Mục lục trang


Tác động từ sự hình thành và phát triển KCN



tải về 3.28 Mb.
trang7/16
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích3.28 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   16

Tác động từ sự hình thành và phát triển KCN

2.4.1.1 Vị trí, địa điểm KCN


KCN là nhân tố chủ yếu có ý nghĩa quyết định đến sự hình thành và phát triển đô thị. Bố trí KCN hợp lý sẽ góp phần quyết định quá trình phát triển đô thị một cách hài hoà, cân bằng. Một số giải pháp bố trí KCN trong đô thị như sau:

1./ KCN bố trí ven thành phố

Dùng cho KCN có quy mô chiếm đất trung bình lớn hoặc các các xí nghiệp có có độ gây độc hại thuộc nhóm I,II, ví dụ các KCN mới: KCN Sài Đồng B, KCN Sài Đồng A, KCN Hà Nội - Đài Tư là những KCN được bố trí ven thành phố Hà Nội (cách trung tâm 8 km) ít gây độc hại với môi trường nhưng lại có quy mô chiếm đất nhiều và số lượng công nhân đông (KCN Sài Đồng B chiếm 232 ha, KCN Sài Đồng A chiếm 420 ha); các KCN cũ: KCN Văn Điển - Cầu Bươu, KCN Chèm cũng bố trí ven trung tâm thành phố. Mặt khác, các KCN này được bố trí thuận lợi về giao thông vận chuyển và là nơi tiếp giáp với trục kinh tế phát triển Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, tiếp giáp với cửa ngõ thành phố từ hướng Nam và hướng Tây Bắc. Như vậy, địa điểm bố trí các KCN kể trên là thuận lợi và hợp lý.



2./ KCN nằm cạnh các khu ở hoặc xen kẽ với các khu ở

Sử dụng cho KCN có quy mô chiếm đất nhỏ và trung bình đến 200 ha, có mức độ độc hại từ cấp III đến cấp V, chủ yếu là các KCN cũ nằm đan xen trong đô thị như KCN Thượng Đình - Nguyễn Trãi, KCN Vĩnh Tuy - Minh Khai. Tuy nhiên, hệ thống dây chuyền của các KCN này đã xuống cấp và khi quy hoạch không tính đến quá trình phát triển khu dân cư đô thị nên hiện nay đang ảnh hưởng đến môi trường đô thị.



3./ KCN nằm tách biệt ngoài đô thị

Là các KCN do yêu cầu về hoạt động sản xuất, về vận chuyển…chúng có thể phụ thuộc vào đô thị hiện hữu hoặc phát triển thành một khu độc lập gồm ở và phục vụ công cộng riêng biệt, là tiền đề để hình thành nên đô thị mới. Thành phố Hà Nội có 04 KCN nằm cách xa trung tâm từ 12- 45 km, đó là KCN Nam Thăng Long (cách 12 km), KCN Bắc Thăng Long (cách 20 km), KCN Đông Anh (cách 30 km), KCN Nội Bài (cách trung tâm 45 km), các KCN này được phân bố nhằm phát triển kinh tế địa phương và làm cơ sở để phát triển đô thị hoá các khu vực còn kém phát triển. (hình: 2.11, 2.12)



2.4.1.2 Quy mô KCN:

Để xác định quy mô KCN, có thể tham khảo một số phương pháp như sau:



1./ Theo quy mô và ngành nghề sản xuất

Việc xác định diện tích quy mô KCN dựa trên tiêu chuẩn các dự án thành phần của KCN và theo kinh nghiệm xây dựng và phát triển các KCN. Với KCN có ngành sản xuất đòi hỏi quy mô chiếm đất lớn như luyện kim, khai khoáng, lọc hoá dầu… diện tích thường có quy mô từ 600 ha đến hàng ngàn ha. Các KCN ngành sản xuất công nghiệp nhẹ: như cơ khí lắp ráp, điện tử, dệt may, giày, chế biến thường có diện tích từ 100-200 ha, một số ngành sản xuất khác có quy mô từ 300-500 ha.

Các KCN tại Hà Nội chủ yếu là công nghiệp nhẹ nên diện tích lựa chọn bình quân từ 50- 400 ha (KCN Hà Nội - Đài Tư có diện tích nhỏ nhất: 40 ha; KCN Sài Đồng A - Gia Lâm lớn nhất: 420 ha). Tuy nhiên, quá trình phát triển mở rộng về dây chuyền công nghệ cũng như số lượng sản phẩm sẽ làm thay đổi quy mô này. Với KCN có quy mô sản xuất lớn, nghĩa là có công suất (số lượng sản phẩm/nhu cầu diện tích) lớn, quy mô diện tích có thể tăng lên nhiều hơn.

Với quy mô sản xuất nhỏ và trung bình từ 100-500 ha sẽ phù hợp với điều kiện phát triển của nước ta vì có nhiều ưu điểm trong quản lý, vận hành, đầu tư vốn và nhân công hiệu quả cao, có khả năng mở rộng sự phân bố KCN trên diện rộng, đảm bảo khai thác nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm, thời gian xây dựng ngắn và hoàn vốn đầu tư nhanh. (bảng: 2.6)



Bảng 2.6: Diện tích đất KCN theo nhóm ngành (Pháp)

Thứ tự

LOẠI CÔNG NGHIỆP

Diện tích KCN tính cho 1000 công nhân (ha)

1

Công nghiệp nhẹ

4,0

2

Công nghiệp trung bình

6,6

3

Công nghiệp nặng

20,0

Nguồn: [96]
2./ Quy mô KCN theo số lượng công nhân

Căn cứ vào tỷ lệ công nhân trên số lao động của thành phố; vào số công nhân KCN trên số lao động công nghiệp; tỷ lệ công nhân /diện tích nhà máy và tỷ lệ công nhân/diện tích KCN. Theo A.J.Khorkhot (Nga) đưa ra chỉ tiêu trung bình từ 100-150 lao động/ha đất KCN.

Trong đó, hiện nay ở thành phố Hà Nội cũng như toàn quốc thường xây dựng các công nghiệp nhẹ với quy mô diện tích KCN trung bình 150ha [68]. Số lao động trung bình cho mỗi KCN từ 10.000 đến 15.000 người (bảng: 2.7).

Như vậy, từ các số liệu so sánh ở trên, có thể lựa chọn số lượng lao động cho một ha đất công nghiệp tại Hà Nội trung bình là 100 - 150 lao động/ha đất KCN.



Bảng 2.7: Hệ số chiếm đất của KCN tính cho một công nhân

TT

Ngành công nghiệp

Diện tích trung bình của nhà máy tính cho 1000 công nhân (ha)

Diện tích KCN tính cho 1000 công nhân (ha)

1

Luyện kim

26,6

53,4

2

Than

16,5

27,5

3

Hoá chất

23,4

39,0

4

CN xây dựng

12,5

21,0

5

Chế tạo máy

6,9

10,0

6

Công nghiệp nhẹ

3,9

5,6

7

CN thực phẩm

10,8

13,3

Nguồn: [96]
3./ Quy mô KCN theo dân số đô thị

Là phương pháp ước tính diện tích đất KCN, trong thực tế nó phụ thuộc vào chức năng, đặc điểm của mỗi thành phố, nhịp độ phát triển công nghiệp nhiều hay ít. Để tính đất xây dựng KCN cho một cư dân thành phố, một số tác giả đưa ra các chỉ tiêu sau:

Lewczenko 10 m2/ người dân.

Stanislaw Marzyns ki 15-25m2/người dân.

Jan Stulinski 30 m2/người dân.

Wladyslaw Czarneski 20-35m2/người dân.

Vương Quốc Anh 25 m2/người dân.

Thái Lan 20-25m2/người dân.

Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 4449-87): đối với đô thị lớn và rất lớn lấy diện tích đất KCN từ 15-20m2/người, đô thị trung bình lấy 10-15m2/người và đô thị loại nhỏ từ 5-10 m2.

Quy mô KCN ảnh hưởng tới việc quy hoạch và xây dựng hạ tầng xã hội phục vụ cho KCN đó. Trong đó, quy mô KCN xác định theo số lượng công nhân tác động đến khu nhà ở và công trình phục vụ công cộng thông qua việc lập quy hoạch, xây dựng lượng nhà ở và các công trình nghỉ ngơi đáp ứng cho số lượng đông của công nhân.

Quy mô KCN xác định theo quy mô sản xuất cũng ảnh hưởng đến khu nhà ở và công trình nghỉ ngơi của công nhân; nếu quy mô sản xuất lớn sử dụng nhiều lao động thì việc tổ chức quy hoạch khác với quy mô sản xuất vừa và nhỏ. Với KCN chiếm đất lớn, có quy mô sản xuất lớn, mức độ sử dụng lao động đông thì gắn với KCN này phải tổ chức khu nhà ở kết hợp với các công trình phục vụ công cộng và nghỉ ngơi để tạo thành một tổ hợp dân cư KCN với đầy đủ chức năng như một đô thị vệ tinh của các đô thị khác.

Với các KCN chiếm đất vừa và nhỏ thì tuỳ theo thực tế để tổ chức khu dân cư gắn với KCN cho hợp lý; có thể liên hợp các KCN ở gần nhau trong cùng địa phương để tổ chức quy hoạch một khu dân cư với đầy đủ điều kiện sinh hoạt phục vụ cho nhóm KCN hoặc cụm công nghiệp nhằm tiết kiệm kinh phí đầu tư xây dựng cũng như quản lý, kinh doanh.

Tuy nhiên, với các KCN có quy mô chiếm đất không lớn nhưng cách xa các khu đô thị thì việc tổ chức khu nhà ở công nhân kết hợp với các công trình phục vụ văn hoá, nghỉ ngơi gắn với KCN là cần thiết.

2.4.1.3 Đặc điểm cơ cấu ngành sản xuất

Cơ cấu ngành sản xuất của KCN sẽ có ảnh hưởng lớn tới môi trường của đô thị, khi bố trí các KCN cần xem xét đến mức độ độc hại của ngành sản xuất để chọn lựa khoảng cách ly với khu dân cư cho phù hợp (bảng: 2.8). Hiện nay, phát triển công nghiệp tại thành phố Hà Nội thường sử dụng công nghệ tiên tiến, các giải pháp xử lý chất thải hiệu quả, phần lớn là công nghiệp sạch và công nghiệp nhẹ nên các mức độ cách ly so với khu dân cư cũng linh hoạt hơn, ta có thể bố trí bên cạnh các khu dân cư. Ở các nước có nền công nghiệp này phát triển có thể bố trí xen kẽ với khu ở hoặc kề liền khu ở, ví dụ như công nghiệp sản xuất linh kiện và lắp ráp điện tử, công nghệ phần mềm máy tính, dệt, may mặc.



Bảng 2.8: Cấp độc hại của KCN và khoảng cách ly so với khu dân cư



Thứ tự

Mức độ độc hại của KCN

Yêu cầu khoảng cách ly tối thiểu

1

Cấp I

1000 m

2

Cấp II

500 m

3

Cấp III

300 m

4

Cấp IV

100 m

5

Cấp V

50 m

Nguồn: [96]

Ngoài mức độ độc hại thì tiếng ồn do đặc điểm cơ cấu ngành công nghiệp cũng tác động ảnh hưởng đến môi trường đô thị, ảnh hưởng đến việc tổ chức quy hoạch khu ở và khu phục vụ công cộng cho công nhân gắn với KCN. Để hạn chế tác động này, khoảng cách ly được xác định theo mức ồn gây ra và yêu cầu yên tĩnh của khu vực cần bảo vệ. (bảng: 2.9)



Bảng 2.9: Mức ồn của KCN và khoảng cách ly so với khu dân cư

Thứ tự

Cường độ tiếng ồn (db)

Yêu cầu khoảng cách ly (m)

1

140-120

1000-500

2

120-100

500-300

3

100-90

300-150

4

90-80

150-100

5

80-70

100-50

6

70-60

50-20

Nguồn: [96]
2.4.1.4 Nhu cầu phục vụ sản xuất và dịch vụ công nghiệp

KCN hình thành và phát triển sẽ là động lực để phát triển các loại hình phục vụ như: phục vụ cho sản xuất và dịch vụ phục vụ cho người lao động, những dịch vụ này tạo việc làm cho lực lượng lao động gián tiếp KCN, thay đổi dần cơ cấu sản xuất nông nghiệp của các khu (vùng) trong đô thị. Loại phục vụ sản xuất của KCN lớn thường có các cơ sở công nghiệp nhỏ, tổ hợp sản xuất, tiểu thủ công nghiệp chuyên sản xuất và cung cấp các linh kiện hoặc chi tiết máy, bao bì, xử lý phế phẩm, dịch vụ vận tải… Loại dịch vụ phục vụ cho người lao động gồm tất cả các dịch vụ phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người như dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, giao tiếp, học tập, đi lại, khám chữa bệnh.





      1. Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương