Ấn bảN 2017 (version 2)


TINH THẦN KHÔNG CHẤP THỦ & TÙY DUYÊN BẤT BIẾN



tải về 0.72 Mb.
trang12/13
Chuyển đổi dữ liệu16.11.2017
Kích0.72 Mb.
#1926
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13

TINH THẦN KHÔNG CHẤP THỦ & TÙY DUYÊN BẤT BIẾN



I. TINH THẦN KHÔNG CHẤP THỦ:
1. Thế nào là chấp thủ?

CHẤP hay CHẤP THỦ là nắm chặt, giữ kỹ, không chịu buông ra. Người có định kiến thường hay cố chấp không chịu thay đổi quan điểm, suy nghĩ, thành kiến v.v... của mình, mặc dù thực tế đã chứng minh là thành kiến ấy, suy nghĩ ấy sai lầm.


Có nhiều hình thức chấp thủ: chấp ngã, chấp pháp, chấp thủ tướng v.v...
Chấp Ngã: cho rằng có cái TA riêng biệt, bất biến, thường còn.
Chấp Pháp: cho rằng mọi sự vật đều có thực thể riêng biệt, độc lập, trường tồn; không chấp nhận lý duyên sanh, duyên khởi v.v...
 Ví dụ 1: Ngày xưa ông cha ta cho rằng Xướng ca vô loại. Quan điểm này bây giờ không còn đúng nữa: người nghệ sĩ, ca sĩ, nhạc sĩ có tài được xã hội tôn trọng và hoan nghênh; họ rất thành công trong đời. Tuy nhiên vẫn còn một số người không chịu chấp nhận thực tế này, cứ có thành kiến với các cô ca sĩ chẳng hạn, như vậy là cố chấp hay chấp thủ ý kiến của mình, dù đã lỗi thời.
 Ví dụ 2: Ngày xưa ông cha nói gì thì đứa con bắt buộc phải nghe theo, dù cho đó là vô lý (phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu = cha bảo con chết mà con không chết là con bất hiếu); bây giờ không những điều này đã lỗi thời mà con cái đôi khi còn cho rằng cha mẹ dốt hơn mình, không nghe theo bất cứ gì cha mẹ dạy bảo. Cả 2 thái độ cố chấp của cha mẹ và đứa con như trong ví dụ này đều là chấp thủ, là sai, ắt phải đưa đến bất hòa, phiền não trong gia đình.
 Ví dụ 3: Hai ví dụ trên đây là "chuyện thế gian". Có người tự cho mình là không còn vướng mắc chuyện thế gian, chỉ lo tu hành (tại gia), nhưng vẫn còn cố chấp. Họ vừa "chấp ngã" lại vừa "chấp pháp". Họ cho rằng chỉ có pháp môn tu của họ là "số 1", còn các pháp môn tu khác là "lu bu, không đi tới đâu". Xin hãy nghe một mẫu đối thoại vui vui sau đây:
- Bà phải tu thiền mới được, tu Tịnh Độ thì bao giờ mới "ngộ" được hở bà? Bà có biết không? Tu thiền là đi máy bay phản lực để về Niết Bàn, còn tu Tịnh Độ là đi bộ, biết đời nào tới (?!!!).
- Tui thì trái lại, bà tu thiền không biết đường đi, cứ loanh quanh lẩn quẩn rồi trở về chỗ cũ không chừng, còn tui thì "chắc nụi", tui một niệm A Di Đà là thẳng tốc tới Tịnh Độ, nhắm mắt lại là có đức A Di Đà tới rước, không còn lo lắng như tu thiền trước đây nữa (!!?).
Thì ra cả hai bà nghĩ rằng mình đang tu, đang không bị vướng mắc vào những chuyện thế gian thường tình mà không hề ngờ rằng mình đã mắc kẹt - kẹt cứng nữa là khác - vào "cái ta" (chấp ngã) và cái "của ta" (chấp pháp). Vậy nếu ta là một Phật tử đang tu tập thì phải thấy rằng TU là để tập buông bỏ (XẢ) không phải để nắm giữ (CHẤP) và đức Phật đã dạy: có tám vạn bốn ngàn phiền não nên cũng có tám vạn bốn ngàn phương pháp đối trị, hay nói cách khác: có tám vạn bốn ngàn pháp môn để tu. Người có muôn ngàn căn cơ khác nhau, tính tình khác nhau, trình độ khác nhau thì cách tu cũng có muôn ngàn cách. Tại sao phải bảo người tu theo phương pháp của mình? Tại sao phải cho rằng pháp môn của mình là "số 1"?
Vậy cho nên chúng ta phải hết sức cẩn trọng để đừng rơi vào chấp thủ mà không tự biết.
2. Tại sao không nên chấp thủ?

- Vì chấp thủ đưa đến tham ái, sân hận và khổ đau.


Thật vậy, như chúng ta đã học về lý nhân duyên sinh, vô thường và vô ngã. Chúng ta biết rằng mọi sự vật đều do nhân duyên sinh, kể cả con người cũng chỉ là một tập hợp gồm 5 nhóm (ngũ uẩn): sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi các nhân duyên hợp thì có, khi các duyên tan rã thì trở về không; đó là một định lý chắc thật đã được chứng minh. Đã biết trước như vậy thì ta nhìn sự vật một cách bình thản, không để bị vướng vào tham ái, si mê và khi vô thường đến, ta đón nhận với sự kham nhẫn, không quá đau khổ hay sân hận (oán trời, trách đất, thù người v.v...). Người chấp thủ không chịu chấp nhận vô thường. Họ cho thân này vĩnh cửu nên lo o bế thân này, ai động tới thì sân si nổi dậy, chỉ thấy có cái ta của mình. Đối với người thân yêu của họ, họ cũng cho là bất diệt, nên khi người thân mất đi thì trở nên điên cuồng, giận dữ. Họ không biết rằng đâu có ai tránh được vô thường, vô thường đâu có tha cho ai hay chờ đợi ai đâu: già thì chết vì hết tuổi thọ nhưng trẻ cũng có thể chết vì tai nạn, bệnh hoạn. Người không chấp thủ thì biết sinh lão bệnh tử là định luật tự nhiên, có sinh ắt phải có tử, họ không sợ chết đến nỗi trở nên ích kỷ, chỉ lo bản thân mình, hưởng thụ thái quá, chơi bời phóng túng; họ biết tự nhắc nhở mình lo tu tập, làm lành tránh ác vì không biết vô thường đến lúc nào. Ngoài ra họ còn thấy được tất cả chúng sinh đều bình đẳng như nhau đối với vô thường (tham sống sợ chết) nên họ trải lòng thương đến mọi người mọi loài, do đó, người không chấp thủ có an lạc tự trong tâm mình.
Như vậy ta thấy rằng: thành kiến, cố chấp là biểu hiện của chấp thủ. Chúng ngăn cản cảm thông, tiến bộ và giải thoát.
3. Tinh thần không chấp thủ là một đặc tính của Giáo dục Phật giáo.

Đức Phật đã dạy: giáo lý của ta như là chiếc bè để qua sông chứ không phải để ôm giữ. Giáo lý là để chúng ta thực hành, tu tập để được an lạc, giải thoát khỏi phiền não khổ đau, chứ không phải chấp chặt (ôm giữ) để gây ra phiền não cho mình cho người. Đức Phật còn nói: khi qua sông rồi phải bỏ chiếc bè, không phải vác chiếc bè trên vai mà đi. Cũng tương tự, Phật Pháp để áp dụng vào cuộc sống, không phải để thành gánh nặng cho hành trình tu tập. Lời dạy này của đức Thế Tôn cũng dạy về hạnh buông xả, không chấp chặt vào bất cứ gì, kể cả giáo lý. Trong Phật Pháp, ta thường nghe lời dặn của đức Phật: hết thảy kinh điển như ngón tay chỉ mặt trăng, cũng có ý nghĩa là đừng chấp chặt vào kinh điển mà cho đó là chân lý, phải hiểu rằng đó là ngón tay chỉ đến chân lý. Như vậy rõ ràng ngay cả giáo lý mà chấp chặt vào đó còn không được huống là chấp ngã hay chấp pháp.


Nhờ ảnh hưởng tinh thần không chấp thủ của đạo Phật, đời Lý Trần đã thực hiện được sự đoàn kết keo sơn của dân tộc, thống nhất Tam giáo (Khổng, Lão và Phật giáo). Những ông quan nhà Trần cũng là những Phật tử hiểu được tinh thần này, bỏ thù nhà để chung lo việc nước (Trần Quang Khải đã quên mối thù nhà hẹp hòi, hợp sức với Trần Hưng Đạo đẩy lui quân giặc xâm lăng nước ta). Ta thấy rất rõ ràng là: ở đâu có không chấp thủ thì ở đó có cảm thông, đoàn kết và thương yêu. Chúng ta tu tập đạo giải thoát và hướng dẫn đàn em tu tập, vì vậy bất cứ trường hợp nào, trong hoàn cảnh nào chúng ta cũng không nên chấp thủ (bảo thủ ý kiến riêng của mình, không tôn trọng ý kiến tập thể, có thành kiến với một huynh trưởng bạn hay với một đoàn sinh v.v... đều là biểu hiện của chấp thủ) vì chúng ta là con Phật và bởi vì tổ chức chúng ta là một tổ chức giáo dục Phật Giáo lấy đoàn kết, hiểu biết và thương yêu làm nền tảng.


  1. TINH THẦN TÙY DUYÊN BẤT BIẾN

(trích: Phật Học Khái Luận của Thầy Thích Chơn Thiện, trang 100 và 101)
Đây cũng là một đặc điểm của giáo dục Phật Giáo. Tinh thần Tùy Duyên Bất Biến là tinh thần xử sự, hành động uyển chuyển, thích nghi với hoàn cảnh sống: tùy thời, tùy chỗ, tùy người (tùy duyên), miễn là sự uyển chuyển linh động ấy mang lại điều tốt đẹp cho cả mình và người (bất biến). Nói khác đi, hình thức và phương tiện hành động có thể uyển chuyển nhưng dụng ý và kết quả của hành động phải là Thiện và đúng với Phật Pháp. Thái độ này luôn luôn không rời khỏi lòng từ, lòng nhân và luôn luôn được soi sáng bởi trí tuệ hay chánh kiến. Nắm được tinh thần hành động này là nắm được cái trục quay của sự sống. Chiếc áo không quan trọng mà quan trọng là ở tấm lòng, cái Tâm của con người; giữ lòng mình hợp Đạo là ý nghĩa của Bất Biến, linh động hòa mình vào cuộc sống là ý nghĩa của Tùy Duyên.
Đi vào lảnh vực giáo dục và xã hội, cái gọi là Việt Nam hay Việt tính là tinh thần, thái độ sống, thái độ nhận thức, mà không phải là kiểu áo, kiểu tóc, màu áo. Tinh thần độc lập bất khuất là thuộc Việt tính, tinh thần uyển chuyển sống để tồn tại và phát triễn là thuộc Việt tính (có thể gọi là tinh thần dung hóa).
Người Việt Nam có thể tiếp thu các nền văn minh phương Tây, nhưng nội dung cần được Việt hóa (chuyển hóa thành cái của Việt Nam) không để đánh mất Việt tính; đây là ý nghĩa của Tùy Duyên Bất Biến.
Ở hành động, tinh thần tùy duyên phá vỡ tính câu nệ cố chấp (chấp thủ) và tinh thần này được đảm bảo giá trị nhờ động cơ của tâm lý hành động và nhờ chủ đích mà hành động nhắm đến. (*)
Tinh thần giáo dục hành động Tùy Duyên Bất Biến là tinh thần rất tích cực, giúp con người của thời đại có nhiều biến chuyển nhanh chóng, có điều kiện rộng rãi để hành động thích nghi với những nhân duyên mới, khai thông được nhiều bế tắc do chủ nghĩa đem lại.
Thuật ngữ Phật Giáo có nghĩa tương đương với Tinh thần Tùy Duyên Bất Biến là Phương Tiện Thiện Xảo mà Thế Tôn đã vận dụng để dẫn dắt các đệ tử đi dần vào giải thoát. Tinh thần phương tiện lại được làm sống lại ở kinh Pháp Hoa qua phẩm Phương Tiện. Tinh thần giáo dục tùy duyên sẽ giúp học đường soi sáng, chỉ lối hành động tốt cho tuổi trẻ.


III. ÁP DỤNG TINH THẦN TÙY DUYÊN BẤT BIẾN KHÔNG CHẤP THỦ VÀO CUỘC SỐNG HIỆN TẠI

Trong cuộc sống xa quê hương của chúng ta hôm nay, chúng ta có cơ hội tiếp xúc với những nền văn minh văn hóa khác nhau, khác hơn nền văn hóa Việt Nam. Chúng ta có thể áp dụng những cái hay cái đẹp của họ vào cuộc sống để làm cho cuộc sống trở nên tiện nghi hơn, thoải mái hơn (tùy duyên), nhưng chúng ta cũng không quên đi truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam mình (bất biến) để giữ mình luôn sống trong đạo đức của phương Đông và đặc biệt là nền giáo dục Phật giáo mà chúng ta đã hấp thụ từ giáo dục Gia Đình Phật Tử.


Tóm lại, tinh thần tùy duyên giúp chúng ta sống cởi mở, dễ thông cảm, hiểu biết, tiếp thu những tinh hoa của cái mới đem áp dụng vào cuộc sống của mình để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Còn bất biến giúp chúng ta gìn giữ và phát huy những nét đẹp Đông phương, cuộc sống nội tâm phong phú cũng như những đức tính nhân hậu, nhẫn nhục, hy sinh v.v... của dân tộc ta. Gần hơn hết, trong gia đình, tinh thần tùy duyên bất biến giúp cha mẹ và con cái xích lại gần nhau hơn: cha mẹ thì bớt câu nệ, cố chấp, không còn khư khư giữ lấy những thói quen bên nhà (tùy duyên) và con cái bớt phóng túng, đua đòi theo phong tục Tây phương, không sống buông lung phóng dật, không vượt quyền cha mẹ, luôn luôn giữ lòng hiếu đạo đối với cha mẹ và thuận thảo với anh chị em v.v... (bất biến). Tinh thần tùy duyên bất biến, do vậy, giúp cho sự hài hòa trong gia đình, lấp đi cái hố sâu ngăn cách giữa hai thế hệ cha mẹ và con cái, nhất là sống tại nước ngoài, hấp thụ những nền văn hóa khác nhau trong cuộc sống dồn dập khó khăn và áp lực từ nhiều mặt đưa tới do sự phát triển nhanh chóng về Khoa học, Kỹ thuật, Kinh tế và về mọi lảnh vực
(*) Ý nói không lạm dụng danh từ để hành động buông lung phóng dật rồi coi đó là tùy duyên bất biến (vì nếu vậy là biến chất rồi chứ không phải là bất biến)

VẤN ĐỀ NGUYÊN NHÂN ĐẦU TIÊN


THE FIRST CAUSE



Vấn đề nguyên nhân đầu tiên là một vấn đề thường làm cho con người ta thắc mắc nhiều nhất. Cũng bởi vì nổi khổ đau thắc mắc ấy mà các thần giáo ra đời. Mỗi thần giáo chủ trương một vị thần linh tối cao tối đại tạo lập nên trời đất và muôn vật. Đó là Brahma, là Allah, là Jéhovah, là Thượng Đế, là Chúa Trời... Bản thể của các vị chúa tể ấy, loài người không thể hiểu thấu được. Quyền phép tạo lập, cứu vớt và trừng phạt của các vị ấy, trí óc loài người không thể kiểm soát được. Về các vị ấy, người ta không thể dùng lý trí để suy luận, chỉ có thể đem một lòng Tin để thừa nhận mà thôi. Lòng Tin ấy chính là sự vỗ về an ủi, một "liều thuốc tê" để con người có thể dịu lại trí não đang bị căng thẳng, đang bị khổ đau vì những câu hỏi kia. Công nhận một đấng tạo hóa, tức là chận đứng sự hiểu biết của con người lại. Người xưa, khi trông thấy những hiện tượng kỳ bí của vũ trụ, họ không thể cắt nghĩa được các hiện tượng một cách khoa học mà chỉ nghĩ rằng đó là những gì mà các lực lượng siêu nhiên, thần bí đã tạo ra. Gió thổi là bởi thần gió đi qua. Nước ngập là bởi thần thủy giận dữ. Nếu khoa học chấp nhận lối trả lời đó thì làm sao khoa học có thể tiến lên mà cắt nghĩa bằng thuyết nhân duyên sinh rằng gió là do kết quả của sự chuyển động không khí, lụt là do nước nguồn chảy về quá nhiều? Đạo Phật chủ trương không có nguyên nhân đầu tiên. Ý niệm về nguyên nhân đầu tiên là một "vọng tưởng điên đảo" do sự cố chấp mê lầm của chúng sinh mà có. Nếu hiểu được giáo lý đạo Phật, ta sẽ thấy câu hỏi "nguyên nhân đầu tiên là gì?" là một câu hỏi ngớ ngẩn, buồn cười, không đáng làm cho chúng ta thắc mắc. Theo đạo Phật, các hiện tượng vũ trụ luôn luôn biến chuyển và sinh diệt, không lúc nào dừng nghỉ. Sự sinh diệt của những hiện tượng ấy được thể hiện trên đường lối nhân duyên (paticca samuppada). Một hiện tượng phát sinh, không những chỉ do một "nhân" tiền hữu, mà còn do vô số các "duyên" (điều kiện giúp cho sự phát sinh) khác. Các duyên này cũng không phải tự nhiên mà có. Chúng cũng là "quả" do vô số "duyên" khác tạo nên. Như thế, "một" hiện tượng có liên quan (dù gần hay xa) với "tất cả" các hiện tượng của vũ trụ.


The origin of the universe is a controversial issue often debated and confused. Theism results from the suffering arising from this uncertainty. Each theistic doctrine exclusively claims a deity responsible for the creation of the universe. These deities include Brahma, Allah, Jehovah, and God. Humans cannot understand the nature of these deities. These deities’ abilities to create, to save, and to punish cannot be understood by humans. Regarding these deities, human logic does not apply; humans can only have faith and accept the deities. That faith is a source of comfort, a mental tranquilizer to alleviate the stress, confusion, and suffering of the uncertainty above. These deities created by man have hindered mankind’s understanding. Primitive people, upon experiencing strange natural phenomena, could not scientifically explain these phenomena and simply attributed them to the supernatural deities. Winds are the result of a passing wind god. Floods result from the rage of a water god. If science accepted these explanations, then how could science progress to explain through cause and effect that winds result from atmospheric activity, that floods result from excessive water flow? Buddhism declares that there is no origin to the universe. The concept of an origin is illogical and attempts to compensate for our ignorance. If we understood Buddhism, then we would see that the concept of an origin is incredible, ridiculous, and not worthy of controversy or confusion. According to Buddhism, all phenomena are in a constant state of change, of becoming and of annihilation. The existence and destruction of these phenomena have both causes and conditions. The becoming of a phenomenon is not the result of a singular cause, but instead also relies on numerous other conditions. These conditions too do not spontaneously arise. They too are the results of numerous other conditions. Hence, a phenomenon is dependent (whether directly or indirectly) on all the phenomena of the universe.

Nói "hiện tượng" đây tức là nói một "dòng hiện tượng". Bởi vì khi nói đến hiện tượng, ta thường nghĩ đến cả lịch trình phát sinh, trưởng thành, hư hại, và tan rã (thành, trụ, hoại, không) của hiện tượng ấy. Có thành, trụ, hoại, không tức là có chuyển biến, mà có chuyển biến thì cố nhiên nó không phải là "một" hiện tượng đồng nhất bất biến. "Nó'" là một "dòng hiện tượng", bởi vì "nó" của phút sau đã không phải "nó" của phút trước. Với lại, trước khi "nó" (dòng hiện tượng) phát hiện, ta bảo rằng chưa có "nó". Kỳ thực, "nó" đã có muôn ngàn nhân duyên tiền hữu rồi, sở dĩ ta không nhận được "nó" là vì ta không thấy được "nó" bằng cặp mắt thiển cận mà thôi.

To speak of a phenomenon in this sense refers to an actual chain of phenomena. When speaking of a phenomenon, we are actually referring to its birth, its development, its degradation, and its destruction. To experience birth, development, degradation, and destruction does not result in change, but rather change results in birth, development, degradation, and destruction. A "phenomenon" is not simply a singular phenomenon, but rather a chain of phenomena because the phenomenon a moment later is not the same phenomenon as it was a moment ago. Similarly, we often claim that before the existence of a phenomenon, it did not exist. Actually, the phenomenon had already existed through its constituent predecessors; we simply could not recognize it with our superficial perspective.


Bạn tôi có "ráp" một cái xe đạp ở Saigon từ năm 1945 tại hiệu Dur-Ford, giá 400đ. Cái xe ấy cũ dần, hư dần, bạn tôi đã thay mấy ổ líp, nào niềng, nào lốp, nào vỏ, nào tăm. Bạn tôi lại thay cả tay lái, và vừa rồi, gảy khung xe, bạn tôi liệng vào xó hè, không dùng nữa. Bạn tôi chỉ nó mà bảo tôi: "Đó là chiếc xe tôi mua ở Saigon năm 1945 giá 400đ đây". Bạn tôi không ý thức được sự thay đổi của chiếc xe kia và vẫn một mực "đồng nhất" cái xe năm nay với cái xe trước đây 12 năm. Lẽ ra trong "quá trình" biến chuyển của chiếc xe, bạn tôi phải thấy chiếc xe hôm sau khác với chiếc xe hôm trước, và hơn thế nữa, chiếc xe phút sau khác với chiếc xe phút trước...

A friend of mine had assembled a bicycle in Saigon back in 1945, of Dur-Ford brand, costing VN$400. That bicycle was old and broken down, and it had undergone several repairs, including its spokes, rims, wheels, and tires. He even replaced the handlebars, and just when the frame broke, he discarded it to a corner of his patio and did not use it anymore. He points to it and tells me, "That is a bicycle that I bought in Saigon back in 1945 for $400." He does not realize the changes that the bicycle had undergone and insists that the bicycle today is one and the same with that of 12 years ago. He should realize that during the course of change undergone by the bicycle, the bicycle tomorrow is different from the bicycle from yesterday; and furthermore, the bicycle of the following moment is different from the bicycle of a moment ago…


Tệ hơn nữa là bạn tôi cho rằng chiếc xe chỉ "có" từ khi bạn tôi mua và "hết có" từ khi nó gảy khung. Bạn tôi không biết rằng chiếc xe đã "có" từ trước khi bạn tôi mua, và hơn nữa, "có" từ vô thỉ, trong các nhân và duyên của nó. Bạn tôi lại cũng không biết rằng cái xe vẫn "có" sau khi nó gảy khung, hư hoại nằm sau xó hè. Nó nằm đó, nằm mãi đó để biến chuyển, để tiếp tục dòng đăng lưu nhân quả của nó, tương quan và tương duyên với vạn vật khác. Con của bạn tôi sẽ tháo một cái chuông lắp vào xe nó, biết đâu. Cháu của bạn tôi sẽ tháo cái tăm để mài nhọn, làm chiếc dùi đóng sách, biết đâu. Và biết đâu đống sắt còn lại ấy sẽ "luân hồi" vào một dụng cụ khác bằng kim khí...

Even worse is that he recognizes that the bicycle only started to exist the moment he bought it and ceases to exist after its frame broke. He does not realize that the bicycle existed before he bought it and had always existed through its causes and conditions. He also does not realize that it continues to exist despite its broken frame and defects, back in the corner of his patio. The bicycle lies there and continues to change to perpetuate its chain of cause and effect, interacting with innumerable other objects. It’s possible that my friend’s child could remove the bell to place it on the child’s bicycle. His nephew or niece could remove the pin and sharpen it into something else. It’s possible that the remaining scrap metal may one day become some other metallic tool.


Bạn tôi chấp rằng chỉ có một cái xe đồng nhất bất biến, mà kỳ thực, chỉ có một hiện tượng "xe" luôn luôn chuyển biến. Đó là "vọng tưởng" thứ nhất.

Bạn tôi, vì cái ý thức vụ lợi, chỉ cắt xén một giai đoạn của thực tại để mà cho rằng "có", và cho tất cả những giai đoạn trước và sau đều là "không". Cái quan niệm về có và không sai lạc ấy là một "vọng tưởng" thứ hai.



My friend sees it only as an unchanging bicycle, but in reality, it is a constantly changing phenomenon, in which one of its states is a "bicycle." That is the first misconception.
My friend, because of his "self-centered" perspective, sees the bicycle as only existent during his time of use and nonexistent before and after that short interval of time. This misconception of being and non-being is the second misconception.


Hai thứ vọng tưởng kia phản chiếu một nhận thức sai lầm chung cho tất cả mọi người.


Everyone shares these two misconceptions.

Muôn vàn hiện tượng có biến chuyển, vì thế có sinh diệt thành hoại, nên ta cảm thấy cái có và cái không của vạn vật. Quan niệm về có và không của chúng ta hoàn toàn do sự sinh diệt của ngàn muôn hiện tượng mà có. Kỳ thực, muôn ngàn hiện tượng chỉ kế tiếp nhau mà phát hiện theo luật tương quan tương duyên, cái có và cái không của chúng chỉ là giả tưởng do trí óc "vọng tưởng" của ta tạo ra. Không có gì thêm vào, không có gì bớt đi. Vậy thì có và không chỉ là những giả tưởng của các hiện tượng sinh diệt. Trí óc ta nhận "có", là khi thấy được một hiện tượng do nhân duyên cấu hợp; trí óc ta nhận "không" khi ta thấy hiện tượng ấy theo nhân duyên mà tan rã.

Everything changes, and as a result, becomes changes, degrades, and expires. As a result, we believe everything as either existent or nonexistent. Our perception of being and nonbeing results from the innumerable arising and expirations of phenomena. In reality, these phenomena simply succeed each other and arise dependent on their interactions. The notion of being and non-being is simply an illusion of our deluded minds—nothing more, nothing less. Thus, being and nonbeing is simply an illusion arising out of the endless arising and expiration of phenomena. We see things as "existent" when conditions result in a phenomenon; we see things as "nonexistent" when those conditions have deteriorated.


Về các hiện tượng, ta phân biệt có thỉ, có chung, có nhân, có duyên, có lớn, có nhỏ. Nhưng những danh từ thỉ chung, nhân duyên, lớn nhỏ ấy không thể gán cho vũ trụ, cho thực tại, cho bản thể. Hiện tượng tuy còn mất sinh diệt, bản thể vẫn bất biến, trường tồn. Thực tại là một cái gì vượt ra khỏi sinh diệt, tồn vong, không có. Thế mà người ta nở nào xem thực tại như là những hiện tượng có sinh diệt, có thỉ chung, và bắt trí óc phải tìm ra "nguyên nhân đầu tiên" của nó.

We use various words to describe and identify phenomena and believe them to be constant and unchanging. In reality, nothing is constant and unchanging, and yet we see everything as arising and expiring, as having a beginning and ending, forcing our minds to find their cause.








tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   13




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương