Một số NỘi dung kỹ thuật trong thụ tinh nhân tạo heo viện Chăn Nuôi Quốc Gia pgs. Ts. Nguyễn Thiện pgs. Ts. Nguyễn Tấn Anh



tải về 36.69 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích36.69 Kb.
#4295

MỘT SỐ NỘI DUNG KỸ THUẬT

TRONG THỤ TINH NHÂN TẠO HEO
Viện Chăn Nuôi Quốc Gia

PGS.TS. Nguyễn Thiện PGS.TS. Nguyễn Tấn Anh
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (TTNT) được bắt nguồn từ một việc làm tình cờ hồi thế kỷ 15: Một người chăn nuôi ngựa đã dùng nắm tóc rồi hứng tinh dịch ngựa đực, sau đó nhét vào âm đạo một ngựa cái trong kỳ động đực. Ngựa cái này đã thụ thai mà không cần đến việc cho giao phối trực tiếp . Về sau L.Spanlanzani (Ý) đã đã thành công trong TTNT cho chó, cá và gia súc khác. Nhưng từ sau khi Lơvenhuc (Hà Lan) phát minh ra kính hiển vi, những vật nhỏ như tinh trùng, tế bào trứng được quan sát, kỹ thuật TTNT càng được hỗ trợ mạnh mẽ.

Trong những thế kỷ tiếp theo, kỹ thuật TTNT bị nhà thờ cấm đoán vì cho rằng làm như vậy là vượt ra ngoài quy định của Chúa.

Phải đợi đến nhà bác học Nga, I.I.Ivanốp, bằng những công trình nghiên cứu của mình, đã đề ra những lý luận và những biện pháp kỹ thuật cũng như đã sáng tạo ra những dụng cụ lấy tinh, dẫn tinh mà cho đến nay các nước trên thế giới vẫn còn ứng dụng.

Ở Việt nam. kỹ thuật TTNT được ứng dụng vào miền bắc từ 1958, đầu tiên cho heo, sau đó cho bò (1960), cho trâu (1961), cho ngựa (1964), cho gà (1986), cho ngỗng (1989). Được sự giúp đỡ của Cuba, nước ta đã có một cơ sở chuyên SX tinh dịch trâu, bò ướp lạnh dưới dạng viên.

Ở Miền nam, TTNT heo được du nhập vào dưới hình thức trình diễn tại một số nơi như Trường Thủ Đức và một số Ty nông nghiệp (Đà nẵng v.v…) nhưng chưa được phổ biến rộng rãi.

Cuối những năm 80, toàn quốc có trên 100 trạm TTNT gia súc, (chủ yếu là TTNT heo) do nhiều cấp quản lý (các Trường, các Viện NC, các nông trường quốc doanh, Tỉnh, Huyện, Xã) với quy mô heo đực giống khác nhau (từ vài ba con đến 40-60 con). Những năm gần đây, do nền kinh tế thị trường phát triển, số lượng các trạm TTNT cũng có nhiều biến động, và cũng có nhiều cán bộ chăn nuôi thú y tự lập các cơ sở TTNT do gia đình quản lý.

Việc ứng dụng TTNT mang lại ý nghĩa khoa học và những lợi ích kinh tế lớn lao. Nếu cho giao phối trực tiếp, mỗi lần, một đực giống chỉ nhảy được một gia súc cái. Nếu dùng TTNT, mỗi lần lấy tinh, một heo đực có thể phục vụ cho 20-40 heo cái, một bò đực có thể phục vụ cho hàng trăm bò cái. Như vậy có điều kiện dễ dàng đễ chọn những đực giống cao sản phục vụ cho việc cải tạo đàn gia súc đồng thời giảm được chi phí dùng nuôi những con đực giống không cần thiết. Dùng TTNT cũng tránh được sự lây lan bệnh do tiếp súc trực tiếp giữa đực và cái.

Phần 1

VÀI NÉT VỀ SINH LÝ SINH DỤC HEO ĐỰC
Cơ quan sinh dục heo đực sản sinh ra những tế bào sinh dục đực (tinh trùng) và các chất phân tiết. Chức năng của các cơ quan sinh dục phù hợp với cấu trúc giải phẫu của chúng.

Hệ thống sinh dục heo đực bao gồm các bộ phận chủ yếu: bao dịch hoàn, dịch hoàn (tinh hoàn), dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh, thừng dịch hoàn, đường niệu sinh dục, dương vật, bao dương vật và các tuyến sinh dục phụ.



    1. Bao dịch hoàn

Ở hầu hết các gia súc, quá trình sinh tinh trùng cần ôn độ thấp hơn ôn độ cơ thể. Vì vậy vào cuối thời kỳ bào thai, các dịch hoàn tiến vào một vị trí nhô ra đặc biệt của thành bụng (sau này thành bao dịch hoàn) và tồn tại suốt cuộc đời của nó. Ở một vài loài (hươu, nai, thỏ v.v…) chỉ đến mùa giao phối thì dịch hoàn mới tiến vào bao dịch hoàn.

Bao dịch hoàn gồm có nhiều lớp. Một trong các chức năng quan trọng của nó là điều hòa ôn độ cho dịch hoàn.



    1. Dịch hoàn

Dịch hoàn thực chất là những tuyến hình ống có chức năng sản sinh ra tinh trùng và các hormon sinh dục. Dịch hoàn là hai vật thể hình bầu dục. Khối lượng lớn hay nhỏ tùy theo giống, tuổi. Trong dịch hoàn có những ngăn gồm hệ thống ống tinh cong và nhỏ và những tế bào sinh tinh trùng. Tinh trùng được sản sinh ra từ những ống sinh tinh cong nhỏ, nó chứa đựng những yếu tố di truyền của con đực.

Sau khi được sản sinh ra, tinh trùng được chuyển tới dịch hoàn phụ và tiếp tục hoàn thiện ở đó. Khi giao phối, do các phản xạ hoạt động, các cơ nâng tinh hoàn co rút, tinh trùng được đẩy ra ngoài cùng với các chất bài tiết của các tuyến sinh dục phụ. Sau khi tiếp xúc với chất bài tiết của các tuyến sinh dục phụ, tinh trùng trở nên hoạt động, đây là điều kiện cần thiết để tinh trùng có thể di chuyển trong đường sinh dục của con cái, tiến hành quá trình thụ thai.

Những công trình nghiên cứu về cấu trúc, sinh lý, hóa sinh của tinh trùng cho thấy tinh trùng có hai nửa phần rõ rệt: đầu và cổ-thân-đuôi. Quá trình sống được dồn lại trong nhân của đầu tinh trùng, đợi cho đến khi thụ tinh mới được thể hiện. Hai phần ba của đầu (về phía trước đầu) có acrosom bao bọc. Trong acrosom có chứa loại enzym có tác dụng làm tan rã vành tia của tế bào trứng để tinh trùng nhanh chóng tiếp cận với noãn hoàng, điều này cần thiết cho quá trình thụ tinh. Nhưng protid của acrosom dễ bị chương phồng, vì vậy khi bảo tồn tinh dịch, acroxom dễ bị bong ra khỏi tinh trùng, làm mất khả năng thụ thai.

Cổ, thân và đuôi của tinh trùng là nguồn gốc của quá trình sản sinh ra năng lượng, tạo sức hoạt động của tinh trùng trong đường sinh dục con cái. Ở đầu tinh trùng càng nghèo sức sống bao nhiêu thì ở cổ, thân và đuôi càng giầu sức sống bấy nhiêu. Sau khi thụ tinh, các vai trò này được thay đổi.

Tinh thanh là hỗn hợp những chất lỏng được bài tiết ra từ các tuyến sinh dục phụ. Ở gia súc khác loài, các tuyến sinh dục phụ phát triển không giống nhau. Ở heo và ngựa đực, các tuyến niệu đạo và caopơ bài tiết chất phân tiết với số lượng nhiều, trong khi đó ở bò và cừu đực, chất phân tiết của tinh hoàn phụ và tinh nang phong phú hơn. Vì vậy tinh dịch heo và ngựa nghèo tinh trùng và fructoza, trong khi đó tinh dịch cừu và bò có nồng độ của chúng cao hơn. Ở heo, phần lớn tinh thanh (từ 55-70%) gồm các chất phân tiết của các tuyến tiền liệt và niệu đạo, 20-26% do tinh nang, 15-18% do tuyến caopơ và chỉ có 2-3% là của tinh hoàn phụ, còn tinh trùng trong tinh dịch chiếm khoảng 2-7%.

Theo I.I.Ivanop (1900), tinh thanh chỉ là môi trường giúp cho tinh trùng hoạt động, nó không cần thiết cho quá trình thụ thai và “có thể dùng tinh trùng đã được pha loãng trong các dung dịch nhân tạo để dẫn tinh cho súc vật cái mà vẫn sinh ra đời con một cách bình thường”.

Milovanop V.K.(1962) cho rằng các chất bài tiết từ các tuyến sinh dục phụ (tinh thanh) kích thích tinh trùng hoạt động do đó làm tiêu hao quá sớm năng lượng dự trữ của chúng, làm chương phồng màng bọc tinh trùng, đồng thời làm mất điện tích trên bề mặt của nó, gây ra hiện tượng tụ dính nhau. Cuối cùng đưa lại hậu quả là tinh trùng chóng chết sau khi ra khỏi cơ thể. Để đạt được hiệu quả khi pha loãng, bảo tồn tinh dịch và nâng cao sức sống tinh trùng, ngoài việc sử dụng môi trường pha loãng và ôn độ bảo tồn thích hợp, khi lấy tinh heo, người ta thường loại bỏ bớt tinh thanh bằng cách hứng tinh dịch ở pha xuất tinh đậm đặc để sử dụng.

Phần 2

LẤY TINH HEO ĐỰC

Để lấy tinh heo đực, thường dùng giá nhảy (bằng gỗ, xi măng, sắt). Sau một thời gian huấn luyện, heo đực sẽ quen với phản xạ nhảy lên giá và xuất tinh.

Để cho heo đực xuất tinh, trước đây thường dùng âm đạo giả. Từ 1976 đến nay, giáo sư Nguyễn Thiện (Viện trưởng Viện Chăn Nuôi) đã phổ biến kỹ thuật dùng tay để kích thích trực tiếp heo đực xuất tinh, phương pháp này có nhiều tiện lợi.

Trước khi lấy tinh, phải tắm chải heo đực sạch sẽ, đợi khô lông mới đưa vào phòng lấy tinh.

Sau khi lấy tinh xong phải rửa sạch giá nhảy và phòng lấy tinh.

Phần 3

ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG TINH DỊCH


    1. Lượng tinh xuất (V)

Dùng giấy lọc để loại bỏ chất keo nhầy, lọc tinh dịch vào bình có chia ml sau đó đọc và ghi chép V, V nhiều hay ít phụ thuộc vào giống, tuổi, sức khỏe heo, chế độ sử dụng, kỹ thuật lấy tinh …

    1. Màu sắc, mùi tinh dịch

Tinh dịch bình thường có màu trắng sữa. Tinh dịch loãng thì màu trong. Không sử dụng tinh dịch có màu đỏ (lẫn máu), vàng (lẫn nước tiểu) hoặc xanh (lẫn dịch viêm).

Tinh dịch bình thường có mùi hơi tanh, hắc. Không sử dụng tinh dịch có mùi khai, thối, khắm.



    1. Sức hoạt động của tinh trùng (A)

Khả năng thụ thai của tinh trùng phụ thuộc nhiều vào sức hoạt động của tinh trùng.

Thang điểm đánh giá A dựa vào sức hoạt động tiến thẳng của tinh trùng để cho điểm theo 10 cấp:

1,0: Nếu có 95-100% tinh trùng tiến thẳng

0,9: Nếu có 85-95% tinh trùng tiến thẳng

...

0,1: Nếu có 5-10% tinh trùng tiến thẳng



Để đánh giá A được chính xác, dùng phiến kính phẳng có đậy lá kính lên trên một giọt tinh dịch và sưởi ấm ở 38 - 40oC.

Ngày nay người ta dùng kính hiển vi có màn hình để đánh giá A một cách chính xác hơn.



    1. Nồng độ tinh trùng (C)

      1. Dùng buồng đếm

Là phương pháp kiểm tra C chính xác và có thể sử dụng dễ dàng ở nước ta hiện nay. Với tinh dịch heo, thường dùng ống pha loãng bạch cầu, hút tinh dịch đến vạch 0,5, hút tiếp dung dịch pha loãng đến vạch 11. nhỏ hỗn hợp trên vào buồng đếm và đậy lá kính.

Đếm trinh trùng trong 80 ô con. Mỗi tinh trùng đếm được đại diện cho một triệu tinh trùng/1ml tinh nguyên (với độ sâu của buồng đếm là 1/10mm).



      1. Dùng ống Karras

Đây là phương pháp nhanh, tiện lợi cho các cơ sở sản xuất. Nhưng mức độ bị hạn chế vì thị lực của mỗi người có khác nhau.

Cho 9ml dung dịch NaCl 0,9% và 1ml tinh dịch vào ống karras. Bịt ống và lắc đều. Đặt mảnh giấy trắng phía sau ống và đọc kết quả. Do độ đục của cột dung dịch trong ống khác nhau lên các vạch và các chữ số sẽ mờ tỏ khác nhau. Cần xác định vạch nào của bảng số nằm tại vùng giáp ranh giữa phần đọc rõ và phần lờ mờ. Sau đó tra vào bảng tính sẵn để suy ra nồng độ tinh trùng trong 1ml dung dịch.

Để tránh những sai số, cần kiểm tra đối trứng giữa kết quả đọc được ở ống karras với kết quả trên buồng đếm, mỗi tháng kiểm tra một lần trên cùng một mẫu tinh dịch.


      1. Dùng dãy ống so màu

Làm nhiều ống dung dịch có màu trắng với độ đục khác nhau, mỗi ống tương ứng với một nồng độ tinh trùng đã biết trước (qua buồng đếm hồng bạch cầu). So sánh mẫu tinh dịch heo với dãy ống so màu để suy ra C.

Phương pháp này nhanh, nhưng độ chính xác không cao (nguyên nhân tương tự như khi dùng ống karras).



      1. Dùng máy tự động để xác định C

Nhờ kỹ thuật bán dẫn và vi tính, chỉ cần đưa vào máy 0,1 ml tinh dịch, máy sẽ cho ra kết quả:

  • Nồng độ tinh trùng

  • Mức độ pha loãng cần thiết

  • Số liều tinh dịch có thể sản xuất được

    1. Tổng số tinh trùng tiến thẳng trong tinh dịch (VAC)

Đây là một trong các chỉ tiêu quan trọng (là tích của VxAxC), có liên quan chặt chẽ với sức sống tinh trùng và số liều tinh dịch có thể sản xuất được.

    1. Sức kháng thẩm thấu cuả tinh trùng (R0 )

Sức kháng thẩm thấu có liên quan đến chất lượng và sức sống của tinh trùng. Dùng dung dịch NaCl 0,8% pha loãng với tinh dịch (1:4), kiểm tra sức sống tinh trùng sau 3 giờ bảo tồn ở ôn độ trong phòng, sẽ có tổng hoạt lực tinh trùng (tổng A). Tra bảng tính sẵn, sẽ có Ro, từ đó phân loại chất lượng tinh dịch.

BẢNG TÍNH SẴN RO



A

RO

A

RO

A

RO

A

RO

0,1

0,434

1,1

1,598

2,1

2,763

3,1

3,927

0,2

0,550

1,2

1,715

2,2

2,879

3,2

4,044

0,3

0,667

1,3

1,831

2,3

2,996

3,3

4,160

0,4

0,783

1,4

1,948

2,4

3,112

3,4

4,277

0,5

0,899

1,5

2,064

2,5

3,228

3,5

4,393

0,6

1,016

1,6

2,180

2,6

3,345

3,6

4,509

0,7

1,132

1,7

2,297

2,7

3,461

3,7

4,626

0,8

1,249

1,8

2,413

2,8

3,578

3,8

4,742

0,9

1,369

1,9

2,530

2,9

3,694

3,9

4,859

1,0

1,482

2,0

2,646

3,0

3,811

4,0

4,975

Phân loại chất lượng tinh dịch heo theo RO



RO

Phân loại

0,50 – 1,00

Kém

1,01 – 1,50

Yếu

1,51 – 2,00

Trung bình

2,01 – 2,50

Khá

2,51 trở lên

Tốt




    1. Sức kháng của tinh trùng (R)

Lý thuyết về R của tinh trùng được xây dựng trên cơ sở tác dụng của dung dịch NaCl đẳng trương đối với màng Lipoprotein của tinh trùng. Trong thực tế người ta dùng dung dịch NaCl 1%.

Vậy R của tinh trùng là chỉ số ổn định của tinh dịch, tức là toàn bộ quần thể tinh trùng đề kháng lại dung dịch NaCl 1% và được thể hiện bằng lượng dung dịch NaCl 1% cần thiết đã pha loãng một đơn vị thể tích (ml) tinh dịch đến lúc tinh trùng ngừng tiến thẳng.

Phổ biến hiện nay là dùng phương pháp của Milôvanốp (1952). Cách tiến hành như sau:

Dùng 3 lọ sạch có dung tích mỗi lọ 10ml, đánh số thứ tự I, II, III.

Rót dung dịch NaCl 1% (đã được hấp tiệt trùng từ trước) vào lọ I: 5ml, lọ II: 1ml, lọ III: 0,5ml.

Dùng ống hút vi lượng hút 0,01ml tinh dịch nguyên nhỏ vào lọ I. Lắc nhẹ trộn đều, như vậy trong lọ I, tinh dịch được pha loãng 500 lần (5:0,01).

Hút 1ml từ hỗn hợp trong lọ I nhỏ vào lọ II. Lắc nhẹ trộn đều, tinh dịch được pha loãng 1.000 lần (500x2).

Dùng ống hút khác hút 0,5ml từ hỗn hợp trong lọ II nhỏ vào lọ III: tinh dịch được pha loãng 2.000 lần (1.000x2).

Dùng đũa thủy tinh khô, sạch lấy 1 giọt hỗn hợp trong lọ III đặt lên phiến kính để kiểm tra sức hoạt động của tinh trùng (A). Nếu thấy có tinh trùng tiến thẳng thì thêm 0,1ml dung dịch NaCl 1% vào lọ III, mức pha loãng sẽ là 2.200 lần (1,1m x 2.000). Sau đó lại kiểm tra A. Nếu có tinh trùng tiến thẳng lại thêm 0,1ml dung dịch NaCl 1%, bây giờ R = 2.400 (1,2m x 2.000).

Công việc được tiến hành cho đến khi không thấy có tinh trùng tiến thẳng.

Sức kháng (R) được tính theo công thức:

R = ro + r.n

Trong đó:

ro : mức pha loãng của tinh dịch ở thời điểm khi bắt đầu kiểm tra A tinh trùng (như cách trên ro = 2.000)

r: mức pha loãng của mỗi lần thêm dung dịch NaCl 1% về sau (ở trên r = 200)

n : số lần thêm dung dịch NaCl 1% về sau

Với tinh dịch heo ngoại cần có: R  3.000


    1. Tinh trùng kỳ hình (K)

Đánh giá TT kỳ hình thường dùng phương pháp nhuộm mầu TT bằng thuốc nhuộm: xanh Metylen, Giem xa, đỏ Methyl, eosin ...

Phết kính nhẹ nhàng một giọt tinh dịch lên phiến kính. Để khô tự nhiên. Có thể cố định bằng đèn cồn. Nhuộm tiêu bản bằng một loại thuốc nhuộm. Đợi thuốc nhuộm ngấm (5 – 7 phút). Sau đó dùng nước rửa tiêu bản. Đợi tiêu bản khô, đặt lên kính hiển vi độ phóng đại 400 lần để kiểm tra, đếm tổng số 300-500 tinh trùng, trong đó phân loại kỳ hình ở đầu, cổ, thân, đuôi.



    1. Độ pH của tinh dịch

Tinh dịch heo đực có pH hơi kiềm yếu (7,2-7,5). Nếu tinh dịch có pH ngoài phạm vi này là không bình thường.

Dùng giấy chỉ thị màu là cách xác định pH nhanh nhất, nhưng phụ thuộc vào chất lượng giấy và thị lực của người kiểm tra.

Chính xác hơn cả là dùng máy đo pH có độ chính xác cao.


    1. Tỷ lệ sống, chết của tinh trùng

Tỷ lệ sống của tinh trùng có liên quan đến hoạt động sống của tinh trùng.

Nội dung này dựa trên nguyên tắc: khả năng cho thuốc nhuộm thấm qua màng TT hay không.

Có thể đánh giá tỉ lệ sống/chết của TT bằng cách nhuộm TT (đang còn sống) trong hỗn hợp eosin - nigrosin. Khi nhuộm, nếu TT còn sống thì đầu TT không bắt mầu, còn TT chết thì đầu TT bắt mầu hồng.

Dùng một giọt tinh dịch nhỏ lên phiến kính. Nhỏ 1 – 2 giọt hỗn hợp eosin - nigrosin ở bên cạnh. Trộn đều rồi phết tiêu bản. Đặt lên kính hiển vi phóng đại 400 -600 lần và đếm tổng số 300 - 500 tinh trùng, trong đó phân biệt tỷ lệ tinh trùng sống, chết.

Thông thường tỉ lệ TT sống đạt 80% là tinh dịch tốt, sử dụng đạt hiệu quả cao.

Thành phần dung dịch eosin – nigrosin: Sodium citrate: 4,8g; Eosin: 0,8g; Nigrosin: 0,5g; Nước cất: 100ml. Dung dịch bảo quản nơi mát sử dụng trong 8 – 10 ngày.



Phần 4

MỘT SỐ ĐIỂM VỀ SINH LÝ SINH DỤC CÁI


    1. Cơ quan sinh dục heo cái

Những cơ quan sinh dục (sd) của heo cái chia ra làm 2 phần: Phần nằm bên trong và có những bộ phận nằm bên ngoài. Các cơ quan sd bên ngoài gồm âm hộ, âm vật. Còn bên trong gồm âm đạo với tiền đình, tử cung (tc). Tc gồm có cổ, thân và sừng. Tiếp theo có ống dẫn trứng và buồng trứng. Trừ buồng trứng, các cơ quan sd đều thông với nhau và có hình ống.

Âm hộ là lỗ sd cái, có 2 mép âm hộ. Khi động đực, âm hộ sưng, đỏ hồng. Am đạo dài 10-20 Cm. Cổ tc có hệ thống cơ khá phát triển. Thân TC dài 5-10 Cm. Hệ thống cơ của nó kém phát triển so với cổ tc. Từ thân tc tách ra 2 sừng tc. Ơ heo cái trưởng thành (đã sinh sản), sừng tử cung có thể dài đến 1m. Cả 2 sừng có có khối lượng có thể đạt 600-800g. Ống dẫn trứng dài 20-35 cm, đường kính 2-3 mm, tận cùng có cấu tạo hình phễu có đường kính đến 9 cm. Khi trứng rụng, nó đi qua loa vòi. Trong ống dẫn trứng, nhờ nhu động định hướng của lông nhung, đã đẩy tế bào trứng đi về phía sừng tử cung, trong khi đó, tinh trùng có đặc điểm di chuyển ngược dòng với nhu động trên, đã tiến vào gặp tế bào trứng để tiến hành quá trình thụ tinh.

Buồng trứng có 2 chức năng: hình thành tế bào trứng và sản sinh ra hormon sinh sản. Buồng trứng dài 2-7 cm, rộng 1,5-4 cm, khối lượng 2-15g. Trong buồng trứng có 2 vùng: vùng phía ngoài (vùng nang trứng hoặc vùng vỏ) và vùng phía trong (vùng tủy). Trong vùng vỏ có vô số nang trứng phát triển ở các thời kỳ khác nhau (và cũng có những nang bị thui chột). Trong vùng tủy có nhiều sợi thần kinh, mạch máu, hệ thống lâm ba.


    1. Sự phát triển của nang trứng

Những nang trứng nhỏ nhất (nguyên thủy) nằm ở bề mặt của lớp vỏ. Ở heo cái sơ sinh, số lượng nang trứng rất nhiều. Từ những nang trứng mầm, chúng dần dần phát triển qua các giai đoạn khác nhau, trở thành nang trứng chín. Trong quá trình sinh tinh, khi tạo thành tinh bào thứ cấp, đã xuất hiện 2 nhân. Nhưng ở quá trình tạo trứng, vì chỉ có một tế bào nên một nhân nằm lại giữa tế bào, còn một nhân bị đẩy ra cực của tế bào. Một nhân trứng được bao bọc bởi sinh chất thì tạo nên noãn bào thứ cấp hoàn chỉnh, còn nhân kia biến thành thể cực. Do đó trong quá trình tạo trứng, từ một noãn bào sơ cấp chỉ tạo nên 1 tế bào trứng mà thôi.

    1. Hormon của buồng trứng

Buồng trứng sản sinh ra 2 hormon tính cái. Một hormon được tạo thành trong tế bào trứng của nang trứng, còn hormon kia được tạo thành từ tế bào của thể vàng.

Hormon trong nang trứng thúc đẩy sự phát triển những đặc điểm tính dục thứ hai của heo cái, làm biến đổi trạng thái cơ quan sinh dục và biểu hiện vẻ ngoài của heo khi động dục.

Hormon trong tế bào thể vàng làm biến đổi các trạng thái và phù hợp cho quá trình mang thai.


    1. Nét chính về sinh lý tính dục heo cái

Heo thuộc loại có hoạt tính dục quanh năm. Mỗi chu kỳ thường khoảng 3 tuần. Có thể tạm chia chu kỳ tính dục của heo cái thành 3 giai đoạn: hưng phấn, ức chế và cân bằng.

Trong giai đoạn hưng phấn thường biểu hiện bằng hiện tượng động đực, các phản ứng chung, chịu đực và rụng trứng.

Động đực xảy ra khi mà trong buồng trứng có nang trứng chín hoàn toàn, để sau đó tiến đến sự rụng trứng. Biểu hiện bên ngoài của động đực là âm hộ sưng, đỏ hồng, có nước nhờn từ âm đạo tiết ra.

Phản ứng chung biểu hiện bằng trạng thái không yên tĩnh của heo cái, thích gần heo đực nhưng không cho heo đực nhảy. Nhiều heo có biểu hiện động đực và phản ứng chung cùng một lúc. Trong giai đoạn động đực, đường kính của sừng tử cung tăng lên và mức độ co bóp của sừng, thân và cổ tử cung cũng được gia tăng.

Chịu đực là thời kỳ hưng phấn cao độ nhất ở heo cái, xảy ra quãng 20-40 giờ tính từ khi bắt đầu động đực. Bấy giờ heo cái đứng yên cho heo đực nhảy. Nếu lấy một vật nặng đè lên lưng heo, hoặc cưỡi lên lưng nó, heo sẽ đứng yên và có những biểu hiện tiếp thu sự giao phối (giai đoạn này còn được gọi là mê ì).

Rụng trứng là thời điểm quan trọng nhất của chức năng sinh sản của heo cái. Quá trình này xảy ra sau khi có biểu hiện mê ì rõ rệt của heo cái. Nếu tính từ lúc bắt đầu chịu đực, heo cái tơ rụng trứng sau 25-30 giờ và heo nái sinh sản sau 20-24 giờ.





tải về 36.69 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương