Máy móc tạo ra giá trị thặng dư



tải về 48.54 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu23.12.2018
Kích48.54 Kb.

Máy móc tạo ra giá trị thặng dư?

Nguyễn Mạnh Công

Bộ môn Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh


Ngay từ cuối thế kỷ XVII học thuyết kinh tế cổ điển đã xuất hiện ở Pháp dưới tên gọi là trường phái Trọng nông. Họ cho rằng lao động sản xuất nông nghiệp là hoạt động duy nhất được sự giúp đỡ của tự nhiên mà trực tiếp là đất đai nên có thể làm tăng thêm giá trị, là lao động sản xuất tạo ra giá trị mới nhiều hơn giá trị đã tiêu dùng. Còn lao động trong ngành khác chỉ khôi phục lại những giá trị mà nó đã sử dụng.

Sang đến D. Ricardo (1772 - 1823, nhà kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh) đã có những tiến bộ vượt bậc khi khẳng định rằng giá trị hàng hoá do lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá quyết định và phân tích được mối quan hệ giữa giá cả và giá trị hàng hoá, đưa kinh tế chính trị học cổ điển lên tới đỉnh cao lý luận. Tuy nhiên nhược điểm cơ bản của ông là xác định giá trị trên điều kiện sản xuất xấu nhất và cho rằng giá trị là một phạm trù vĩnh viễn, là thuộc tính của mọi vật và vẫn chưa đề cập đến giá trị thặng dư (GTTD).

C. Mác (1818 - 1883, tiến sĩ triết học người Đức) trên cơ sở phê phán những hạn chế trong lý luận của giai cấp vô sản đã kế thừa và phát triển quan điểm của các nhà kinh tế học đi trước để hình thành nên học thuyết của mình, đã giải thích một cách chính xác và khoa học về giá trị hàng hóa (GTHH) và nguồn gốc của GTTD.

Theo ông, GTHH (G) bao gồm: 1) Giá trị cũ (c) là giá trị của những tư liệu sản xuất đã tiêu dùng được chuyển sang sản phẩm mới. Nó bao gồm giá trị máy móc, trang thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… đã tiêu dùng để sản xuất ra hàng hoá đó. 2) Giá trị mới: (v + m). Trong đó, v là giá trị sức lao động của người công nhân làm thuê hay số tiền mà người công nhân nhận được sau quá trình lao động cho chủ doanh nghiệp; m là giá trị sản phẩm thặng dư (phần giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do người công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm đoạt) do v tạo ra.

Qua đó ta thấy rằng nguồn gốc của GTTD chính là lao động sống, chính lao động của con người đã tạo ra giá trị hàng hoá.

Hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng: điều đó chỉ đúng trong thời kỳ lao động thủ công chiếm ưu thế còn trong thời đại hiện nay - trong bối cảnh tự động hoá sản xuất mà đỉnh cao của nó là sử dụng người máy (rôbôt) khi thực hiện một số chức năng nào đó thì người máy có thể thay thế con người, thì máy móc là nguồn gốc chính để tạo ra GTTD. Như vậy, liệu rằng học thuyết GTTD của C. Mác có còn đúng nữa hay không?

Trong học thuyết GTTD, C. Mác khẳng định lao động sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt. Chính tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá đã tạo ra giá trị sử dụng (GTSD) và GTHH. Trong đó: Lao động cụ thể tạo ra GTSD của hàng hoá; Lao động trừu tượng tạo ra GTHH.

Do đó, quá trình sản xuất hàng hoá cũng sẽ bao gồm hai mặt là quá trình lao động và quá trình tạo ra, làm tăng giá trị. Với tư cách là yếu tố của quá trình lao động, máy móc gia nhập toàn bộ vào quá trình sản xuất, còn với tư cách là một yếu tố hình thành giá trị thì máy móc chỉ gia nhập từng phần giá trị vào sản phẩm.

Vẫn biết rằng, quá trình lao động dù là giản đơn hay phức tạp cũng là sự kết hợp của người lao động với tư liệu sản xuất. Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức sản xuất ngày càng được nâng lên, càng tạo ra nhiều của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nhưng khi nghiên cứu quá trình tạo ra và làm tăng giá trị hàng hoá thì máy móc tham gia vào đây không còn được xét là nhân tố vật thể nữa mà chỉ được coi là những lượng lao động đã vật hoá nhất định, giá trị của chúng được chuyển dần hoặc chuyển ngay vào trong một chu kỳ sản xuất sản phẩm. Dù máy móc có hiện đại đến đâu đi chăng nữa thì cũng không thể tự chuyển giá trị của mình vào sản phẩm. Một cái máy không dùng vào quá trình sản xuất là một cái máy vô ích, ngoài ra nó còn bị hư hỏng dần bởi sức mạnh huỷ hoại của tự nhiên. Chính lao động sống, lao động của con người đã “cải tử hoàn sinh”, đã làm cho máy móc sống lại, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới. Nhưng một tư liệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm mới một giá trị lớn hơn phần mà nó đã hao mòn đi trong quá trình sản xuất. Tức là, tư liệu sản xuất nói chung và máy móc nói riêng chỉ tạo điều kiện cho việc làm tăng giá trị của hàng hoá chứ bản thân không trực tiếp tham gia vào quá trình làm tăng giá trị.

Khi đi sâu vào nghiên cứu các phương pháp sản xuất GTTD thì ta thấy rằng những doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị hiện đại thì sẽ thu được GTTD siêu ngạch, từ đó sẽ có lợi nhuận siêu ngạch. Phải chăng từ đó mà quan điểm sai lầm trên lại được củng cố hơn?

Thực chất, khi sử dụng máy móc hiện đại sẽ làm tăng khả năng sản xuất của lao động. Trong một đơn vị thời gian sẽ tạo ra được nhiều hàng hoá hơn, với chất lượng tốt hơn, khi bán hàng hoá trên thị trường (có thể bán với giá thấp hơn so với giá cả thị trường) nhưng vẫn thu được lợi nhuận rất cao. Sở dĩ như vậy là do khi năng suất lao động tăng lên thì hao phí lao động để sản xuất ra một hàng hoá giảm xuống dẫn đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hoá giảm xuống. Chính vì thế C.Mác cho rằng: xã hội sẽ không thể tiến bộ nếu không luôn luôn cách mạng hoá công cụ sản xuất.

Chẳng hạn như có ba doanh nghiệp sản xuất A, B và C cùng sản xuất một sản phẩm với số liệu như sau:



Bảng 1: Giả định cung hàng hoá bằng cầu hàng hoá

Doanh nghiệp

Sản

lượng


Giá trị

cá biệt


Tổng giá trị cá biệt

Giá trị

xã hội


Tổng giá trị xã hội

Lợi nhuận

siêu gạch



(1)

(2)

(3)

(4) = (2) x (3)

(5)

(6) = (2) x (5)

(7) = (6) – (4)

A

70

2

140

2,4

168

+ 28

B

20

3

60

2,4

48

-12

C

10

4

40

2,4

24

-16




100




240




240







Trong ví dụ này, doanh nghiệp A đi đầu trong việc ứng công nghệ mới để tăng năng suất lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội nhờ đó thu được lợi nhuận siêu ngạch (+28). Còn doanh nghiệp B và C sản xuất ra hàng hoá có giá trị cá biệt cao hơn giá trị xã hội nên không thu lại đủ phần hao phí lao động đã bỏ ra. Như vậy, lợi nhuận siêu ngạch thu được do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp (diễn ra trên thị trường) chứ không phải trong sản xuất. Chính cơ chế thị trường đã phân hoá các doanh nghiệp theo quy luật: mạnh được yếu thua, doanh nghiệp nào có giá trị cá biệt thấp sẽ thu được lợi nhuận siêu ngạch. Khoản thưởng (+28) cho các doanh nghiệp có hao phí lao động cá biệt thấp chính bằng khoản phạt đối với các doanh nghiệp có hao phí lao động cá biệt cao (-12; -26), còn tổng giá trị hàng hoá vẫn không thay đổi. (Tổng giá trị cá biệt (240 = 140 + 60 + 40) = Tổng giá trị xã hội (240 = 168 + 48 + 24)).

Do đó, nếu không đi sâu vào nghiên cứu bản chất của nó, ta sẽ không phân biệt được phân phối GTTD và sản xuất GTTD. Từ đó làm cho ta lầm tưởng rằng máy móc là nguồn gốc sinh ra GTTD mà không thấy được rằng máy móc chỉ là điều kiện để thu được lợi nhuận siêu ngạch thông qua cạnh tranh. Vì thế các doanh nghiệp yếu kém phải phấn đấu vươn lên, ứng dụng công nghệ mới để tồn tại. Nếu như đến một khi tất cả các doanh nghiệp đều ứng dụng khoa học kỹ thuật và hạ giá trị lao động cá biệt xuống như nhau tức là doanh nghiệp B và C có hao phí lao động cá biệt như doanh nghiệp A. Vậy khi đó có còn lợi nhuận siêu ngạch nữa không?




Bảng 2: Giả định cung hàng hoá bằng cầu hàng hoá

Doanh nghiệp

Sản

lượng


Giá trị

cá biệt


Tổng giá trị

cá biệt


Giá trị

xã hội


Tổng giá

trị xã hội



Lợi nhuận

siêu ngạch



(1)

(2)

(3)

(4) = (2) x (3)

(5)

(6) = (2) x (5)

(7) = (6) – (4)

A

70

2

140

2

140

0

B

20

2

40

2

40

0

C

10

2

20

2

20

0




100




200




200







Câu trả lời là không. Vì khi đó, giá trị xã hội sẽ hạ xuống, hàng hoá bán ra với giá mức giá rẻ hơn, người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi và sẽ không có doanh nghiệp nào thu được lợi nhuận siêu ngạch.

Nhưng động cơ lợi nhuận siêu ngạch không ngừng thôi thúc các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới, hiện đại vào những quá trình sản xuất mới. Vì thế nếu xét trong từng trường hợp thì GTTD siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, xuất hiện và mất đi nhưng nếu xét trong toàn xã hội thì nó luôn luôn tồn tại, là khát vọng, là động lực trực tiếp thúc đẩy các doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Cho nên lợi nhuận siêu ngạch sẽ luôn luôn tồn tại.



Tuy nhiên, không phải bao giờ sử dụng máy móc hiện đại cũng thu được nhiều lợi nhuận hơn so với lao động thủ công. C.Mác đã chỉ ra rằng: các nhà tư bản không trả công cho lao động đã sử dụng mà chỉ trả công cho giá trị sức lao động đã sử dụng. Cho nên việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị của máy móc và giá trị của sức lao động đã thay thế. Do vậy, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc hiện đại vào sản xuất bởi vì: lợi nhuận không phải bắt nguồn từ giảm bớt lao động được sử dụng mà là từ giảm bớt lao động được trả công.




Поделитесь с Вашими друзьями:


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương