Ấn bảN 2017 (version 2)



tải về 0.72 Mb.
trang1/13
Chuyển đổi dữ liệu16.11.2017
Kích0.72 Mb.
#1926
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13

PHẬT PHÁP

BẬC CHÁNH THIỆN

gia Çình phÆt tº linh-SÖn houston, TX

ban hܧng dÅn gia Çình phÆt tº miŠn tÎnh khi‰t



ẤN BẢN 2017 (version 2)Gia ñình PhÆt Tº Linh-SÖn

LỚP PHẬT PHÁP


Em Viết Tên Họ

Tên Họ: _________________________________________

Pháp Danh (nếu có): _________________________________

Đoàn: ___________________________________

Lớp Phật Pháp: ________

Ngày Vào Đoàn: ________MỤC LỤC


BỐN SỰ THẬT CAO THƯỢNG 5

TÁM CHÁNH ĐẠO 9

MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN 16

SÁU ĐỘ 21

THIỆN ÁC NGHIỆP BÁO 30

TÁM QUAN TRAI 35

LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VN 39

ĐẠO PHẬT TẠI HOA-KỲ 45

PHÉP QUÁN TƯỞNG NIỆM PHẬT 60

SƠ LƯỢC VỀ 10 VỊ ĐẠI ĐỆ TỬ CỦA PHẬT 70

NHỮNG VỊ CAO TĂNG NỔI TIẾNG CỦA PHẬT GIÁO VIỆT-NAM 75

TINH THẦN KHÔNG CHẤP THỦ & TÙY DUYÊN BẤT BIẾN 95

VẤN ĐỀ NGUYÊN NHÂN ĐẦU TIÊN 99

VẤN ĐỀ TÂM VẬT TRONG ĐẠO PHẬT 103





BỐN SỰ THẬT CAO THƯỢNG


THE FOUR NOBLE TRUTHS




I.CĂN NGUYÊN VÀ ĐỊNH NGHĨA:

Giáo lý của Đức Phật không đặt nền tảng trên sự sợ hãi của những điều gì không biết, mà được xây dựng trên căn bản của những sự kiện có thể khảo sát và chứng minh bằng kinh nghiệm. Phật giáo là thuần lý và thực nghiệm.


Đức Phật, sau khi thành đạo liền đến vườn Lộc-Giả ở Chư Thiên Đọa xứ để độ năm anh em ông Kiều Trần Như - những người bạn cũ của Ngài. Đầu tiên, năm ông này không chịu nghe; nhưng Ngài xuất hiện với tướng hảo trang nghiêm, lời dạy hiền hòa và có sức thu hút, họ trở lại và chú ý, sau cùng trở thành những đệ tử của Ngài và chứng quả A-La-Hán. Bài thuyết pháp này được gọi là Bốn Sự Thật Cao Thượng (Tứ Diệu Đế). Bốn Sự Thật Cao Thượng trình bày triết lý và đạo đức của Phật giáo. Đó là nền tảng của Phật giáo.


I. ORIGIN AND DEFINITION:

The Buddha Dharma is not based on the fear of the unknown, but on the base on of facts which can be tested and verified by experience. Buddhism is rational and intensely practical.


Buddha, after attained enlightenment, He went to Loc Gia park (dear-park) at Isipatana (Chư Thiên Đọa) to convert the Kondanna's brothers, His five former companions. At first, they did not listen to Him; but His appearance was spiritual beauty, His teaching was sweet and convincing, they soon turned and gave Him their closet attention and then became His disciples which earned them the Arahats state. His first lecture to them was called The Four Noble Truths. These four truths represent the philosophy and the ethics of Buddhism. They are the foundations of Buddhism.


II.HÀNH TƯỚNG CỦA BỐN ĐẾ:


  1. Khổ đế: Những khổ đau của cuộc sống liên tục tiếp diễn tạo nên vòng sanh tử luân hồi, từ đời này qua đời khác. Có tám hành tướng khác nhau của sự khổ:

  1. Sanh khổ: Nỗi khổ của con người khi được sanh ra và những nghịch cảnh trong cuộc sống.

  2. Lão khổ: Nỗi khổ đau do sự già nua suy tàn của thân xác và sự lu mờ của trí tuệ.

  3. Bệnh khổ: Nỗi khổ sinh ra do bệnh tật.

  4. Tử khổ: Nỗi khổ đau khi sắp lìa đời.

  5. Ái biệt ly khổ: Nỗi khổ đau khi phải xa lìa những gì mình yêu mến.

  6. Oán tắng hội khổ: Nỗi khổ đau khi phải gặp và chung sống với người mình oán ghét.

  7. Cầu bất đắc khổ: Nỗi khổ đau khi những điều mình mong cầu mà không được.

  8. Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ: Nỗi đau khổ do sự xung đột, mâu thuẩn, chi phối lẫn nhau của những yếu tố tạo nên con người.



II. THE FORMS OF 4 NOBLE TRUTHS:

  1. True of Suffering: The misery of evolutionary existence results in births and deaths, one life after another. There are eight different forms of suffering:

  1. Suffering from Birth: The suffering that one faces following births.

  2. Suffering of old age: The physical and mental suffering one faces when getting old.

  3. Suffering of Illness: Suffering that one gets ill or disease.

  4. Suffering of Death: Suffering that one gets when approaching death.

  5. Suffering from the Separation of objects one love: The suffering that one gets from the separation.

  6. Suffering from the Association with those who are repugnant: Suffering that one gets around unpleasant people.

  7. Suffering from Craving for what cannot be attained: The suffering that one gets when not receiving what one craves.

  8. Suffering from Five aggregates of attachment: each person suffer differently depending upon his personality, society and relations to nature.

  1. Tập đế: Tập đế là sự thật về nguyên nhân của những nỗi khổ đã tích trữ lâu đời trong mỗi chúng sanh. Phiền não tuy nhiều nhưng không ngoài 10 món căn bản sau:

  1. Tham: Lòng tham của mỗi chúng sanh.

  2. Sân: Giận dữ nóng nãy.

  3. Si: Si mê, mờ ám, hoặc nhận xét sai lầm.

  4. Mạn: Chỉ biết nâng cao địa vị mình và kìm hãm giá trị người khác.

  5. Nghi: Nghi kỵ, ngờ vực, không có lòng tin.

  6. Thân kiến: Chấp đắm sắc thân này là thiệt có, trường tồn.

  7. Tham sắc giới: Thích được sống mãi trên cõi đời. Nghĩ rằng cái ta thường còn.

  8. Tham Vô Sắc giới: Ước muốn được về cõi trời.

  9. Kiến thủ: Chấp vào sự hiểu biết của mình, không chịu tin theo chính lý.

  10. Giới cấm thủ: Tin tưởng và thực hành những giới điều sai lầm.




  1. The cause of suffering: This truth is the cause of suffering which has been obtained in the past life of the being. This cause based on the followings:

  1. Sensuality, bodily passions (Kama): Craving for sensual pleasures.

  2. Hatred, ill-feeling: Anger, hot temper

  3. Ignorance (Avijjã): Lack of knowledge, unawareness.

  4. Pride (Mãna): Overhigh opinions of oneself, undervalue the opinion of others.

  5. Doubt (Vicikicchã): Waver in opinion, feel distrust, be inclined to disbelief.

  6. Delusion of self (Sakkãya-ditthi): Belief in the personal is truth and forever.

  7. Love of life on earth (Ruparaga): Try to make the one's life last forever.

  8. Desire for life in heaven (Aruparaga): Desire for the purity world.

  9. Self-righteousness (Uddhacca): Never listen to the right opinion.

  10. Dependence on superstitious rites (silabbata-parãmãsa): Believes and practices the wrong precepts.




  1. Diệt Đế: Diệt đế là diệt dục vọng, mê mờ, phiền não. Diệt đế là tịnh quả Niết Bàn.

  1. Niết Bàn: Niết là rơi rụng, bàn là mọc lên lăn xăn. Đạt Niết Bàn là dứt sạch sanh nhân, không còn thọ thân chịu khổ. Niết bàn có ba đặc điểm sau:

  1. Bất sanh: Không sanh lại vì nhân sanh đã đoạn.

  2. Tịch diệt: Thanh tịnh vắng lặng vì tâm niệm không lay động.

  3. Giải thoát: Diệt tận phiền não, thoát khỏi rừng mê, thân tâm tự tại, không còn triền miên trong biển khổ.




  1. The Noble Truth of Annihilation of Suffering: It is to destroy completely the craving, ignorance, sorrow. It is the Nirvana.

  1. Nirvana: is formed of Nir and Vana. Nir is a negative particle and Vana means lusting or craving. Nirvana is a departure from the craving, and is the final beatitude that transcends suffering, karma and samara. Nirvana has three characters:

  1. Unborn: Not to be born because the life has been eliminated.

  2. Purity and calm.

  3. Enlightenment: Destroying the fetters, get out of ignorance, ending the suffering.




  1. Vị thứ tu chứng:

  1. Tu-Đà-Hoàn (Dự Lưu quả): Những vị này rõ chơn lý Bốn Đế nên đi ngược giòng đời và đã đi vào giòng Thánh. Những vị này đã đoạn diệt được 3 phiền não: Thân kiến, Nghi, và Giới Cấm Thủ. Nếu chưa đoạn diệt hết các phiền não, các vị này còn phải tái sanh 7 lần nữa.

  2. Tư-Đà-Hàm (Nhất sanh): Những vị đã đoạn diệt thêm hai phiền não nữa (Tham dục và Sân nhuế) và chỉ phải một lần sanh vào dục giới nữa mà thôi.

  1. A-Na-Hàm (Bất lai): Quả vị này dành cho những ai đã chế ngự được bản ngã mình và họ sẽ không còn sanh trở lại dục giới. Nhưng họ sẽ sanh vào cõi Tịnh Cư Thiên, một cõi trời Phạm Thiên thích hợp cho đến khi chứng đắc quả A-La-Hán.

  2. A- La- Hán (Bất sanh): Quả vị Thánh của bậc A-La-Hán, là vị không những chỉ thoát khỏi sự luân hồi mà còn đạt tới trí tuệ hoàn toàn, với tình thương bao la đối với những kẻ còn mê lầm và khổ đau, cũng như có lòng từ bi với tất cả chúng sanh.




  1. Stages of advancement:

  1. Tu-Đà-Hoàn (Sotãpatti) (Stream - Winner) - the beginning or entering into the tream of sainthood which occurs after one's clear perception of the "Four Nobles Truths". He had destroyed three fetters (self-illusion, doubts and wrongful rites). As he has not eradicated all fetters,he is reborn seven times at the most.

  2. Tu-Đà-Hàm (Sakardãgãmi) (Once returnee) - the path of one who has restricted of two or more fetters (Sense-desire and ill-will) that he needs only return once to this material world.

  3. A-Na-Hàm (Anãgami) (Never returnee) - the path of those who have so far conquered self that they need not return to this world. But he is reborn in the "Pure Abodes", a congenial Brahma world until he attains Arahatship.

  4. A-La-Hán (Arahat) - the path of the holy and worthy Arahat, who is not only free from the cyle of life and death, but has capacitated himself to enjoy the perfect wisdom, boundless compassion for the ignorant and misery, and measureless love for all being.




4. Đạo đế: Là con đường hướng dẫn, những pháp tu hành hướng đến quả vị Niết Bàn chư Phật. Con đường ấy là "Tám Chánh Đạo".

  1. Chánh tri kiến: Hiểu biết đúng sự thật.

  2. Chánh tư duy: Suy nghĩ đúng đắn.

  3. Chánh ngữ: Lời nói ôn hòa, ngay thẳng, hợp chơn lý.

  4. Chánh nghiệp: Hành động chân chánh, hoạt động hữu ích.

  5. Chánh mạng: Sinh hoạt chân chính.

  6. Chánh tinh tấn: Tinh tấn trên đường tu hành.

  7. Chánh niệm: Nhớ nghĩ những việc chân chánh đã qua, suy tưởng những việc chân chánh sẽ đến, đề phòng và đoạn trừ những hành động bất chánh, những ý tưởng phi pháp.

  8. Chánh định: Lặng đứng các vọng duyên tâm trí, để trí huệ minh mẫn được xuất hiện.

Tóm lại, Đạo đế là con đường hướng đến đạo quả do đức Phật thuyết minh. Con đường ấy chắc chắn đưa chúng ta thoát khỏi mê lầm đau khổ, chứng quả vị giác ngộ, an tịnh (Niết bàn).




4. The Path leading to the Annihilation: The Noble Truth of the Path leading to the Annihilation of Suffering is the Middle Way (The Eightfold Paths).

  1. Right view

  2. Right thought

  3. Right speech

  4. Right action

  5. Right means of livelihood

  6. Right effort

  7. Right mindfulness: Right remembrance and self-discipline

  8. Right meditation.

In brief, the Middle Way is the path leading to Nirvana. It helps us to get out of the ignorance, and attain the enlightenment.



III. PHẬT TỬ ĐỐI VỚI BỐN ĐẾ:

Dù chư Phật có ra đời hay không, bốn thánh đế này vẫn tồn tại trong vũ trụ. Đức Phật chỉ là người chứng ngộ những chân lý ẩn tàng trong vô minh của thời gian. Theo đức Phật, những hạnh phúc mà con người thụ hưởng trong dục tình chỉ là những hạnh phúc tạm bợ, giả dối và nhất thời; duy chỉ có không đam mê ái dục mới là hạnh phúc cao quý nhất. Diệt bằng cách thực hành Tám Chánh Đạo để đạt hạnh phúc cao hơn.


Phật giáo xem sự đau khổ là điều dĩ nhiên và tìm nguyên nhân để diệt trừ nó. Nơi nào có lòng tham thì nơi đó có đau khổ. Nó chỉ có thể đoạn siêu của Niết Bàn.
Là người Phật tử, chúng ta luôn thực hành theo lời dạy của Ngài.



III. BUDDHIST WITH THE FOUR NOBLE TRUTHS:
Whether the Buddha arise or not, these four Truths exist in the universe. Buddha only reveal these Truths that lay hidden in the dark of time. According to the Buddha, the happiness that men enjoys in the sensual pleasures are the momentary happiness, illusive and temporary; only non-attachment is a greater happiness.

Buddhism sees suffering as natural condition and seeks the cause to eradicate it. Suffering exists as long as there is craving. It can only be annihilated by practicing the Eight-Fold Noble Path and attaining the supreme bliss of Nirvana.


As a Buddhist, we need to follow His teaching.









tải về 0.72 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương