Môi trưỜng và SỨc khoẻ con ngưỜI


I. MỐI QUAN HỆ LẪN NHAU GIỮA CÁC CHẤT DINH DƯỠNG



tải về 1.37 Mb.
trang4/9
Chuyển đổi dữ liệu23.11.2017
Kích1.37 Mb.
#2723
1   2   3   4   5   6   7   8   9

I. MỐI QUAN HỆ LẪN NHAU GIỮA CÁC CHẤT DINH DƯỠNG


Mỗi chất dinh dưỡng có vai trò riêng biệt đối với cơ thể. Tuy vậy hoạt động của chúng liên hệ chặt chẽ với nhau và chỉ tiến hành bình thường khi khẩu phần đảm bảo cân đối. Mối quan hệ này thể hiện ở các điểm sau:

1. Thiếu dinh dưỡng và ngon miệng

Tất cả các loại thiếu dinh dưỡng đặc hiệu (axit amin, vitamin, khoáng,...) nói chung thường dẫn tới hiện tượng kém ăn, nghĩa là mất ngon miệng. Sự thiếu cân đối về chất của khẩu phần đã dẫn tới sự giới hạn về lượng thức ăn làm cho nhu cầu năng lượng không được thỏa mãn



Glucid, Lipid, Protid là nguồn năng lượng nhưng để quá trình thoái hóa của chúng xảy ra bình thường đòi hỏi nhiều hệ thống men mà trong thành phần các men này có protid, vitamin nhóm B, các chất khoáng.

2. Năng lượng và protid

Giữa nhu cầu năng lượng và nhu cầu protid có mối liên hệ chặt chẽ. Cho súc vật thí nghiệm ăn chế độ ăn nghèo protid thì chúng ăn ít hơn bình thường. Khi nhu cầu protid không đảm bảo thì nhu cầu năng lượng cũng thiếu hụt

Ngược lại năng lượng có thể tiết kiệm protid. Khi thiếu glucid, cơ thể lấy năng lượng từ lipid và sau đó từ protid

3. Cân đối của các axit amin

Giá trị dinh dưỡng của protid phụ thuộc theo chất lượng của nó nghĩa là tùy theo sự cân đối của các axit amin bên trong khẩu phần chứ không phải số lượng tuyệt đối của chúng. Số lượng tuyệt đối của các axit amin cần thiết hiện diện bên trong protid không quan trọng bằng số lượng tương đối với các acid amin khác. Hàm lượng cao của axit amin này sẽ tạo nên sự thiếu hụt thứ phát axit amin khác ngay cả khi số lượng của chúng đầy đủ



Ví dụ: Ngô là thực phẩm có protid không cân đối ở hai mặt: một mặt do hàm lượng leucine quá cao làm tăng nhu cầu isoleucine của cơ thể gây ra thiếu hụt thứ phát isoleucine, mặt khác do nghèo lizin và tryptophan. Vậy “protid chuẩn” là protid có đầy đủ axit amin cần thiết ở tỷ lệ cân đối và do đó có hiệu quả sinh học cao nhất.

Những đặc tính bên trong của mỗi protid mất ý nghĩa khi chúng trộn lẫn với nhau. Hai loại protid không cân đối khi phối hợp với nhau có thể thành một hỗn hợp cân đối hơn, có giá trị dinh dưỡng cao hơn.



4. Photpho - Calci và vitamin D

Sự thỏa mãn nhu cầu phospho, calci phụ thuộc nhiều vào trị số của tỷ số Ca/P hơn là số lượng tuyệt đối của Ca và P ăn vào. Một lượng thừa P có thể gây còi xương nếu không kèm theo một lượng thích đáng Ca. Hàm lượng P và Ca trong khẩu phần là một yếu tố để đánh giá hiệu quả cuả vitamin D. Nhu cầu vitamin D tùy theo tỷ lệ Ca/P trong khẩu phần vì nó trực tiếp tham gia vào điều hòa chuyển hóa P, Ca trong cơ thể.



5. Lipid và vitamin

Nhiều thí nghiệm cho thấy khi tăng lượng lipid trong khẩu phần để thực hiện chế độ ăn có năng lượng cao thì đòi hỏi phải xét lại nhu cầu của nhiều vitamin: vitamin tan trong lipid: Tocoferon, vitamin A, và cả các vitamin tan trong nước: a. pantotenic (B3), a. nicotinic (PP).

Năng lượng của chất béo được giải phóng thông qua quá trình oxy hóa các axit béo. Các phản ứng oxy hóa axit béo được xúc tác bởi những dehydrogen đặc hiệu mà trong thành phần có riboflavin (B2) hay amid của axit nicotinic (Niacin). Trong cơ thể vitamin E có tác dụng bảo vệ lipid khỏi bị oxy hóa. Khi khẩu phần chứa nhiều axit béo chưa no đòi hỏi sự tăng vitamin E. Một số tác giả đề nghị tỷ số giữa vitamin E và axit béo chưa no cần thiết nên vào khoảng 0,6. Như vậy những lời khuyên thay thế hoàn toàn mỡ ăn bằng dầu thực vật là thiếu căn cứ khoa học và có thể có hại.

6. Glucid và vitamin

Nhu cầu vitamin B1 liên quan với lương glucid trong khẩu phần. Người ta thường tính tỉ lệ vitamin B1 ()/calo không do lipid. Theo nhiều tác giả, để đề phòng bệnh Beriberi tỉ lệ đó cần ≥ 0,45.



7. Protid và vitamin

Thiếu protid gây cản trở tích chứa riboflavin (B2) và làm giảm dự trữ B2 trong cơ thể. Ở chuột cống người ta có thể gây thiếu B2 trực tiếp bằng cách cho ăn khẩu phần không có B2 hoặc gián tiếp bằng khẩu phần không có protid. Sở dĩ như vậy vì trong cơ thể B2 thường gắn với các phần protid đặc hiệu: các flavoprotid, các phần tử này rất cơ động thường được huy động đầu tiên khi thiếu protid. Thiếu một cơ chất thích hợp, cơ thể không thể tích chứa B2 ăn vào mà bài xuất nó theo nước tiểu. Vậy lượng B2 đưa vào tùy theo lượng protid của khẩu phần.



8. Quan hệ giữa các vitamin

Thiếu một vitamin này có thể gây thiếu kèm theo một loại khác. Ví dụ thiếu vitamin B6 gây xuất hiện các triệu chứng của thiếu a. pantotenic. Đối với nhiều loại thiếu vitamin nhóm B, vitamin C có tác dụng bảo vệ rõ rệt.


II. TÍNH CÂN ĐỐI CỦA KHẨU PHẦN


1. Cơ cấu bữa ăn và mô hình bệnh tật

Nghiên cứu về tình hình ăn uống của nhân dân các nước trên thế giới, người ta thấy đang sống ở 2 thái cực trái ngược nhau, hoặc bên bờ vực thẳm của sự thiếu ăn hoặc bên bờ một vực thẳm khác, vực thẳm của sự thừa ăn.

Những nước thuộc thế giới thứ 3 đang đứng bên bờ vực thẳm của sự thiếu ăn. Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi ngày trên thế giới có khoảng 40.000 trẻ em chết do thiếu dinh dưỡng nặng, hàng năm có khoảng 250.000 trẻ em bị mù do thiếu vitamin A và chất béo. Số người bị thiếu máu dinh dưỡng ước tính đến 200 triệu người và 400 triệu người khác bị bướu cổ phần lớn là thiếu iôt.

Ziegles nghiên cứu về tai họa của nạn thiếu ăn, đặc biệt ở Châu Phi, đã đi đến kết luận: “Thế giới mà chúng ta đang sống là một trại tập trung hủy diệt lớn vì mỗi ngày ở đó có 12.000 người chết đói”.

Các nước có nền công nghiệp phát triển, ngược lại, đang đứng bên bờ vực thẳm của sự thừa ăn. Năng lượng bình quân hàng ngày ở Châu Âu là 3000 kcal, Bắc Mỹ: 3100 kcal, Úc: 3200 kcal. Lượng chất béo sử dụng hàng ngày trên 100g/người. (Tây Âu: 118g, Bắc Mỹ: 146g, Úc: 136g) chiếm 40% tổng số nhiệt lượng ăn vào. Ở các nước này, bệnh béo phì, vữa xơ động mạch, tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái đường v.v... là những vấn đề sức khỏe xã hội quan trọng. Theo thống kê ở Pháp 15% số dân bị tăng huyết áp, 3% bị bệnh đái đường, ở Đức trên 20% người trưởng thành bị bệnh béo phì và cái vực thẳm chờ đợi là 35-40% số người chết là do các bệnh về tim mạch có liên quan chặt chẽ với nạn thừa ăn.

Xét về cơ cấu bữa ăn, người ta thấy tỷ lệ năng lượng do protid của các loại khẩu phần không khác nhau nhiều (chung quanh 12% nhưng protid nguồn gốc động vật tăng dần khi thu nhập quốc dân cao). Về lipid, năng lượng do lipid nhất là lipid động vật tỷ lệ với mức thu nhập. Ngược lại năng lượng do glucid nói chung và tinh bột nói riêng giảm dần theo thu nhập, trong khi đó năng lượng do các loại đường và đồ ngọt tăng lên. Dinh dưỡng hợp lý sẽ giúp cơ thể tránh được các bệnh nêu trên.



2. Những yêu cầu về dinh dưỡng hợp lý

2.1. Yêu cầu đầu tiên của dinh dưỡng hợp lý ở người lao động là cung cấp đầy đủ năng lượng theo nhu cầu cơ thể

Năng lượng tiêu hao hàng ngày của cơ thể bao gồm năng lượng cho chuyển hóa cơ bản và năng lượng cho các hoạt động.

* Chuyển hóa cơ bản: là năng lượng cơ thể tiêu hao trong điều kiện nghỉ ngơi, không tiêu hóa, không vận cơ, không điều nhiệt. Đó là nhiệt lượng cần thiết để duy trì các chức phận sống của cơ thể như: tuần hoàn, hô hấp, bài tiết, thân nhiệt.

Chuyển hóa cơ bản bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như nữ thấp hơn nam, tuổi: càng ít tuổi mức chuyển hóa cơ bản càng cao, hormon tuyến giáp: cường giáp làm tăng chuyển hóa cơ bản, còn suy giáp làm giảm chuyển hóa cơ bản.

Có nhiều cách tính năng lượng chuyển hóa cơ bản:

- Tính chuyển hóa cơ bản dựa vào cân nặng theo công thức của Tổ chức Y tế thế giới (WHO):



Bảng 2.1. Công thức tính chuyển hóa cơ bản dựa theo cân nặng

( W = trọng lượng cơ thể: kg)

Nhóm tuổi (năm)

Chuyển hóa cơ bản (kcal/ngày)

Nam

Nữ

0 – 3

3 - 10


10 - 18

19 - 30


30 - 60

> 60


60,9W - 54

22,7W + 495

17,5W + 651

15,3W + 679

11,6W + 487

13,5W + 487



61,0W - 51

22,5W + 499

12,2W + 746

14,7W + 496

8,7W + 829

10,5W + 506



- Tính chuyển hóa cơ bản dựa vào cân nặng, chiều cao, tuổi theo công thức của Harris-Benedict:

Đối với nam: CHCB = 66,5 + 13,8 W + (5H – 6,75A)

Đối với nữ : CHCB = 655 + 9,56 W + (1,85H – 4,68A)

Trong đó: A là tuổi, tính theo năm.

W là cân nặng, tính theo kg.

H là chiều cao, tính theo cm

- Cũng có thể ước lượng chuyển hóa cơ bản theo cân nặng:

ECHCB = 1kcal * W(kg) *24

* Năng lượng cho hoạt động thể lực:

Ngoài phần năng lượng tiêu hao để duy trì chức năng sống của cơ thể thì lao động thể lực càng nặng càng tiêu hao nhiều năng lượng.

Dựa vào tính chất, cường độ lao động thể lực người ta xếp các loại lao động thành các nhóm như sau:

- Lao động nhẹ: Nhân viên hành chính, các nghề lao động trí óc, nghề tự do, nội trợ, giáo viên,…

- Lao động trung bình: Công nhân xây dựng, nông dân, nghề cá, quân nhân, sinh viên,…

- Lao động nặng: Một số nghề nông nghiệp nặng, công nhân công nghiệp nặng, nghề mỏ, vận động viên thể thao, quân nhân trong thời kỳ luyện tập.

- Lao động đặc biệt: Nghề rừng, nghề rèn,…

Cách phân chia này chỉ có tính chất tương đối vì trong cùng một nghề tiêu hao năng lượng cũng thay đổi tùy theo tính chất công việc.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (1985) có thể tính nhu cầu năng lượng một người cả ngày từ CHCB theo các hệ số sau:

Bảng 2.2. Hệ số NCNL cả ngày của người trưởng thành so với chuyển hóa cơ bản


Loại lao động

Nam

Nữ

Lao động nhẹ

Lao động trung bình

Lao động nặng

Lao động đặc biệt



1,55

1,78


2,10

2,40


1,56

1,61


1,82

2,20


Ví dụ, nhu cầu năng lượng của nhóm lao động nam lứa tuổi từ 19 đến 30, cân nặng trung bình là 52kg, loại lao động nhẹ như sau:

Tra bảng 1, ta tính được nhu cầu CHCB:

(15,3 x 52) + 679 = 1474,6

Tra tiếp bảng 2, ta tính được năng lượng cả ngày như sau:

1474,6 x 1,55 = 2285,63 kcal

Dưới đây là nhu cầu năng lượng của người trưởng thành theo khuyến nghị của VDDVN.



Bảng 2.3. Nhu cầu năng lượng của người trưởng thành

Người trưởng thành

Lao động

Nhẹ

Vừa

Nặng

Nam 18 – 30

30 - 60


> 60

2300 kcal

2200


1900

2700 kcal

2700


2200

3200 kcal

3200


Nữ 18 – 30

30 - 60


> 60

2200

2100


1800

2300

2200


-

2600

2500


-

Phụ nữ có thai (6 tháng cuối)

+ 350

+ 350

-

Phụ nữ cho con bú (6 tháng đầu)

+ 550

+ 550

-

Theo dõi cân nặng là cần thiết để biết xem chế độ dinh dưỡng có đáp ứng nhu cầu năng lượng hay không. Cân nặng giảm là biểu hiện của chế độ ăn thiếu năng lượng, cân nặng tăng là biểu hiện của chế độ ăn vượt quá nhu cầu năng lượng. Ở những cơ thể thiếu năng lượng trường diễn thì nên đưa tới cân nặng nên có rồi duy trì ở mức đó là thích hợp.

2.2. Yêu cầu thứ hai là chế độ ăn phải đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết

Theo khuyến cáo của Viện dinh dưỡng Việt Nam, nhu cầu các chất dinh dưỡng cần thiết theo tỷ lệ sau:

- Lượng protid : chiếm 12-14% tổng nhu cầu năng lượng.

- Lượng lipid : chiếm 18-20% tổng nhu cầu năng lượng.

- Lượng glucid: chiếm 66-70% tổng nhu cầu năng lượng.

- Vitamin và chất khoáng: chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng là thành phần không thể thiếu trong dinh dưỡng.



2.3. Yêu cầu thứ ba là các chất dinh dưỡng cần thiết ở tỷ lệ cân đối, thích hợp

Người ta nhấn mạnh điểm thứ 3 và coi đó là điểm quan trọng, hợp lý nhất của dinh dưỡng. Cụ thể là:



a. Cân đối giữa các yếu tố sinh năng lượng

Hiện nay người ta thường thể hiện tính cân đối giữa protid, lipid và glucid trong khẩu phần theo đơn vị năng lượng.

Về protid, qua điều tra ở nhiều nơi trên thế giới thấy rằng năng lượng do protid thường dao động chung quanh 12% ± 1 mặc dù vai trò sinh năng lượng của protid chỉ là phụ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy ở khẩu phần nghèo protid, lực cơ và nhất là khả năng lao động giảm sút rõ rệt (do đó nhu cầu protid phải tăng song song NCNL). Đó là do protid tuy không có những tác dụng tức thì đến lao động cơ nhưng chúng đã tác dụng thông qua trung gian của hệ thống nội tiết và thần kinh thực vật để duy trì một cường tính cao hơn.

Ở nước ta, theo Viện Dinh dưỡng năng lượng do protid nên đạt từ 12 - 14% tổng số năng lượng.

Về chất béo, năng lượng do lipid so với tổng số năng lượng nên vào khoảng 20 - 25% tuỳ theo ở vùng khí hậu nóng hay rét. Người ta khuyên nên tăng thêm 5% cho những vùng có khí hậu lạnh và giảm 5% cho những vùng có khí hậu nóng. Tỷ lệ này không nên vượt quá 30% hoặc thấp hơn 10% vì đều có những ảnh hưởng bất lợi đối với sức khoẻ.

Ở nước ta năng lượng do lipid nên vào khoảng 15 - 18%.

Glucid cung cấp phần năng lượng còn lại, tương đương với khoảng 70%.



b. Cân đối về protein

Ngoài tương quan với tổng số năng lượng như đã nói ở trên, trong thành phần protein cần có đủ các acid amin cần thiết ở tỷ lệ cân đối thích hợp.

Do các protein nguồn gốc động vật và thực vật khác nhau về chất lượng nên người ta hay dùng tỷ lệ % protein động vật/tổng số protein để đánh giá mặt cân đối này. Trước đây nhiều tài liệu cho rằng lượng protein nguồn gốc động vật nên đạt 50 - 60% tổng số protein và không nên thấp hơn 30%.

Gần đây nhiều tác giả cho rằng đối với người trưởng thành, một tỷ lệ protein động vật vào khoảng 25 - 30% tổng số protein là thích hợp, còn đối với trẻ em tỷ lệ này nên cao hơn.

Theo VDDVN, tỷ lệ Pđv/tổng số P nên 30%.

c. Cân đối về lipid

Ngoài tỷ lệ năng lượng do lipid so với tổng số năng lượng, cần phải tính đến cân đối giữa chất béo nguồn động vật và thực vật trong khẩu phần.

Trong mỡ động vật có nhiều axit béo no, trong dầu thực vật có nhiều axit béo chưa no. Các axit béo no gây tăng các lipoprotein có tỷ trọng thấp (Low Density Lipoprotein - LDL) vận chuyển cholesterol từ máu tới các tổ chức và có thể tích luỹ ở thành động mạch. Các axit béo chưa no gây tăng các lipoprotein có tỷ trọng cao (High Density Lipoprotein - HDL) đưa cholesterol từ các mô đến gan để thoái hóa.

Theo nhiều tác giả, trong chế độ ăn nên có 20 - 30% tổng số lipid có nguồn gốc thực vật. Về tỷ lệ giữa các axit béo, trong khẩu phần nên có 10% là các axit béo chưa no có nhiều nối đôi, 30% axit béo no và 60% axit oleic.

Khuynh hướng thay thế hoàn toàn mỡ động vật bằng các dầu thực vật là không hợp lý bởi vì các sản phẩm oxy hóa (các peroxit) của các acid béo chưa no là những chất có hại đối với cơ thể.

d. Cân đối về glucid

Glucid là thành phần cung cấp năng lượng quan trọng nhất của khẩu phần. Glucid có vai trò tiết kiệm protid, ở khẩu phần nghèo protid nhưng đủ glucid thì lượng nitơ ra theo nước tiểu sẽ thấp nhất.

Cân đối giữa glucid tinh chế và tinh bột.

Cân đối giữa glucid và vitamin B1.

Cân đối giữa saccarose và fructose (phòng xơ mỡ động mạch).

e. Cân đối về vitamin

Các vitamin nhóm B cần thiết cho chuyển hóa glucid, do đó nhu cầu của chúng thường tính theo mức năng lượng của khẩu phần. Theo WHO và Tổ chức Lương Nông quốc tế (FAO/WHO) cứ 1000 kcal của khẩu phần cần có 0,4 mg vitamin B1; 0,6 mg vitamin B2; 6,6mg lượng niacin.

Chế độ ăn có nhiều chất béo làm tăng nhu cầu về vitamin E (tocoferol) là chất chống oxy hóa của các chất béo tự nhiên, ngăn ngừa hiện tượng peroxyt hóa các lipid. Các loại dầu thực vật (dầu ngô, dầu đậu nành) có nhiều tocoferol, ngoài ra các loại hạt nảy mầm (mầm ngô, mầm lúa mì, giá đậu) cũng là nguồn tocoferol tốt.

Cung cấp đầy đủ protein là điều kiện cần cho hoạt động bình thường của nhiều vitamin. Đối với vitamin A hàm lượng protein trong khẩu phần vừa phải tạo điều kiện cho tích lũy vitamin A trong gan nhưng khi tăng lượng protein lên tới 30 - 40% thì sử dụng vitamin A tăng lên do đó tạo điều kiện xuất hiện sớm các biểu hiện thiếu vitamin A. Ngược lại, khẩu phần nghèo protein thì các biểu hiện thiếu vitamin A sẽ kéo dài. Vì vậy, khi dùng các thức ăn giàu protein như sữa gầy cho trẻ em suy dinh dưỡng phải cho thêm vitamin A cũng như khi điều trị bệnh thiếu vitamin A phải kèm theo tăng protein thích đáng.



f. Cân đối về chất khoáng

Các hoạt động chuyển hóa trong cơ thể được tiến hành bình thường là nhờ tính ổn định của môi trường bên trong cơ thể. Cân bằng kiềm toan duy trì tính ổn định đó. Ở các loại thức ăn mà trong thành phần có các yếu tố kiềm (các cation) như Ca, Mg, K,... chiếm ưu thế, người ta gọi là các thức ăn gây kiềm, ngược lại ở một số thức ăn khác, các yếu tố toan (các anion) như Cl, P, S,... chiếm ưu thế người ta gọi là các thức ăn gây toan. Nhìn chung, các thức ăn nguồn gốc thực vật (trừ ngũ cốc) là thức ăn gây kiềm, các thức ăn nguồn gốc động vật (trừ sữa) là các thức ăn gây toan. Chế độ ăn hợp lý nên có ưu thế kiềm.

Tương quan giữa các chất khoáng trong khẩu phần cũng cần được chú ý. Người ta thấy trong khẩu phần được hấp thu tốt khi tỷ lệ Ca/P lớn hơn 0,5 và có đủ vitamin D. Tỷ số Ca/Mg trong khẩu phần nên là 1/0,6. Các vi yếu tố giữ vai trò quan trọng trong bệnh sinh nhiều bệnh địa phương như bướu cổ, sâu răng, nhiễm độc flo,...

2.4. Phù hợp với điều kiện kinh tế của từng gia đình và thực tế địa phương

Trong lựa chọn thực phẩm chú ý sao cho thích hợp nhất với điều kiện kinh tế của từng đối tượng. Khi xây dựng khẩu phần ăn không phải các thực phẩm luôn có mặt đầy đủ mà còn phụ thuộc vào điều kiện cung cấp, thời tiết v.v…Mặt khác, tùy thuộc vào tập quán dinh dưỡng, món ăn cần được thay đổi, ngon miệng, hợp khẩu vị. Do đó, cần thay đổi thực phẩm này bằng thực phẩm khác. Tuy nhiên, để các thành phần và giá trị dinh dưỡng của khẩu phần không bị thay đổi cần tôn trọng nguyên tắc sau:

- Chỉ thay thế thực phẩm trong cùng một nhóm. Ví dụ, có thể thay thế thịt bằng cá hay đậu phụ, gạo bằng ngô hay bột mỳ v.v…

- Khi thay thế chú ý tính lượng tương đương để giá trị dinh dưỡng trongg khẩu phần ăn không bị thay đổi.

- Trong trường hợp cần thiết có thể thay thế các thực phẩm thuộc nhóm có tính chất tương tự.

2.5. Thức ăn phải đảm bảo lành, sạch, không gây bệnh

Để có giá trị dinh dưỡng và an toàn khi sử dụng, thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến và bảo quản phòng tránh sự nhiếm khuẩn mà còn phải không bị ô nhiễm các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên.

Những đặc điểm dinh dưỡng trên đây sẽ được phát huy tác dụng nếu chúng ta thực hiện một chế độ ăn hợp lý, cụ thể là:

- Bắt buộc ăn sáng trước khi đi làm.

- Khoảng cách giữa các bữa ăn không quá 4 - 5 giờ. Đối với công nhân làm ca thông tầm, nên có các bữa ăn bồi dưỡng giữa giờ. Đây là bữa ăn nhẹ nhưng phải bảo đảm tính cân đối. Tránh ăn giữa giờ quá nặng gây buồn ngủ.

Nên phân cân đối thức ăn ra các bữa sáng, trưa, tối và đảm bảo sự cân đối trong từng bữa ăn. Tốt nhất nên tuân theo 10 lời khuyên về ăn uống hợp lý của Viện Dinh dưỡng Việt Nam.



Каталог: books -> y-duoc -> dinh-duong-suc-khoe
y-duoc -> Trình bày được sơ đồ thoái hóa hemoglobin. Trình bày được sơ đồ thoái hóa hemoglobin
y-duoc -> Khám lâm sàng hệ thống thận tiết niệu bộ môn Nội tổng hợp-Đại Học y hà Nội
y-duoc -> Công thức máu th. Bs. Suzanne mcb thanh Thanh
y-duoc -> Chăm sóc bệnh nhân tai biến mạch máu não Ths Nguyễn Thanh Bình
y-duoc -> Câu 1: Trong các kỹ thuật hình ảnh sau đây, kỹ thuật nào có ít vai trò nhất trong thăm khám hệ tiết niệu
dinh-duong-suc-khoe -> Đái tháo đường hay bệnh tiểu đường, là bệnh ngày càng phổ biến, gây nhiều biến chứng trầm trọng, ảnh hưởng đến cuộc sống bệnh nhân và xã hội
y-duoc -> Bệnh mạn tính

tải về 1.37 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương