Mục lục trang



tải về 3.28 Mb.
trang9/16
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích3.28 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   16

Nguồn: [78]

Thực tế trên cho thấy, lao động trong các KCN hiện nay hầu hết là phụ nữ và đang ở lứa tuổi sinh đẻ. Tương lai họ sẽ xây dựng gia đình và định cư lâu dài. Đặc biệt tâm lý là lao động nữ, họ không thích thay đổi chỗ ở cũng như chỗ làm việc, họ muốn có một gia đình hạnh phúc và ổn định. Do đó, nhu cầu về nhà ở cũng như công trình dịch vụ của họ rất lớn.

Yếu tố về độ tuổi người lao động có tác động rất lớn đến chiến lược thiết kế

xây dựng nhà ở tại các KCN. Trong tương lai gần, việc hình thành nên gia đình của người lao động trẻ đều thuộc hai nhóm: Nhóm độc thân và nhóm gia đình hạt nhân một thế hệ. Không gian ở cũng phải được thiết kế sao cho linh hoạt, có thể thay đổi theo quá trình phát triển của gia đình người công nhân.

Thời gian tới, gia đình của họ sẽ trở thành gia đình phát triển, họ sinh con đẻ cái, không gian ở lại cần được mở rộng. Các công trình phục vụ công cộng như: nhà trẻ, mẫu giáo, trường học, bệnh viện... cần thiết phải được xây dựng để phục vụ cho người lao động và con em của họ.

2.4.3.2. Trình độ nghề nghiệp

Ngoài một số lượng ít là lao động có tay nghề, còn phần lớn trong các KCN là lao động phổ thông vừa học vừa làm. Tuy nhiên, họ luôn mong muốn học tập để nâng

cao trình độ tay nghề, mong gắn bó lâu dài với KCN.

Trình độ nghề nghiệp của lao động ảnh hưởng đến việc tổ chức khu ở, khu phục vụ công cộng gắn với KCN, với tay nghề cao người lao động sẽ có thu nhập kinh tế đủ điều kiện để sống trong không gian nhà ở tiện nghi và sử dụng các công trình phục vụ công cộng, người lao động có tay nghề thấp sẽ có điều kiện kinh tế khó khăn hơn và việc tổ chức nhà ở và công trình phục vụ công cộng cho họ là vấn đề cần quan tâm, ở đó phải sử dụng quỹ phúc lợi công cộng xã hội hỗ trợ cho người lao động có thu nhập thấp.

Lực lượng lao động tại các KCN ở Hà Nội đều có trình độ tay nghề cao, số công nhân kỹ thuật là 6500 người, lao động tay nghề bậc cao 1959 người, lao động phổ thông 4353 người, còn lại là trình độ cao đẳng, trung cấp, đại học và sau đại học. (bảng: 2.11)

Bảng 2.11: Trình độ lao động tại các KCN ở Hà Nội

Các KCN


Lao động chia theo trình độ (người)

Tiến sỹ

Thạc sỹ

Đại học

Cao đẳng

Trung học

CNKT

Tay nghề cao

Khác

Tổng

7

125

1648

314

778

6589

1959

4353

KCN Sóc Sơn

0

6

488

126

251

1279

558

313

KCN

Thăng Long



1

7

482

68

292

1124

333

1245

KCN

Sài Đồng B



6

112

678

120

235

4186

1068

2795

Nguồn: [78]

2.4.3.3. Mức thu nhập

Tuỳ theo mức độ thu nhập khác nhau của người lao động trong mỗi xí nghiệp công nghiệp cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ. Ta có thể chia mức độ thu nhập của người lao động thành hai nhóm như sau.



1./ Nhóm thứ nhất:

Nhóm lao động có mức lương thu nhập cao (nhóm này chiếm bình quân 25% tổng số lao động) Người lao động có thể mua những căn hộ ở trong các khu dân cư đô thị lân cận. Ở đây, khu ở có thể xa KCN, người lao động dùng các phương tiện công cộng hoặc tư nhân để đi lại, lúc này việc tác động ảnh hưởng đến mối quan hệ cũng đơn giản. Quỹ nhà ở và công trình phúc lợi công cộng trong các khu dân cư đô thị sẽ giúp các KCN về vấn đề giải quyết nhu cầu ăn, ở, nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hoá tinh thần của người lao động.



2./ Nhóm thứ hai:

Nhóm lao động có mức thu nhập trung bình và thấp (chiếm hơn 70% tổng số lao động) việc ăn, ở, đi lại của họ là một vấn đề khó khăn. Với tiền thuê nhà + tiền ăn chưa kể đến các chi tiêu hàng ngày cần thiết khác họ sẽ không có tích luỹ để tự mình mua nhà ở cũng như lo cho mình các phương tiện đi lại, phương tiện của họ chủ yếu là xe đạp và đi bộ nên không thể di chuyển trong khoảng cách xa từ nơi ở đến nơi làm việc được. Do đó, khu ở và công trình dịch vụ nhất thiết phải được xây dựng ở kề liền với KCN nhằm giảm thiểu thời gian đi lại và tăng quỹ thời gian nghỉ ngơi của người công nhân.



2.4.3.4. Lối sống, phong tục tập quán

Phần lớn số lao động trong các KCN là lao động đến từ các vùng nông thôn (theo số liệu điều tra, lao động ở tại địa bàn thành phố Hà Nội chỉ chiếm 25%, trong khi lao động nhập cư từ ngoài tỉnh chiếm 63-65%), do xuất thân từ nhiều vùng quê khác nhau nên họ có lối sống cũng như phong tục tập quán khác nhau, số lao động ở các KCN tại Hà Nội chủ yếu đến từ các vùng nông thôn như: Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh… Tuy nhiên họ đều mang đến lối sống nặng tính cộng đồng làng Việt, đó là cộng đồng của các mối quan hệ làng xã; coi trọng tình làng nghĩa xóm, coi trọng giao tiếp xã hội, tinh thần đoàn kết tương trợ lẫn nhau, hài hoà cởi mở, hiếu khách; họ sống tình cảm vị tha, trung thực, coi trọng lễ nghĩa, luôn đề cao đạo đức và nhân cách của con người Việt Nam.

Ngoài phong tục tập quán về lối sống, người lao động tại các khu công nghiệp còn thể hiện đức tính truyền thống cần cù chịu khó trong công việc và luôn tìm tòi phát huy sáng kiến kỹ thuật, cải tiến sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả lao động, người công nhân luôn có mong muốn được học tập để nâng cao trình độ và tay nghề bậc thợ, tất cả đều nói lên đức tính của con người mới của thời đại mới.

Từ nhận xét trên, có thể tìm ra những không gian nhà ở phù hợp với người công nhân các KCN, sao cho công năng và không gian nhà ở biểu đạt được lối sống mang đầy sắc thái văn hoá truyền thống của họ. Những không gian này phải được nghiên cứu cụ thể từ phòng ở bên trong mỗi căn hộ, không gian bếp nấu, không gian tắm rửa, vệ sinh cũng như các thiết bị sử dụng như thiết bị vệ sinh, thiết bị điện và các nguồn cung cấp thiết bị khác cho đến các không gian sảnh chung và không gian giao tiếp sinh hoạt cộng đồng của ngôi nhà ở.



2.4.3.5. Cấu trúc và quá trình phát triển gia đình

Đối tượng nhà ở phục vụ chính là gia đình, vì vậy không gian ở cần phải thoả mãn tốt nhất các yêu cầu về cấu trúc gia đình. Thành phần cấu trúc chủ yếu của gia đình tại các KCN đều có chung nghề nghiệp là công nhân lao động; học vấn có trình độ tương đương nhau; số lượng thành viên trong gia đình qua các giai đoạn cũng giống nhau; thế hệ lứa tuổi cũng tương đồng với nhau (đều ở độ tuổi có thể thành lập gia đình); tính chất đặc thù quan hệ gia đình cũng giống nhau. Vậy đối tượng phục vụ nhà ở đều có chung cơ cấu gia đình, giúp thuận lợi cho việc thiết kế nhà ở công nhân các KCN (quan niệm khi lập gia đình, hai vợ chồng người lao động có cùng nghề nghiệp làm công nhân, trường hợp hai vợ chồng khác nghề nhau chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong khu nhà ở công nhân).

Tỷ lệ gia đình của công nhân các KCN hiện nay tạm chia ra làm 2 loại gia đình: Gia đình nhỏ (một đến hai người chiếm 20%), gia đình trung bình (3-6 người). Quy mô nhân khẩu gia đình công nhân cũng chia thành 2 quy mô theo từng giai đoạn; Giai đoạn đầu sống độc thân (một đến hai người/gia đình), giai đoạn thứ 2 có một đến hai con (tạo thành gia đình 4-5 người/gia đình).

Tương lai sau này, khu nhà ở công nhân còn có loại gia đình lớn (gia đình 3 thế hệ 7- 8 người), loại gia đình này theo xu hướng phát triển phải được tách nhỏ ra thành các gia đình nhỏ khác.

Theo đặc thù phát triển và quan hệ giữa các thành viên thì gia đình người công

nhân trước mắt và tương lai gần (5-10 năm) chia ra làm 3 loại:



* Thứ nhất: công nhân độc thân sống tập thể hiện nay chiếm 60-70%, gồm 2-4 người trong một không gian ở (giai đoạn 1-5 năm đầu làm việc trong khu công nghiệp).

* Thứ hai: là gia đình hạt nhân một thế hệ hiện chiếm 10-20%, chỉ có một cặp vợ chồng (giai đoạn từ năm thứ 6 đến năm thứ 9 tiếp theo).

* Thứ ba: là gia đình hạt nhân hai thế hệ hiện chiếm dưới 10%, gồm bố mẹ và con cái (giai đoạn từ năm thứ 10 đến năm thứ 12 tiếp theo, loại gia đình này sẽ tăng lên

trở thành chủ đạo của tỷ lệ căn hộ ở).

Do quá trình phát triển của KCN và khu dân cư đô thị, khu ở cho người lao động đòi hỏi không chỉ phục vụ cho nhu cầu trước mắt mà phải tính đến thời gian lâu dài. Sự thay đổi nhân sự trong từng gia đình người lao động cũng là một yếu tố cần phải đề cập đến. Khi người công nhân mới đến lao động, họ phần lớn là độc thân, thường thuê nhà ở cùng với nhau, nhưng sau 5- 7 năm, họ phải xây dựng gia đình, họ lại cần có không gian riêng để đảm bảo cuộc sống gia đình mới. Sau 5-10 năm sau, khi con cái lớn, những người này cần nơi riêng tư để sinh hoạt khỏi ảnh hưởng đến gia đình. Sự vận động không ngừng của cơ cấu gia đình người lao động là yếu tố đặc trưng cho khu ở mới. (hình: 2.15)

2.4.3.6. Đặc thù nghề nghiệp với không gian nhà ở của công nhân

Do đặc thù lao động của người công nhân các KCN khác nhiều so với các loại hình lao động khác trong xã hội, cụ thể là người lao động trong các KCN phải thường xuyên làm việc 3 ca để đảm bảo hoạt động của thiết bị máy móc là liên tục cũng như đảm bảo sản phẩm theo hợp đồng của nhà máy, người lao động phải đi làm vào khoảng 9 giờ tối và về nhà vào 2-3 giờ sáng (trong khi các loại hình lao động khác như công chức chỉ làm việc ban ngày từ 8 giờ đến 17 giờ).

Với điều kiện làm việc và đi lại như vậy, người công nhân các KCN không những ảnh hưởng tới sức khoẻ (nếu môi trường lao động không thuận lợi cho làm việc ban đêm), ảnh hưởng an toàn đến tính mạng và nhân phẩm khi đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc (các tệ nạn, tiêu cực nảy sinh trên đường đi, trong khi phần lớn họ là nữ, còn trẻ tuổi!). Ngoài ra, còn ảnh hưởng cả đến không gian quy hoạch kiến trúc và không gian ở (ảnh hưởng đến giấc ngủ của người lao động khác khi họ đi làm và khi họ về vào ban đêm).

Do vậy, việc nghiên cứu thiết kế không gian chung riêng tư cho ngôi nhà, khu nhà ở cũng như không gian ở linh hoạt trong mỗi căn hộ; khoảng cách đi lại phù hợp với các điều kiện đảm bảo như đèn đường chiếu sáng, xe đưa đón công cộng, các trạm điện thoại tự động ứng cứu; môi trường lao động lành mạnh tại nơi sản xuất, tạo tinh thần làm việc của người lao động ban đêm thoải mái. Thiết kế các không gian nhà ở công nhân phù hợp chính là tạo điều kiện để mối quan hệ giữa khu ở và khu sản xuất trong các khu công nghiệp gắn kết với nhau, hỗ trợ nhau và nữa là tạo cho người công nhân sự tin tưởng, an tâm sản xuất làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội.



2.4.3.7. Yêu cầu về thiết kế, xây dựng nhà ở công nhân

Khi KCN cách xa các khu dân cư đô thị, lúc này quỹ nhà ở cũng như các công trình dịch vụ trong đô thị không giải quyết được nhu cầu của người công nhân, khi đó bên cạnh các KCN nên quy hoạch xây dựng các khu nhà ở cho công nhân, để phù hợp với yêu cầu thực tế, thiết kế nhà ở phải dựa vào các tiêu chuẩn Việt nam hiện hành về thiết kế và xây dựng nhà ở. Cần thiết phải kết hợp với các điều kiện cụ thể của người sử dụng như: nhu cầu sử dụng thực tế các công trình nhà ở gắn với các KCN đã xây dựng và kinh doanh thực nghiệm hiện nay, ngoài ra còn phải tính đến nhu cầu phát triển trong tương lai.

Nhà ở công nhân các KCN thuộc loại nhà ở phúc lợi xã hội kết hợp với kinh doanh lãi xuất thấp, do đó phải được xây dựng với việc lựa chọn loại vật liệu phù hợp, dùng vật liệu xây dựng chủ yếu là vật liệu được sản xuất trong nước, vật liệu này phải dễ thay thế và giá thành hạ để giá thuê nhà ở của người lao động thấp.

Nên sử dụng kết cấu xây dựng nhà ở bằng phương pháp lắp ghép thế hệ mới được chế tạo tại nhà máy như tấm tường 3D, tấm sàn, mái bằng lắp ghép blốc toàn khối hoá để lắp dựng nhà ở kiểu bán lắp ghép và thiết kế xây dựng điển hình hoá các loại nhà ở công nhân. Tuy nhiên, vật liệu xây dựng cũng như giải pháp kết cấu thi công nhà ở công nhân phải đảm bảo tuổi thọ công trình 70 năm.

Quan tâm đến giải pháp tổ chức cấp năng lượng cho nhà ở như điện, ga, khí đốt, nhiệt sưởi ấm về mùa Đông từ hệ thống phân phối trung tâm để giảm thất thoát lãng phí năng lượng. Hệ thống cấp nước sinh hoạt, cấp nước cứu hoả cũng phải quan tâm đúng mức (nhất là các khu nhà ở cao tầng). Trong các khu nhà ở, phải chú trọng việc thiết kế hệ thống phòng hoả theo tiêu chuẩn, ngoài hệ thống cầu thang phục vụ đi lại bắt buộc thiết kế tối thiểu 01 thang thoát hiểm, các thang thoát hiểm được chiếu sáng tự nhiên và có cửa ngăn lửa.

2.4.4. Nguyện vọng và nhu cầu về nhà ở và công trình công cộng của công nhân

2.4.4.1. Nguyện vọng và nhu cầu về xây dựng nhà ở

Để có cơ sở thực tế cho việc tổ chức quy hoạch xây dựng nhà ở và công trình

phục vụ công cộng cho công nhân KCN, tác giả đã điều tra xã hội về điều kiện nhà ở

hiện tại, điều kiện đi lại và nguyện vọng của công nhân KCN. Tổng số phiếu điều tra là 560 phiếu, nơi phát phiếu điều tra tại Công ty Canon và Công ty Sumitomo thuộc KCN Bắc Thăng Long, mẫu phiếu điều tra xem (phụ lục: 05), kết quả tổng kết điều tra theo (bảng: 2.12). Khi được hỏi về nguyện vọng có nên xây dựng nhà ở và công trình phục vụ công cộng gắn với KCN?. 100% số lao động ngoại tỉnh trả lời là mong muốn được các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê với giá rẻ gần với KCN để tiết kiệm thời gian đi lại và ổn định đời sống.



* Về hình thức xây dựng nhà ở:

Có 77% người được hỏi muốn được thuê nhà ở tập thể do nhà nước hoặc các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh với giá phù hợp với thu nhập của họ; 6% muốn mua trả góp; 2% muốn góp vốn cùng KCN xây dựng nhà ở và chỉ có 5% muốn tự mua lấy nhà ở. Vậy, phần lớn số công nhân trong giai đoạn hiện nay chỉ muốn được thuê nhà ở tập thể chứ không có điều kiện thu nhập để có thể mua nhà ở trong các khu đô thị hiện đại (nếu làm một phép tính đơn giản, sẽ thấy phải sau hơn 30 năm tích luỹ người lao động mới đủ tiền để mua một căn hộ với giá 700 triệu VNĐ trong các khu đô thị mới như hiện nay).



* Về kiểu loại nhà ở:

Tới 80% số người mong muốn được ở trong chung cư tập thể nhiều tầng, với lý do ngoài mức thuê nhà hợp lý thì nhà chung cư còn có ban quản lý điều hành, được sống an toàn trong môi trường tập thể; chỉ có 20% muốn được ở nhà khối ghép liền kề hoặc các loại hình nhà ở khác, vì loại nhà này thường là thấp tầng, có tiện nghi cao và chiếm diện tích đất trong đô thị, ngoài ra giá đầu tư xây dựng ban đầu lớn nên cuối cùng giá thuê cao.



* Về diện tích phòng và số người ở tập thể:

Số lao động muốn phòng ở có diện tích 20m2 dành cho hai người là 85%; số muốn ở một người/phòng 12-15m2 là 9%. Như vậy, nhu cầu trước mắt người lao động muốn ở tập thể để giảm bớt tiền thuê nhà. Nếu điều kiện có thể là hai người/phòng ở nhưng nếu không cho phép có thể ở từ 4-6 người/phòng ở khép kín.



2.4.4.2. Nguyện vọng về công trình dịch vụ công cộng gắn với KCN

Người lao động rất muốn có các công trình dịch vụ cần thiết nhất cho đời sống hàng ngày. Cụ thể là giai đoạn đầu xây dựng chợ, cửa hàng bách hoá tổng hợp, trạm y tế; giai đoạn thứ hai xây dựng trường học, nhà trẻ; giai đoạn thứ ba xây dựng các công trình nghỉ ngơi, vui chơi giải trí và thể thao. Có 82% muốn có chợ, siêu thị, bách hoá; 78% muốn có bệnh viện, phòng y tế; 60% số người mong muốn có trường học, nhà trẻ; về loại hình công trình như thư viện, phòng đọc sách (47%); công viên, vườn hoa (44%); công trình thể thao như bể bơi, sân thể dục thể thao (42%); công trình văn hoá như câu lạc bộ giải trí, nhà văn hoá (35%); rạp chiếu phim (30%). (bảng: 2.13)

Như vậy, các công trình dịch vụ phục vụ cho đời sống hàng ngày như chợ, siêu thị, cửa hàng bách hoá được người công nhân quan tâm nhất, sau đó đến bệnh viện và trường học, nhà trẻ, thư viện và cuối cùng mới là các công trình thể thao, công viên, vui chơi, giải trí. Công trình được người lao động muốn xây dựng ở vị trí trên đường từ nơi làm việc về nhà ở là chợ, siêu thị, thứ đến là vườn hoa, công viên và sân chơi thể thao. Các công trình công cộng lớn như nhà văn hoá, nhà hát, nhà thi đấu…là loại công trình phục vụ nhu cầu sinh hoạt theo tuần, tháng thì có thể sử dụng các công trình của thành phố.

2.4.4.3. Nguyện vọng về phương tiện đi lại của người lao động

Sử dụng phương tiện tự túc như xe đạp và đi bộ chiếm 39%; muốn sử dụng xe buýt công cộng 19%; mong muốn có xe nhà máy đưa đón chiếm 32%. Như vậy, người lao động vẫn muốn khoảng cách giữa nơi ở và nơi làm việc gần nhau để có thể đi bộ hoặc đi bằng xe đạp, nếu ở xa thì mong muốn có xe nhà máy đưa đón. Nguyện vọng về thời gian đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc trong thời gian 30 phút chiếm tới 76% số người được hỏi.



2.4.5. Kinh doanh và phát triển nhà ở cho người lao động trong nền kinh tế thị trường

Trong thời kỳ bao cấp, nhà ở công nhân chủ yếu được xây dựng do quỹ phúc lợi xã hội. Ngày nay, nền kinh tế thị trường làm ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề phát triển nhà ở cho người lao động các KCN, sự ảnh hưởng này chính là điều kiện kinh doanh và thu hồi vốn của các nhà đầu tư xây dựng nhà ở công nhân. Vấn đề này được phân tích ở hai yếu tố như sau:

Nếu số lượng công nhân tập trung đông, nhu cầu ở lớn, công nhân có thu nhập cao và ổn định tâm lý làm việc lâu dài cho KCN, việc xây dựng nhà ở và công trình phục vụ công cộng cho công nhân là thuận lợi, các doanh nghiệp đầu tư sẽ sẵn sàng đầu tư xây dựng nhà ở công nhân. Tuy nhiên, nếu không có chiến lược xây dựng quy hoạch khu ở từ trước thì việc tập trung đông công nhân lại là điều bất lợi, nó sẽ làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự và các vấn đề tiêu cực khác do chính quyền không quản lý được. Tạo điều kiện cho tư nhân xây nhà kém chất lượng cho thuê, các công trình dịch vụ không lành mạnh làm ảnh hưởng đến tâm lý và đời sống người lao động.

Ngược lại, số lượng công nhân thấp, tâm lý công nhân không ổn định làm việc do mức thu nhập thấp, sức thu hút đầu tư của KCN kém... lại là yếu tố cản trở cho vấn đề giải quyết nhà ở cho người lao động, không kêu gọi được vốn đầu tư xây dựng từ các doanh nghiệp. Lúc này, Ban quản lý KCN cần phải có trách nhiệm đứng ra kết hợp với chính quyền sở tại chăm lo tới nhà ở và công trình phục vụ công cộng cho người lao động từ quỹ phúc lợi công cộng và thu tiền thuê nhà/tháng của người công nhân. (hình: 2.16, 2.17)



Thành phố Hà Nội là nơi có đầy đủ điều kiện để các nhà đầu tư yên tâm xây dựng phát triển khu nhà ở và công trình phục vụ công cộng cho công nhân các KCN. Hiện nay số công nhân tập trung tại thành phố Hà Nội với lượng lớn, các KCN lại thuận lợi về vị trí, địa điểm, giao thông và phù hợp với hướng phát triển lâu dài nên khả năng đầu tư xây dựng phát triển khu nhà ở cho công nhân các KCN tại thành phố Hà Nội là rất hiệu quả.
2.5. NHỮNG CƠ SỞ PHÁP LÝ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG NHÀ Ở, PHỤC VỤ CÔNG CỘNG CHO CÔNG NHÂN CÁC KCN TẠI HÀ NỘI.

2.5.1. Quan điểm và mục tiêu phát triển nhà ở đô thị

Để chăm lo nhà ở cho người dân đô thị cũng như đảm bảo quá trình phát triển đô thị bền vững nước ta đã đưa ra năm quan điểm và mục tiêu phát triển nhà ở đô thị là:

1./ Quyền có chỗ ở là quyền cơ bản của người dân, được nhà nước công nhận và chăm lo thông qua các chính sách tạo điều kiện để nhân dân lập chỗ ở mới phù hợp với nhu cầu và khả năng của mình.

2./ Phát triển nhà ở là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy phải huy động mọi tiềm năng xã hội cùng với chính sách tạo điều kiện của Nhà nước để phát triển nhà ở.

3./ Nhà ở đô thị phải được đầu tư phát triển theo dự án để đảm bảo quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị.

4./ Nhà ở là loại hàng hoá đặc biệt, cần được nghiên cứu phát triển đa dạng, thị trường nhà đất là một trong những thị trường có vị trí quan trọng, cần được quản lý thống nhất trên cơ sở luật pháp và có sự điều tiết của Nhà nước.

5./ Thông qua cơ chế tạo điều kiện và chính sách điều tiết để từng bước giải quyết nhu cầu về nhà ở cho cán bộ công nhân viên, lực lượng vũ trang và người già, phấn đấu giảm khoảng cách chênh lệch quá lớn về nhà ở giữa các đối tượng.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương