Cambridge Buddhist Association was established and Suzuki was appointed as a chairman. Three years later he returned to Japan and continued his translation work and writing books. Suzuki passed away in 1996 in Kamakura Zen Institute at the age of 96. He was a Zen Master whose influence of Zen practicing widely and deeply not only in American but also in other countries. His dedication was as a Bodisattva who spreaded Buddha’s teachings to the West.


Pháp sư Tuyên Hóa (1908-1995):

Pháp sư được xem là nhà truyền bá Phật giáo Trung Hoa thành công nhất tại Mỹ vào cuối thế kỷ 20. Pháp sư sinh năm 1908 tại miền Đông Bắc Trung hoa, lên 11 tuổi xuất gia, năm 1947 cầu pháp với Hư Vân Hòa Thượng, được phú pháp là tổ thứ 9 của dòng thiền Quy Ngưỡng.

Năm 1959, Ngài lên đường sang Mỹ để hoằng pháp tại San Francisco. Ngài thiết lập một thiền đường và tổ chức tu học cho Phật tử.
Năm 1969, ngài nhận cho 5 người Mỹ xuất gia tu học. Đó là bước đầu ngài thành lập Tăng đoàn Tây phương. Cũng trong năm này, ngài lập hội Dịch Kinh, một tổ chức chuyên phiên dịch và in ấn kinh điển, đã xuất bản trên 200 dịch phẩm.

Năm 1970, ngài kiến tạo tu viện Kim Sơn ở San Francisco là một kiến trúc có 3 tầng.

Năm 1972, ngài là Hòa Thượng đầu đàn truyền giới tại Mỹ đầu tiên, có 200 Tăng, Ni ở Mỹ và các nước khác đến thụ giới.

Năm 1974, ngài đã mua một bệnh viện tâm thần cũ của Mỹ tại california, diện tích 488 mẫu, kiến trúc này được xây từ 1930, có 70 tòa nhà, 2000 phòng. Toàn khu có thể chứa 20 ngàn người. Đây là một tu viện Phật giáo lớn nhất tại Mỹ, trang bị hiện đại, được ngài đặt tên là Vạn Phật Thánh Thành (City of Ten Thousand Buddhas).


Pháp sư Tuyên Hóa cũng nổi danh về đức khiêm cung vô ngã và lòng từ bi vô biên đối với chúng sanh. Ngài viên tịch ngày 10 tháng 5 năm Ất Hợi (7-6-1995) tại Vạn Phật Thánh Thành, California, Hoa kỳ.

Master Tuyên Hóa (1908-1995):

Master Tuyen Hoa is considered as the most successful missionary in the U.S in the last couple decades of the 20th century. He was born in 1908 in the Northeast region of China. He became a monk at the age of 11. In 1917 he studied with Master Hu Van and then he was appointed to be the nineth master of Quy Nguong Chan Sect.

In 1959, he came to the U.S to teach Buddhism in San Francisco. He built a small Zen school and helped the Buddhists to practice Zen.

In 1969, he taught five Americans and guided them to become monks. It was the first step for him to form the Western Shanga. Aslo in this year, he formed a Dhama Translation Association to translate and publish darma books. The association has published more than 200 darma books.


In 1970, he constructed Kim Son Buddhist Center, a three-storey building, in San Francisco.
In 1972, he was the first master in the U.S to pass Buddha’s Disciplines to more than 200 monks and nuns coming from all over America and other countries.
In 1974, he bought an old psychiatric hospital in Califormia. This hospital was built on a 144 acre land in 1930, including 70 buildings with 2000 rooms, and it could host 20,000 people. It was the biggest modernized equipped Buddhist center in the U.S. He named the center "The City of Ten Thousand Buddhas".

Tuyen Hoa Master was famous by his modesty, unlimited compassion to living things. He passed away in May 10th, 1995 (Lunar Calendar) at The City of Ten Thousand Buddhas Center.




Thiền sư Soen Sa Nim:

Ngài là thiền sư Đại Hàn đầu tiên hoằng pháp tại Mỹ. Ngài xuất gia năm 1949, du học 9 năm ở Nhật bản và Hồng Kông. Năm 1972, ngài đến Los Angeles, nơi có cộng đồng người Đại Hàn sinh sống. Bước đầu tại Mỹ ngài phải sống vất vả, đi làm tại một cửa hàng giặt ủi để có tiền đi học Anh văn, trả tiền nhà và thức ăn. Ngài được giáo sư Leo Prudes, dạy ở phân khoa Phật học tại đại học Browns mời giảng cho sinh viên của ông. Dịp này, ngài được hai sinh viên Mỹ mời về nhà dạy thiền cho họ. Sau đó ngài thành lập trung tâm thiền Providence ở Rhode Island.


Năm 1974, ngài đi giảng pháp ở khắp nước Mỹ, dạy cho người Mỹ tụng kinh, niệm Phật, niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Tiếp đó, ngài xây chùa Tah Mah Sahl ở Los Angeles; Trung tâm thiền Quốc tế New York, Trung tâm thiền ở Cambridge ... để có nơi cho người Đại Hàn và Mỹ tu học. Nhờ ngài mà nhiều người Mỹ tìm đến Đại hàn để tu học, nghiên cứu Phật giáo.




Master Soen Sa Nim:

Master Soen Sa Nim was the first Korean Zen Master teaching Buddhism in the U.S. He became a monk in 1949. He spent nine years abroad studying in Japan and Hongkong. In 1972, he came to Los Angeles where a large Korean Community lived. His first few years in the U.S he worked very hard in a laundry store to earn his lining and to study English. He was invited to teach Buddhism at Brown University by Leo Prudes, a professor of the Buddhism Department of Brown University. During this time, he taught Zen mediation to two American students; then, later he established Zen Studying Center Providence in Rhode Island.


In 1974, he traveled and taught Buddha’s teachings all over America. Next, he built Tah Mah Sahl in Los Angeles, International Zen Center in New York, and Zen Center in Cambridge for Korean and American Buddhists. Thanks to his work, many American came to Korea to study and practice Buddhism.


Lạt Ma Thubten Yeshe (1935-1984):

Ngài sinh vào tháng 5 năm 1935 tại ngoại ô thủ đô Lhasa của Tây Tạng, lên 6 tuổi ngài xuất gia và trải qua 20 năm tu luyện tại tu viện Sera ở Lhasa.


Năm 1959, ngài tỵ nạn sang vùng Đông Bắc Ấn Độ, tại đây ngài học Anh văn. Năm 1961, ngài thu nhận đệ tử đầu tiên là quận chúa Zina Rachevsky người Nga. Gia đình quận chúa này tị nạn ở California, giàu có, cô đã hư hỏng vì sự giàu sang đó, đã sống một thời bê tha, trác táng với nhóm nghệ sĩ và Hippi. Khi đến Ấn Độ, cuộc đời đã dun rủi cô gặp Lạt Ma Yeshe. Sau 9 tháng học hỏi giáo lý, cô xuất gia và đến Nepal tu học. Tại đây, sư cô Zina đã mua một khu đất và kiến tạo tu viện Kopan tại thủ phủ Kathmandu. Sau 3 năm nhập thất tu tập, sư cô Zina đã qua đời ở tuổi 42.
Tháng 11 năm 1971, Lạt Ma Yeshe mở khóa tu Lam Rim (Tiệm Đạo) dành cho 250 người Tây phương đến tu học. Trong khóa này có cô Max Mathews (người Mỹ) và ông Nick Ribush (người Úc) xuất gia.
Năm 1974, Lạt Ma Yeshe, Lạt Ma Zopa và sư cô Max Mathews đến Indiana (Mỹ) thăm nhóm thiền sinh Lois - Bois Wood (những người đã đến Ấn Độ tu học), sau đó đến Úc và lập tại Queenland một viện Quan Âm, đây là trung tâm Phật giáo Tây Tạng đầu tiên, khởi đầu cho các trung tâm khác ở Âu châu, Mỹ châu.
Tháng 11 năm 1975, tại California, Lạt Ma Yeshe tuyên bố thành lập Hội Bảo Tồn Phật Giáo Đại Thừa (Foundation for The Preversation of The Mahayana Teachings, viết tắt FPMT), tổ chức này phát triển rất nhanh, đến nay đã có trên 100 chi nhánh ở 20 quốc gia như Nepal, Ấn Độ, Anh, Mỹ, Pháp, Úc, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Hà Lan, Ba Tây, Hy Lạp, Nhật Bản, Đài Loan... Ngoài ra còn có một nhà xuất bản rất thành công là Wisdom Publication ở Massachusette và một Phật học viện ở Toulouse, Pháp cung cấp một chương trình tu học đa diện cho các Tăng sĩ phương Tây.
Ngày 3-3-1984, ngài viên tịch vì bệnh tim tại Los Angeles, thọ 49 tuổi. Sự nghiệp của ngài giao lại cho Lạt ma Zopa. Sau này người ta tìm được hóa thân của ngài là Osel Hita Torres, sinh ngày 12-2-1985 tại Bubion, Tây Ban Nha. Hiện nay Lạt Ma Osel đang tu học tại tu viện Sera ở miền Nam Ấn Độ.

Latma Thubten Yeshe (1935-1984):

Thubten Yeshe was born in May 1935 in the countryside of Lhasa in Tibet. He became a monk when he was 6 years old and lived 20 years in Sera temple in Lhasa.


In 1959, he moved to northeast region of India. In 1961, he accepted Russian princess Zina Rachevsky as his first disciple. Rachevsky’s family once lived in California where she spent all her youth in partying and other amusing activities with her Hippie friends. When she came to India, she met Yeshe. After nine months of studying Buddhism, she became a nun and moved to Nepal. She bought a piece of land to build Kopan Temple in Katmandu capital. After 3 years of self-studying in an isolated temple, Nun Zina passed away at the age of 42.

In November 1971, Master Yeshe held a Lam Rim practicing course for 250 American people. After the course, Max Mathews (American) and Nick Ribush (Australian) became nun and monk.


In 1974, Master Yeshe, Master Zopa and Max Mathews (a nun at that time) came to Indiana (U.S) to meet Lois-Bois Wood, a group of Zen practitioners. Then they came to Australia and formed a Quan Am center in Queenland. It was the first Tibet Buddhist center setting the foundation for the spread of Tibet Buddhism in Europe and in the U.S.
In November 1975, Master Yeshe formed a "Foundation for The Preservation of The Mahayana Teachings" (FPMT) in California. The organization was growing rapidly with Wisdom Publication in Massachusetts, Buddhism Institution in Toulouse, France, and 100 branches of the organization in 20 countries such as Nepal, India, England, U.S, France, Australia, Germany, Italia, and so on.

In March 3rd 1984, Master Yeshe passed away in Los Angeles at the age of 64. Master Zopa was appointed to take over Master Yeshe’s position. Later, we found his reincarnation that is Osel Hita Torres, born on 12-2-1985 in Bubion, Spain. Currently, latma Osel is studying at Sera temple in Southern India.




Hòa Thượng Thích Thiên Ân ( -1980):

Tên thật là Đoàn Văn An, người Thừa Thiên, con của Thượng Tọa Thích Tiêu Diêu, người đã tự thiêu trong cuộc pháp nạn năm 1963 tại Huế. Ngài xuất gia từ nhỏ, năm 1953 sang Nhật bản du học, tốt nghiệp tiến sĩ văn chương tại đại học Waseda, Tokyo vào năm 1963. Năm 1964, ngài về nước, làm giáo sư tại Đại Học Văn Khoa thuộc viện Đại Học Saigon, là Khoa trưởng Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn đầu tiên của Viện Đại Học Vạn Hạnh.


Năm 1966, trong chương trình trao đổi giáo sư giữa các Đại học Việt nam và Hoa Kỳ, ngài sang dạy ngôn ngữ và triết học tại đại học UCLA, sau đó ngài là giáo sư chính thức tại UCLA..
Tại Nhật Bản, ngài học theo truyền thống Rinza, Nhật bản; nên ở Mỹ, do yêu cầu của sinh viên, ngài thuê một căn nhà ở Holywood để hướng dẫn sinh viên Mỹ tu thiền. Năm 1970, ngài thành lập Trung Tâm Thiền Học Quốc Tế (International Buddhist Meditation Center) tại phía nam đại lộ Vermont, Los Angeles. Ngay từ đầu đã có nhiều sinh viên Mỹ xin xuất gia tu học, nổi bật có sư cô Karuna Dharma, tiến sĩ Phật học, sau này là một trong những người kế thừa sự nghiệp của ngài.
Năm 1973, ngài tổ chức giới đàn để truyền giới Tỳ kheo (250 giới), Tỳ kheo ni (348 giới) và Pháp sư (25 giới) được trao cho y vàng và một tọa cụ. Cũng năm này, ngài cùng với các nhà giáo dục Mỹ, Nhật, Đại Hàn, Tây Tạng, Tích Lan thành lập Viện Đại Học Đông Phương tại Los Angeles, California, Hoa Kỳ.
Năm 1975, làn sóng người Việt tỵ nạn tại Hoa kỳ, ngài cùng với hội Ái Hữu Phật Tử Việt Mỹ đã mua ngôi nhà để làm chùa Phật Giáo Việt nam tại Los Angeles, đến năm 1976 ngài mua một cơ sở khác để làm chùa A Di Đà.

Vào các ngày 29, 30 và 31 tháng 12 năm 1978, tại Los Angeles, dưới sự chủ trương của ngài, một Đại Hội Phật Giáo gồm 14 phái đoàn thuộc các tiểu bang tại Hoa Kỳ, một phái đoàn Phật Giáo Ấn Độ, qui tụ 50 đại biểu, đã thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam.

Ngài chủ trương một tạp chí lấy tên Phật Giáo Việt Nam, đến nay tạp chí này vẫn còn tiếp tục ấn hành.

Ngày 6 tháng 5 năm 1979, một Đại Hội Tăng Già Phật Giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Giác Hoàng ở Washington DC, mặc dù ngài khiếm diện, Đại Hội cũng đã tôn vinh ngài lên ngôi vị Hòa Thượng.


Năm 1980, ngài mua 80 mẫu đất ở đường Glandale và Fwy 5 tại Los Angeles để làm Đại Tòng Lâm cho Phật Giáo Việt Nam.
Do ung thư gan, Hòa Thượng Thích Thiên Ân đã viên tịch ngày 23-11-1980. Công nghiệp của ngài vẫn được nhiều người kế thừa và người ta tôn vinh ngài là một vị Sơ Tổ của Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ.
Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ hiện nay có đến 6 Giáo Hội, chưa kể 3 Giáo Hội Thế Giới. Giáo Hội lâu đời nhất là Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam được thành lập ngày 31-12-1978 tại Los Angeles, nay do Hòa Thượng Thích Mãn Giác làm Hội Chủ, Giáo Hội mạnh nhất là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ thành lập ngày 27-9-1992, do Hòa Thượng Thích Hộ Giác làm Chủ Tịch Hội Đồng Điều Hành.
Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ có hơn 100 ngôi chùa rải rác các tiểu bang, nhưng tập trung nhiều nhất là California, có chừng trên 300 Tăng Ni.

Cơ quan ngôn luận có tạp chí Phật Giáo Việt nam, Phật Giáo Hải Ngoại, Trúc Lâm, Hoa Sen. Có nhà xuất bản Phật Học Viện Quốc Tế, Lá Bối, Sinh Thức. Có chương trình phát thanh Phật Giáo ở California. Trang nhà thuộc Phật Giáo Việt Nam trên Internet có rất nhiều.


Ngoài ra có cộng đồng người Thái, Lào, Miên đều có riêng tu viện và Tăng sĩ để họ tu học và hành lễ theo nghi thức riêng của Phật giáo nước họ.

Most Venerable Thích Thiên Ân ( -1980):

Master Thien An whose real name was Doan Van An, was born in Thua Thien, Vietnam. He was a son of Master TieuDieu who burned himself in Hue in 1963. He became a monk when he was very young. In 1953, he came to Japan to study. He earned a doctorate degree of Literature at Waseda University in Tokyo in 1963. In 1964, he returned to Vietnam and taught literature in Saigon University. He was the first Dean of Literature and Human Study Department of Van Hanh University.


In 1966, he came to the U.S to teach linguistics and philosophy at UCLA under a professors exchange program between Vietnam and the U.S. Later he became a professor at UCLA.

While living in Japan, he studied Zen Rinza; so when he came to the U.S he rented a place in Hollywood and taught his students to practice Zen. In 1970, he formed an International Buddhist Meditation Center at Vermont Ave, Los Angeles. Among his American disciplines was nun Karuna Dharma (she had the doctorate degree in Buddhism) who later took over his position after he passed away.

In 1973, he held a Passing Buddha’s Disciplines Course for monks and nuns. He also formed an Oriental University in Los Angeles, CA with some other scholars.
In 1975, the population of Vietnamese immigrants increased rapidly. Master Thien An, with the help of Vietnamese American Buddhist Association, bought a house and remodeled it into a Vietnam Buddhist Temple in Los Angeles. In 1976, he bought another facility to build ADIDA temple.
From December 29th to 31st 1978, he held a Buddhist conference which included 14 Buddhist delegations from different states and one delegation from India, with the total of 50 delegates, and formed Vietnamese Buddhist General Congregation.

Buddhist Magazine, which was established by Master Thien An, is now still circulated in the U.S.


05/06/1979, Vietnamese Shanga Conference was held at GiacHoang temple, Washington DC. and he was appointed to a Most Venerable ThienAn.

n 1980, he bought 80-acre land in Los Angeles to build a village for Vietnamese Buddhist monks.

Master Thien An passed away in November 23, 1980 because of a lung cancer. Master Thien An was considered the first founder of Vietnamese Buddhist in the U.S.

Vietnam Buddhist Congregation in the U.S nowadays has more than 6 branches. The oldest branch is Vietnam Buddhist General Congregation which was formed in December 31st 1978 in Los Angeles and Master Man Giac is the chairman. The strongest branch is United Buddhist Congregation which was formed in September 27 1992 and Master Ho Giac is the chairman.

Vietnam Buddhist Congregation in the U.S has more than 100 pagodas and temples in different states. In California, where Vietnamese community is strong, there are a lot of Vietnamese Buddhist temples with about 300 monks and nuns.

The Congregation has its own press like Vietnamese Buddhist Magazine, Oversea Vietnamese Buddhism, Lotus, Truc Lam, International Institution of Buddhism Publisher, La Boi Publisher, Sinh Thuc Publisher, a Vietnamese Buddhist Radio in California, and many websites.


In addition, there are Thais, Laos, and Cambodia communities with many temples where native monks live, study and worship accordingly to each nation traditions.


Thiền sư người Mỹ Philip Kapleau (1912- ):

Ông sinh ra trong gia đình có đạo Tin Lành. Ông học luật. Sau khi tốt nghiệp, ông làm thư ký nhiều năm ở Tòa Án Liên Bang Mỹ. Sau thế chiến thứ hai (1939-1945), ông được chỉ định làm báo cáo viên tại hai Tòa Án Quốc Tế tại Nurember ở Đức và Tokyo ở Nhật Bản.


Ở các phiên tòa tại Tokyo, Kapleau nhận thấy người Nhật có thái độ chấp nhận hậu quả chiến tranh với sự điềm tĩnh, qua đó, ông thấy người Nhật chịu ảnh hưởng tôn giáo, chấp nhận cuộc đời, tất cả những thứ đó kích thích, thúc bách ông tìm hiểu. Sau khi gặp Suzuki, Phật giáo đã cuốn hút tâm hồn ông, vì giáo lý cao siêu, thực tiển.
Năm 1953, ở tuổi 44, ông đã thôi việc. Theo lời hướng dẫn của Suzuki, ông đến Mhật Bản để tìm sư học đạo. Ông không biết tiếng Nhật nên việc thu nhận vào thiền viện gặp nhiều khó khăn. Cuối cùng, thiền sư Soen tiếp nhận ông vào tu tại thiền viện Phát Tâm (Hosshinji).
Đây là vị Tăng đầu tiên người Mỹ. Sau 13 năm tu học tại Tokyo với thiền sư Soen ở chùa Hosshinji, rồi học thiền với thiền sư Yasutani, năm 1958 ông đã ngộ đạo và được thiền sư Yasutani ấn chứng ban cho danh hiệu Lão sư (Roshi), một danh hiệu chỉ ban cho ai đã chứng ngộ. Ông đã ghi chép những lời giảng về thiền của Yasutani thành tác phẩm nổi tiếng là Ba Trụ Thiền (Three Pillasr of Zen) in tại Nhật Bản năm 1965.
Năm 1966 Kapleau trở về Mỹ thành lập trung tâm thiền Rochester ở New York. Thập niên 70, ông đi khắp nước Mỹ để truyền bá pháp tu thiền. Ông cũng được mời đến Canada, Mexico, Costa Rica, Đức, Pháp và Ba Lan. Phong cách bình dị, phẩm hạnh cao trội khẳng định thêm giá trị ba trụ thiền. Thiền đã được phổ biến rộng khắp và đi sâu vào từng tâm thức cá nhân. Người ta đổ xô đến trung tâm Rochester để tu thiền.
Năm 1980, ông cho ấn hành tác phẩm nổi tiếng khác: Thiền, Ánh Bình Minh ở Phương Tây (Zen Dawn in the West).
Ông là một thiền sư Mỹ nổi tiếng, ảnh hưởng của ông lan rộng vùng Đông Bắc Mỹ. Ngoài Kapleau ra, cũng còn nhiều vị Tăng Mỹ danh tiếng khác.

Kết quả ngày nay đã mang đến cho nước Mỹ một nền Phật giáo như sau:


Có hơn 30 hội đoàn Phật giáo lớn được thành lập tại Mỹ, nổi bật trong đó là Hội Thanh Niên Phật Tử (Young Men Buddhist Association), thành lập năm 1896; Hội Phật Giáo Bắc Mỹ (The North American Buddhist Mission) thành lập năm 1899;

Hội Phật Giáo Mỹ Quốc (The Buddhist Churches of America) thành lập năm 1905; Tổng Hội Pháp Giới Phật Giáo (The Dharma Realm Buddhist Association) ra đời năm 1969; Hội Bảo Tồn Phật Giáo Đại Thừa (The Foundation for The Perservation of Mahayana Teachings) thành lập năm 1975 ...

Có trên 1000 tự viện, tịnh thất, niệm Phật đường, trung tâm tu học trên khắp nước Mỹ và có khoảng 10 triệu Phật tử hay tự nhận mình là Phật giáo.

Có trên 15 Đại học Hoa Kỳ có Phân khoa Phật học, cấp bằng Phật Học được cấp phát từ Cử nhân đến Tiến sĩ.


Có 6 nhà xuất bản tại Hoa Kỳ: Snow Lion, Wisdom Publication, Asian Humanities Press, Motilai Banaridass, Harper & Row, Shambhala.

Có hơn 10 tờ báo ấn hành tại Hoa Kỳ, nổi bật nhất có tạp chí Tricycle Buddhist Review, tạp chí Mandala, tạp chí Shambhala Sun, tạp chí Turning Wheel..


Tài liệu giáo lý kinh sách đã được đưa vào Internet từ năm 1993.
Thiền như một luồng gió mát, mang đến cho người Mỹ sự thích hợp để tu tập, thêm vào đó trong những năm gần đây, người Mỹ đã nhen nhúm lòng tin rằng con người có luân hồi. Phật giáo sẽ mang lại cho người Mỹ đầy ý nghĩa nhân sinh, giải quyết thỏa đáng cho họ mọi thắc mắc về cuộc đời trong tinh thần tự do và phù hợp với khoa học.
Không riêng gì tại Hoa Kỳ, Phật giáo ở các nước Tây phương có tiền đồ ngày càng sáng lạn.
(Chinh Hanh, Phật Hoc 48, 1988)

Master Philip Kapleau (1912- ):

Philip Kapleau was born in a Baptist family. After getting a degree in laws, he worked as a secretary at Federal Court for many years. After the WWII, he was appointed as a reporter at International Court in Nuremberg, Germany and Tokyo, Japan.

While working at International Court in Japan, Kapleau admired Japanese people since they accepted their heavy lost in World War II with a calm attitude. He thought that Buddhism was a significant factor that built up the calmliness in Japanese people. After meeting Suzuki, he was interested in Buddhism because of its pratical teachings.
In 1953, at the age of 44, he quitted his job to come to Japan to study Buddhism. In Japan, he faced a lot of difficulties because he did not speak Japanese. He was finally accepted to live in Master Soen’s Hosshinji Pagoda.

He was the first American monk. After13 years of studying Buddhism in Japan with Master Soen and then with Master Yasutani, he attained the awakening level of mastering Buddhism. In 1958, Master Yasutani recognized his awakening and gave him the name of Roshi, a name for one who attains the awakening level of mastering Buddhism. Kapleau wrote and published "Three Pillars of Zen" (1965 in Japan) which based on Master Yasutani’s teachings about Zen.


In 1966, Kapleau returned to the U.S and formed Rochester Zen Center in New York. In 1970s he made a tour around the U.S to teach Zen. During this time, he was also invited to come to Canada, Mexico, Costa Rica, Germany, France, and Poland to instruct people how to practice Zen. Practicing Zen became popular as well as Rochester Zen Center in New York.

In 1980, he published "Zen - Dawn in the West" which became a very famous book.

Kapleau was an American Zen Master whose influence of Zen practice was wide and deep in northeast region of America. In addition to Master Kapleau, there are many famous masters who contributed their lives and works into spreading Budhism in the US.
Nowadays, there are more than 30 Buddhist associations in the U.S such as Young Men Buddhist Association formed in 1896, The North American Buddhist Mission formed in 1899, the Buddhist Churches of America formed in1905, The Dharma Realm Buddhist Association formed in 1969, and The Foundation for The Preservation of Mahayana Teachings formed 1975.

There are more than a thousand temples, pagodas, Zen centers and about ten million Buddhists all over the US.

There are more than 15 universities, which have Buddhism Department where people can get B.A and Ph.D degree of Buddhism.

There are 6 Budhist publishing firms in the U.S: Snow Lion, Wisdom Publication, Asian Humanities Press, Motilai Banaridass, Harper &Row, and Shambhala.

Among ten Buddhist newspapers, which are still circulated in the U.S, the most popular ones are Tricycle Buddhist Review, Mandala, Shambhala Sun, and Turning Wheel.
From 1993, a lot of Buddha's teaching documents have been posted to the web.
Zen apprears as a calm, comfortable breeze to the busy American who learned that practicing Zen meditation is appropriate with their lifestyles. Recently, the Americans start their belief in the cycle of rebirths. Budhism might have shown the Americans the significant of mindful being, sastisfied answers to life in term of freedom and scientific and technology reality.
Not just in the US, Budhism grows its bright future in many other Western countries.
(ChinhHanh, PhatHoc 48, 1988)









tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương