Một số biện pháp sử DỤng tư liệu dạy họC


Một số phương pháp cơ bản sử dụng tư liệu dạy học trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học Trung học phổ thông



tải về 0.51 Mb.
trang2/3
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2017
Kích0.51 Mb.
#2736
1   2   3

3. Một số phương pháp cơ bản sử dụng tư liệu dạy học trong giờ đọc- hiểu văn bản văn học Trung học phổ thông :

Có nhiều phương pháp sử dụng tư liệu dạy học trong giờ đọc – hiểu văn bản văn học. Song ở đề tài này, chúng tôi chỉ trình bày 3 phương pháp cơ bản nhất đó là:



3.1. Phương pháp khai thác thông tin:

3.1.1. Sử dụng tư liệu chân dung các nhà văn:

- Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học do Giáo sư Hoàng Phê làm chủ biên, "chân dung" được định nghĩa như sau : là tác phẩm (hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh) thể hiện đúng diện mạo, thần sắc, hình dáng một người nào đó". Mà một bức ảnh thể hiện đúng diện mạo, thần sắc và hình dáng của một người tức nó đồng nghĩa với việc bức ảnh đó phải cho người xem biết rõ người trong ảnh là ai, ở đâu, làm gì, và như thế nào... Ảnh chân dung có thể là kiểu ảnh chụp bán thân, ảnh chụp cả người, có chân dung vẽ một người, có bức chân dung đôi, có bức chân dung tập thể.

- Có thể thấy rõ, hầu hết các tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn lớp 10, 11, 12 đều có ảnh chân dung tác giả. Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu các bài đọc văn người giáo viên có thể sử dụng ảnh chân dung các nhà văn để làm tư liệu dạy học. Hiện nay, điều kiện để sưu tầm ảnh chân dung các nhà văn rất thuận lợi. Ta chỉ cần lên mạng tìm, tải về, kiểm định và tải về máy tính là đã có một bộ ảnh để sử dụng trong các tiết đọc văn.

- Ảnh chân dung các nhà văn có thể sử dụng lúc hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài hoặc lúc giới thiệu bài mới: Trước khi hướng dẫn cụ thể việc chuẩn bị bài mới cho học sinh, giáo viên cho học sinh xem ảnh chân dung tác giả và một số câu hỏi gợi ý. Ảnh chân dung sẽ tác động trực tiếp đến thị giác của học sinh, cùng với sự cộng hưởng của các giác quan khác, học sinh sẽ có những xúc cảm ban đầu về tác giả, tác phẩm và hình dung được lối đi đến bài học. Từ đó học sinh sẽ phải tự mình tìm tài liệu liên quan đến bài học dựa trên câu hỏi gợi ý. Như vậy, là chúng ta đã tạo được cảm xúc ban đầu để học sinh chủ động tiếp cận tri thức.

- Mặt khác, người giáo viên cũng có thể sử dụng ảnh chân dung khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu về tiểu sử và sự nghiệp sáng tác của nhà văn: Ở đây có hai thời điểm có thể dùng ảnh chân dung, thời điểm giới thiệu bài và lúc hướng dẫn học sinh tìm hiểu tiểu sử, sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Lúc này ảnh chân dung như một chất xúc tác đưa cảm xúc của học sinh đi vào chiều sâu, trôi theo dòng chảy của văn bản đọc - hiểu.



3.1.2. Sử dụng tư liệu tranh ảnh minh họa:

Tranh ảnh vẽ sẵn, chụp sẵn, là một tư liệu dạy học giúp cho sự mô tả các đối tượng, hiện tượng một cách cụ thể, vừa sinh động, vừa tốn ít thời gian trên lớp. Có những loại tranh ảnh mang đến cho học sinh nguồn kiến thức mới, hoặc kiến thức bổ trợ cho bài học. Tranh ảnh sẽ tác động vào tri giác giúp các em hình dung, khám phá giá trị của tác phẩm bằng cảm xúc. Lớp học sẽ rất sinh động, học sinh làm việc tích cực và hiểu bài sâu sắc hơn.

Việc sử dụng tranh ảnh phải căn cứ vào nội dung tác phẩm để lựa chọn tranh và thời điểm sử dụng hợp lí:

- Chẳng hạn, trong bài thơViệt Bắc”, Tố Hữu tả bức tranh mùa xuân : "Ngày xuân mơ nở trắng rừng". Giáo viên có thể giới thiệu học sinh những hình ảnh về hoa mơ, về những cánh rừng mơ Việt Bắc khi mùa xuân về. Từ đó, giúp các em cảm nhận vẻ đẹp gợi cảm, tinh khôi của mùa xuân Việt Bắc một cách sinh động, ấn tượng.

- Cũng như vậy, khi dạy bàiTây Tiến” ta có thể cho học sinh xem tranh ảnh về thiên nhiên Tây Bắc, tranh về những con đường Tây Bắc với hình dáng ngoằn ngoèo, lên cao, xuống thấp hoặc tranh về cánh đồng lúa Mai Châu xanh mượt mà, óng ả. Những bức tranh này sẽ giúp học sinh dễ dàng hơn trong quá trình tìm hiểu Thiên nhiên Tây Bắc và chặng đường hành quân của đoàn binh Tây Tiến.

- Hay khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bảnThông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, ngày 1/ 12 / 2003” của Cô-Phi An-Nan. Trong quá trình hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm hiểu về HIV/AIDS và sưu tầm hình ảnh, tư liệu về căn bệnh này. Với cách làm này, học sinh sẽ có những kiến thức ban đầu về căn bệnh thế kỉ, giáo viên có một bộ sưu tập tài liệu phục vụ cho bài dạy hiệu quả hơn. Trong quá trình đọc hiểu chúng ta cung cấp cho học sinh số liệu và cho học sinh xem hình ảnh về vi rút HIV cũng như hình ảnh người mang bệnh AIDS. Rất rõ rằng, sau khi tìm hiểu bài đọc - hiểu có tư liệu, học sinh cảm nhận sâu sắc, ý thức đầy đủ về căn bệnh nguy hiểm này cũng như thấy rõ trách nhiệm của bản thân về phòng chống HIV/AIDS. Như vậy, bài học đã đến với các em một cách hiệu quả. Như vậy, việc sử dụng tranh ảnh phù hợp sẽ phát huy được những hiệu quả cụ thể, thiết thực của nó.



3.2. Phương pháp tạo tình huống văn học:

3.2.1. Sử dụng tư liệu phim hoặc video:

Phim là tác phẩm điện ảnh được chuyển thể từ một kịch bản văn học hoặc một tác phẩm văn học. Có khá nhiều tác phẩm văn học được đưa vào giảng dạy trong nhà trường đã được chuyển thể thành phim và chúng ta có thể tổ chức khởi động cho học sinh trước giờ học hoặc sau khi kết thúc bài học bằng những bộ phim, chẳng hạn như :

- Ở chương trình Ngữ văn lớp 10, giáo viên có thể sử dụng tư liệu của một số bộ phim sau:

+ Phim “Tấm Cám” chuyển thể từ truyện cổ tích cùng tên, do nghệ sĩ Ngô Thanh Vân vừa là đạo diễn, vừa là nhà sản xuất phim; đồng thời lại vừa là diễn viên trong vai dì ghẻ của bộ phim này.

+ Vở cải lương “Vương Thúy Kiều” phỏng theo cốt truyện của “Truyện Kiều” – Nguyễn Du; do đạo diễn Hoa Hạ dàn dựng.

- Ở chương trình Ngữ văn lớp 11, giáo viên có thể sử dụng tư liệu của một số bộ phim hoặc video sau:

+ Bộ phim “Làng Vũ Đại ngày ấy” chuyển thể dựa trên 3 tác phẩm của nhà văn Nam Cao đó là: truyện ngắn “Lão Hạc”, “Chí Phèo” và tiểu thuyết “Sống mòn”, do đạo diễn Đặng Nhật Minh phối hợp cùng hãng phim Phương Nam sản xuất.

+ Phim “Số đỏ”(Vũ Trọng Phụng), của đạo diễn Hứa Văn Định, do hãng phim Sài Gòn sản xuất. Hoặc bộ phim “Trò đời” là bộ phim truyện truyền hình dài tập ( 32 tập) được xây dựng dựa trên 3 tác phẩm văn học của nhà văn Vũ Trọng Phụng đó là:

“ Kĩ nghệ lấy Tây”, “ Cơm thầy, cơm cô”, “Số đỏ”. Bộ phim do 2 đạo diễn Phạm Nhuệ Giang, Nguyễn Hữu Tuấn thực hiện.

+ “ Bi kịch Vũ Như Tô” dựa trên tác phẩm cùng tên của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, do nhà hát kịch Tuổi trẻ Việt Nam sản xuất và biểu diễn.



+ Vở bi kịch “Rô-mê-ô và Juiliette” dựa trên tác phẩm cùng tên của nhà văn Sếch Xpia, của đạo diễn Bazluhmann, nhà sản xuất Shakespear (sản xuất năm 1968).

- Ở chương trình Ngữ văn lớp 12, giáo viên có thể sử dụng tư liệu của một số bộ phim hoặc video sau:

+ Vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” dựa trên tác phẩm cùng tên của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, do đạo diễn Nguyễn Đình Nghi dàn dựng, do hãng phim Việt Phước Sang sản xuất.

+ Bộ phim “Vợ chồng A Phủ” chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Tô Hoài, do đạo diễn Mai Lộc dàn dựng, do hãng phim truyện Phương Nam sản xuất năm 1961.

Như vậy, thông qua việc xem phim, học sinh thấm thía hơn các chi tiết đắt, tính cách nhân vật, tinh thần tác phẩm. Qua phim, giáo viên có thể khơi gợi và giúp học sinh tham gia "đồng sáng tạo" với tác giả. Mặt khác, trước khi tổ chức cho học sinh xem phim, giáo viên nên cung cấp cho học sinh một số câu hỏi tìm hiểu bài. Điều đó thúc đẩy các em, không chỉ đơn thuần nhìn và nghe chăm chú mà còn buộc các em phải suy nghĩ khi theo dõi màn hình để tìm ra lời giải.

3.2.2. Sử dụng bài hát hoặc video ngâm thơ:

Có thể sử dụng băng đĩa bài hát do một nghệ sĩ chuyên nghiệp hát hoặc ngâm một tác phẩm văn học có trong chương trình cho học sinh nghe khi tiến hành đọc - hiểu tác phẩm đó. Bởi lẽ không phải giáo viên dạy văn nào cũng có khả năng minh hoạ cho các bài thơ bằng âm nhạc hay ngâm thơ. Bản thân tôi cũng vậy, nên có lúc tôi đã dùng giọng ca hay giọng ngâm thơ của các nghệ sĩ để thay cho giọng đọc của mình khi bước vào phần đọc - hiểu văn bản. Lúc đó cả cô và trò cùng thả hồn vào bản nhạc và như một lẽ tự nhiên việc đọc - hiểu diễn ra thật nhẹ nhàng mà sâu lắng.

Ví dụ: khi dạy bài “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường (Ngữ văn 12), có thể sử dụng bài hát “Dòng sông ai đã đặt tên?"; Khi dạy bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử, giáo viên có thể sử dụng video ngâm thơ bài "Đây thôn Vĩ Dạ" .

Chính sự kết hợp giữa tài năng của nhà thơ với cảm hứng của nhạc sĩ và nghệ thuật biểu diễn của người nghệ sỹ sẽ tác động mạnh mẽ đến người nghe , lôi cuốn các em nhập tâm vào các tác phẩm thơ ca.



3.3. Phương pháp trải nghiệm:

- Các giờ đọc- hiểu văn bản văn học, giáo viên có thể đưa ra tư liệu về một số tình huống, một số vấn để liên quan đến tác phẩm văn học để học sinh trao đổi, thảo luận hoặc bằng chính sự trải nghiệm của bản thân mà bày tỏ ý kiến quan điểm của mình về tình huống, vấn đề văn học đó.

VD: Khi đọc – hiểu truyện “Tấm Cám”, giáo viên có thể đưa ra câu hỏi như sau:

+ Sau khi học xong truyện Tấm Cám, em có suy nghĩ như thế nào về phần kết truyên ? Em có đồng tình với hành động trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám không?

+ Giả sử em là Tấm, em sẽ xử sự như thế nào với mẹ con Cám?

- Ở một số giờ đọc – hiểu văn bản, để khơi dậy niềm yêu thích văn chương nghệ thuật, giáo viên có thể để cho học sinh tự trải nghiệm dưới hình thức sân khấu hóa tác phẩm văn học: học sinh có thể trải nghiệm bằng cách nhập vai, hóa thân thành nhân vật, hình tượng trong tác phẩm văn học. Từ đó, khiến các em dễ nhớ, nhập tâm hơn với những tác phẩm văn học.

Chẳng hạn như: sau khi học xong “Truyện An Dương Vương và Mị Châu- Trọng Thủy”( Ngữ văn 10), giáo viên có thể hướng dẫn học sinh dàn dựng lại tác phẩm văn học thành kịch bản văn học. Sau đó để cho học sinh tự trải nghiệm bằng cách hóa thân vào các nhân vật An Dương Vương, Mị Châu, Trọng Thủy… để diễn lại vở kịch đó.

Hoặc đơn giản hơn nữa là từ những kịch bản văn học sẵn có trong sách giáo khoa như “Vĩnh biệt Cửu Trùng đài” (Trích kịch “Vũ Như Tô”) của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (Ngữ văn 11), học sinh có thể trải nghiệm bằng hình thức sắm vai thành các nhân vật Vũ Như Tô, Đan Thiềm…. để diễn lại vở kịch đó.

Tóm lại, việc chuẩn bị tư liệu trước giờ dạy và sử dụng tư liệu trong giờ dạy giúp giáo viên khắc sâu kiến thức cần dạy, mở rộng, liên hệ, tích hợp với các bộ môn khác hoặc các phần văn bản và Tập làm văn của bộ môn Ngữ văn. Vừa tiết kiệm được thời gian vừa phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong việc hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức và vận dụng kiến thức đó vào thực tế, kích thích học sinh tư duy, phát huy tính tích cực, sáng tạo. Các em học sinh được nhìn - nghe - được thảo luận trong nhóm học tập của mình, được đưa ra ý kiến, được rèn luyện các kĩ năng nói và viết của bản thân. Điều đó giúp các em phát huy tối đa vai trò chủ động của mình trong giờ học.

Những phương pháp tôi đã trình bày ở trên tuy được  đúc kết từ thực tiễn giảng dạy của bản thân, song còn thiên về lý thuyết. Sau đây, tôi xin minh họa những điều tôi đã áp dụng bằng một tiết dạy cụ thể có sử dụng tư liệu dạy học (áp dụng lớp 10C) bằng việc phối hợp một số phương pháp đã nêu trên trong giờ đọc- hiểu văn.

GIÁO ÁN DẠY THỰC NGHIỆM



TIẾT 26 : ĐỌC VĂN

CA DAO THAN THÂN, YÊU THƯƠNG, TÌNH NGHĨA (T1)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC

1- Kiến thức: Giúp học sinh :

- Hiểu được những nét khái quát về tiếng hát than thân và tiếng hát yêu thương tình nghĩa của người bình dân trong xã hội phong kiến xưa qua nghệ thuật đậm sắc màu dân gian của ca dao.

- Biết cách tiếp cận và phân tích được lời than thân ở bài ca dao số 1 theo đặc trưng thể loại.

2- Kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc- hiểu ca dao.

3- Thái độ: Đồng cảm, sẻ chia với thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ thông qua tiếng hát than thân. Lên án, tố cáo giai cấp thống trị chà đạp quyền sống của người phụ nữ.

II. CHUẨN BỊ:

- GV: Đọc SGK, SGV, tài liệu tham khảo; soạn giáo án + Máy tính, máy chiếu; một số hình ảnh về loại hình nghệ thuật dân ca; một số tư liệu về bài ca dao minh họa cho chủ đề.

- HS: đọc và soạn bài theo hướng dẫn.

III. TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP:

1- Ổn định tổ chức

2- Kiểm tra bài cũ: kết hợp trong bài dạy.

3- Tiến trình bài học:

Hoạt động 1- Giới thiệu bài mới: Ca dao, dân ca được ví như dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người dân lao động Việt Nam. Trong đó, ca dao than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa là bộ phận phong phú nhất trong kho tàng ca dao trữ tình Việt Nam. Nó phản ánh những cung bậc cảm xúc khác nhau trong đời sống tình cảm của người Việt Nam xưa. Cụ thể tìm hiểu tiết 26: Chủ đề ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa.

Hoạt  động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiểu chung về ca dao .     

- Thao tác 1: Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại khái niệm về ca dao.

- Thao tác 2: Giáo viên trình chiếu 2 tư liệu

+ Tư liệu 1: 1 số hình ảnh về loại hình nghệ thuật hát dân ca.

+ Tư liệu 2: trình chiếu 1 số bài ca dao quen thuộc ( tiêu biểu cho 3 chủ đề)

1. Thân em như giếng giữa đàng,

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân.

2. Cây đa, giếng nước, đầu đình

Ở ba nơi ấy, duyên mình gặp nhau.

3. Lênh đênh một chiếc thuyền tình,

Mười hai bến nước biết gửi mình vào đâu.

4. Ước gì anh hóa ra hoa
Để em nâng lấy rồi mà cài khăn
Ước gì anh hóa ra chăn
Để cho em đắp, em lăn ra nằm.

5. Chồng người đi ngược về xuôi,

Chồng em ngồi bếp sờ đuôi con mèo.

Giáo viên biến các tư liệu trên thành ngữ  liệu dạy học. Chỉ 2 ngữ liệu, nhưnghướng dẫn học sinh khai thác được 3 nội dung liên quan đến ca dao :

* Nội dung 1 : Phân biệt được điểm giống và khác nhau giữa ca dao và dân ca. Giáo viên nêu câu hỏi: Căn cứ vào các tư liệu trên, em hãy cho biết ca dao và dân ca giống và khác nhau ở điểm nào?

Học sinh có thể dựa vào sự hiểu biết của mình, kết hợp với các tư liệu trên phân biệt được:



- Giống: thể trữ tình dân gian, diễn tả đời sống nội tâm của con người.

- Khác:


+ Dân ca là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, gắn liền môi tr­ờng và các hình thức diễn xướng( Dân ca quan họ Bắc Ninh, Huế, Nam Bộ; hát ví dặm Nghệ Tĩnh...)

+ Ca dao là phần lời của dân ca.

* Nội dung 2: Đặc sắc nghệ thuật của ca dao .

Giáo viên nêu câu hỏi: Quan sát những bài ca dao trên , hãy cho biết ca dao có những nét đặc sắc gi về nghệ thuật?

Học sinh có thể trả lời : Đặc sắc nghệ thuật của ca dao là:

- Ngôn ngữ: Ngắn gọn, hàm súc; gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ, biểu tượng truyền thống.

- Thể loại: Th­ường sử dụng thể thơ lục bát hoặc lục bát biến thể. Ngoài ra, còn có các thể khác: song thất lục bát, vãn bốn ( câu 4 tiếng), vãn năm (câu 5 tiếng).

- Cấu trúc: Sử dụng 1 số mô tuýp (công thức) quen thuộc mang đậm sắc thái dân gian.

* Nội dung 3: Phân loại ca dao.

Gv nêu câu hỏi: Quan sát vào các bài ca dao trên + kiến thức cũ đã học về ca dao ở Trung học cơ sở, hãy cho biết: Ca dao được phân ra làm mấy loại?

Gồm có 3 loại: Than thân; yêu thương, tình nghĩa; hài hước , trào phúng.

- Thao tác 3: Hướng dẫn học sinh tìm cung cấp thêm tư liệu về ca dao than thân và ca dao yêu thương tình nghĩa.

Ngoài những tư liệu do giáo viên cung cấp, giáo viên cũng có thể gợi ý để các em sưu tầm những tư liệu khác bằng cách nêu câu hỏi gợi mở: Hãy lấy ví dụ 1 số bài ca dao than thân, ca dao yêu thưng tình nghĩa mà em biết?

Các tư liệu đó không chỉ minh họa trực tiếp cho nội dung bài học mà còn tạo nên sự sinh động, phong phú , khắc sâu kiến thức cho tiết học.

Hoạt động 3: Hướng dẫn đọc – hiểu khái quát bài ca dao số 1,4,6:

- Thao tác 1: Hướng dẫn học sinh đọc diễn cảm bài ca dao số 1, 4, 6 .

- Thao tác 2: nêu câu hỏi:

Trong 3 bài ca dao trên, bài ca dao nào thuộc chủ đề than thân, bài nào thuộc chủ đề yêu thương, tình nghĩa?

Từ các tư liệu và nội dung đã tìm hiểu ở hoạt động 2, học sinh có thể phân loại được:

+ Bài 1: ca dao than thân.

+ Bài 4,6: ca dao yêu thương tình nghĩa.

Hoạt động 4: Hướng dẫn đọc hiểu bài ca dao số 1- Ca dao than thân:



  • Thao tác 1: Giáo viên nêu câu hỏi gợi mở để học sinh phát hiện:

Hãy tìm trong bài ca dao có những từ ngữ, hình ảnh nghệ thuật nào đặc sắc mà chúng ta cần phải tìm hiểu và phân tích?

HS phát hiện:

+ Mở đầu bằng cấu trúc ngôn từ: "Thân em như...”

+ H/a so sánh: “thân em” như “tấm lụa đào” phất phơ “giữa chợ”.

+ Đảo ngữ (phất phơ “giữa chợ”) kết hợp với câu hỏi tu từ (câu 2)

- Thao tác 2: Từ cơ sở của thao tác 1, giáo viên chia nhóm, trình chiếu nội dung câu hỏi hướng dẫn các nhóm tìm hiểu:

* Câu hỏi nhóm 1: Em có nhận xét như thế nào về cấu trúc ngôn từ của bài ca dao được mở đầu bằng “Thân em như...”? Phân tích tác dụng?

- Mở đầu bằng cấu trúc ngôn từ: "Thân em như…"-> Mô tuýp ( công thức) quen thuộc trong ca dao than thân.



- Giáo viên yêu cầu học sinh sưu tầm tư liệu về 1 số bài ca dao than thân có cùng mô tuýp mở đầu “Thân em”...

1- Thân em nh­ư lá đài bi

Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm s­ơng…”

2-“ Thân em như­ chổi đầu hè

Phòng khi m­ưa gió đi về chùi chân”

3- Thân em như ớt trên cây

Càng tươi ngoài vỏ, càng cay trong lòng.

4- Thân em như trái bần trôi

Gió dập sóng dìu biết nấp vào đâu.

5- Thân em” như như hạt mưa sa

hạt vào đài các, hạt ra ruộng cày…

6- Thân em như quả xoài trên cây ,

Gió Đông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc

Nó đánh lúc la lúc lắc trên cành,

Một mai rụng xuống biết vào tay ai?

Những tư liệu trên không chỉ minh họa trực tiếp cho nội dung bài học mà còn khắc sâu kiến thức, giúp học sinh có thể phân tích được tác dụng của mô tuýp ấy 1 cách dễ dàng đó là nhằm:

+ Xác định rõ đối tượng của lời than thân là người phụ nữ trong xã hội cũ.

+ Khắc sâu, nhấn mạnh về “thân phận và cuộc đời” hẩm hiu, nhỏ bé, tội nghiệp của họ. (Đó chính là số phận chung của biết bao ng­ời phụ nữ trong xã hội phong kiến).

- Câu hỏi dành cho nhóm 2: Em có nhận xét như thế nào về hình ảnh so sánh “thân em” như “tấm lụa đào”? Hình ảnh “tấm lụa đào” được đặt “giữa chợ” gợi cho em suy nghĩ gì?

- Câu hỏi dành cho nhóm 3: Hãy phân tích tác dụng của biện pháp đảo ngữ và câu hỏi tu từ được sử dụng ở câu ca dao thứ 2?

Khi nhóm 2, nhóm 3 trả lời, giáo viên có thể cung cấp tư liệu về:

1- Hình ảnh minh họa về “tấm lụa đào”.

2- H/a minh họa “tấm lụa đào” đặt “phất phơ giữa chợ”.

Sau khi hoạt động nhóm kết hợp với quan sát thêm tư liệu trực quan, giúp các em có thể nhận xét được dụng ý nghệ thuật của các hình ảnh:



- So sánh : “Thân em” như­ “tấm lụa đào” – là 1 hình ảnh mềm mại, đẹp, bền, có giá trị và gắn liền với người con gái -> Hình ảnh “Tấm lụa đào” trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp hoàn hảo của người con gái (công, dung, ngôn, hạnh)

- “Tấm lụa đào” ấy được đặt giữa “chợ” - là nơi kẻ bán – người mua, nơi trao đổi hàng hoá vật dụng -> do đó “tấm lụa đào” có thể thành đối tư­ợng sở hữu của bất kì người nào có nhu cầu mua bán.

Như vậy, số phận của “tấm lụa đào” - người thiếu nữ ấy không có quyền lựa chọn và định đoạt số phận của cuộc đời mình.

- Đảo ngữ: Đưa từ láy “phất phơ”(láy tượng hình) đặt đầu câu và đặt trước “giữa chợ” (Bổ ngữ) kết hợp với câu hỏi tu từ “Biết vào tay ai”?

-> Tác dụng: Gợi nỗi xót xa, lo lắng cho thân phận bấp bênh, mong manh của người phụ nữ trong xã hội cũ.

- Thao tác 3: Giáo viên nêu câu hỏi cho học sinh liên hệ và rút ra bài học.

Câu 1: Tiếp mạch cảm hứng bài ca dao này, nhà thơ nào cũng bày tỏ sự ngậm ngùi, xót thương cho thân phận phụ thuộc của người phụ nữ trong xã hội phong kiến?

Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương đã khắc hoạ rõ nét hơn trong tiếng thơ đầy bản sắc của bà để tạo nên 1 tiếng nói chung trong bài thơ : "Bánh trôi nước" (Giáo viên cung cấp tư liệu bài thơ này)

Câu 2: Thông qua bài ca dao trên, đã để lại cho em những cảm xúc gì?

+ Cảm thông, chia sẻ với thân phận phụ thuộc của người phụnữ trong xã hội cũ.

+ Liên hệ với xã hội ngày nay: được sống trong xã hội công bằng, dân chủ, thế nên người phụ nữ có quyền chủ động làm những việc mà mình muốn: Họ đc học tập, chủ động trong tình yêu , lựa chọn hạnh phúc cho cuộc đời mình; được tham gia vào các hoạt động xã hội; được học tập và vui chơi...Họ không còn bị kìm kẹp bởi những quan niệm bất công của xã hội cũ.



  • Vì vậy, chúng ta cần phải biết trân trọng những gì mà chúng ta đang được hưởng để phấn đấu trở thành những người có ích cho xã hội.

Hoạt động 4: Củng cố bài học.

- Hiểu được những nét chính về ca dao; ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa.



- Nội dung và những biện pháp nghệ thuật được sử dụng bài ca dao than thân
4. Hiệu quả của đề tài:

Từ  thực tế giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy rằng: sự đầu tư cho bài giảng của giáo viên đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả giờ học. Những tiết học mà giáo viên có đầu tư tìm tòi, bổ sung tư liệu, biết khai thác tư liệu hợp lí thì học sinh học tập với thái độ hào hứng, sôi nổi hơn. Mặt khác, học sinh cũng rất nhiệt tình, háo hức và tự giác trong việc sưu tầm tư liệu phục vụ cho tiết học. Bởi vậy, trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi đã áp dụng kết hợp những phương pháp sử dụng tư liệu kể trên trong một số giờ đọc- hiểu văn bản văn học.

Để kiểm tra tính khả thi của đề tài, trong giờ dạy đọc - hiểu văn bản, tôi đã tiến hành điều tra kết quả học tập của học sinh bằng hình thức kiểm tra, đánh giá. Sau đây là kết quả đối chiếu trước và sau khi sử dụng 3 phương pháp nêu trên:

* Bảng 1: Số liệu khi chưa áp dụng đề tài (Không sử dụng tư liệu dạy học)




Lớp

Sĩ số

Kết quả tham gia hoạt động của HS

Kết quả nhận thức của học sinh

Số học sinh nhận thức tốt

Số học sinh nhận thức khá

Số học sinh nhận thức TB

Số học sinh nhận thức yếu

Tích cực, hứng thú.

Không tích cực, hứng thú.

LS

%

SL

%

SL

%

SL

%

10C

35

10

25

3

8,6

15

42,85

15

42,8

2

5,7

10D

36

8

28

2

5,6

16

44,4

15

41,7

3

8,3

12A

34

3

31

1

2,9

7

20,6

20

58,8

6

17,7

12B

34

5

29

4

11,8

11

32,3

17

50

2

5,9

Tổng

139

26

113

10

7,2

49

35,2

67

48,2

13

9,4

* Bảng 2: Số liệu sau khi áp dụng các biện pháp của đề tài (sử dụng tư liệu dạy học).



Lớp

Sĩ số

Kết quả tham gia hoạt động của HS

Kết quả nhận thức của học sinh

Số học sinh nhận thức tốt

Số học sinh nhận thức khá

Số học sinh nhận thức TB

Số học sinh nhận thức yếu

Tích cực, hứng thú.

Không tích cực, hứng thú.

LS

%

SL

%

SL

%

SL

%

10C

35

28

7

10

28,6

15

42,8

10

28,6

0




10D

36

23

13

8

22,2

16

44,4

11

30,6

1

2,8

12A

34

20

14

3

8,9

15

44,1

15

44,1

1

2,9

12B

34

30

4

5

14,7

20

58,8

9

26,5

0




Tổng

139

101

38

26

18,7

66

47,5

45

32,4

2

1,4

Qua kiểm tra đánh giá, điều tôi rất phẩn khởi là tất cả các học sinh đều tích cực tham gia, kể cả học sinh yếu kém. Các em thích phát biểu bài, theo dõi bài chăm chú hơn ; tình trạng một số em lơ là, uể oải hoặc thiếu hứng thú đã được khắc phục vì được tham gia một tiết học như thế.

Căn cứ vào 2 bảng số liệu so sánh kết quả trước và sau khi thực hiện đề tài cho thấy: số học sinh có nhận thức, tư duy tốt tăng từ 10 học sinh lên 26 học sinh ; số học sinh có nhận thức, tư duy khá tăng từ 49 lên 66 học sinh; số học sinh có nhận thức, tư duy trung bình từ 67 học sinh giảm xuống còn 45 học sinh ; số học sinh có nhận thức, tư duy yếu giảm từ 13 học sinh còn 2 học sinh.




tải về 0.51 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương