Mục lục trang



tải về 3.28 Mb.
trang8/16
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích3.28 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   16

Tác động từ đô thị


2.4.2.1. Các nguồn lực từ đô thị

Bao gồm cung cấp lao động phổ thông, lao động dịch vụ, kỹ thuật viên, chuyên gia và các nhà quản lý; cung cấp hạ tầng xã hội, công trình phục vụ văn hoá, giáo dục, y tế, giải trí, khoa học kỹ thuật, cung cấp hạ tầng kỹ thuật, năng lượng, giao thông, thông tin liên lạc, ngân hàng. Thành phố Hà Nội là trung tâm văn hoá của cả nước, nơi tập trung nhiều trường đào tạo và dạy nghề, có thể cung cấp các nhà khoa học, các nhà chuyên gia, lao động kỹ thuật có tay nghề cao, lao động lành nghề và nhiều loại hình lao động dịch vụ khác.

2.4.2.2. Mối quan hệ giữa đô thị với khu ở, phục vụ công cộng gắn với KCN

Sự phát triển của khu ở, phục vụ công cộng gắn với KCN phải được đặt trong tổng thể quy hoạch phát triển của đô thị và sự phát triển của vùng. Mức độ ảnh hưởng của đô thị tới khu dân cư KCN phụ thuộc vào: khoảng cách của khu dân cư KCN tới đô thị hiện có; khả năng liên hệ thuận tiện giữa khu dân cư KCN và các khu đô thị; hướng phát triển của đô thị; số lượng dân cư và nhu cầu phục vụ của khu dân cư KCN.

Thực tế cho thấy, việc hình thành và phát triển KCN là động lực để hình thành khu dân cư KCN. Nếu KCN ở gần đô thị hiện hữu thì nên sử dụng hệ thống hạ tầng xã hội của đô thị phục vụ cho KCN, cụ thể là: nhà ở và các công trình phục vụ công cộng như nhà trẻ, trường học, bệnh viện, các công trình vui chơi giải trí và thể thao. Nếu KCN cách xa đô thị thì liên hợp các KCN hoặc các cụm công nghiệp gần nhau để phát triển khu dân cư gắn với KCN hoặc cụm công nghiệp đó, ví dụ: KCN Nam Thăng Long, KCN Bắc Thăng Long, KCN Đông Anh đều là những KCN cách xa đô thị, có thể xây dựng liên hợp khu nhà ở và các công trình phục vụ công cộng phục vụ cho các KCN này (nên bố trí khu ở và khu phục vụ công cộng tại khoảng giữa KCN Đông Anh và KCN Bắc Thăng Long).

Tuy nhiên, để tiết kiệm vốn đầu tư xây dựng cũng như phát triển đô thị hoá trong tương lai, khu dân cư mới này phải nằm trong tổng thể quy hoạch phát triển của đô thị, nó liên hệ gắn bó với đô thị, sử dụng chung một số công trình hạ tầng xã hội của đô thị. Đô thị cũng nhờ có khu dân cư mới này để mở rộng và phát triển trong tương lai. Như vậy, mối quan hệ giữa đô thị và khu dân cư gắn với KCN phải là một mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.


      1. Những yếu tố nội tại của lực lượng lao động trong các KCN

2.4.3.1. Độ tuổi và giới tính

Theo số liệu điều tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tuổi trung bình của công nhân các KCN còn rất trẻ, lao động độ tuổi từ 18-35 chiếm 90, độ tuổi 36 trở lên chỉ chiếm 10% tổng số lao động. Số lao động nữ đang trong thời kỳ sinh đẻ chiếm 71,91%. Nhóm lao động có gia đình chỉ mới chiếm 14,5%, trong đó nhóm lao động chưa lập gia đình gần 85,5%. Như vậy, cơ cấu độ tuổi lao động trong KCN còn phát triển và gắn bó lâu dài với KCN (hình: 2.13).

Độ tuổi lao động của các KCN tại Hà Nội cũng còn trẻ và số lao động nữ chiếm tỷ trọng cao, KCN Sài Đồng B là nơi có số lượng công nhân đông nhất và số lao động nữ cũng chiếm nhiều nhất. (hình: 2.14) (bảng: 2.10).



Bảng 2.10: Số lao động tại các KCN Hà Nội phân theo giới tính


Các KCN


Số lao động (người)

Tỷ lệ % so với Tổng

Tổng số

Giới tính


Nam

Nữ

Nam

Nữ

Tổng số

13.814

7.845

5.969

56.8

43.2

1. KCN Sóc Sơn

2463

1715

748

69.6

30.4

2. KCN Thăng Long

3219

1609

1610

50.0

50.0

3. KCN Sài Đồng B

8132

4521

3611

55.6

44.4



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương