Mục lục trang



tải về 3.28 Mb.
trang6/16
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích3.28 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16

2.3. CÁC CƠ SỞ CHUNG QUYẾT ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG Ở, PHỤC VỤ CÔNG CỘNG VÀ SẢN XUẤT GẮN VỚI KCN Ở HÀ NỘI

2.3.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Hà Nội là thủ đô Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, là cố đô Thăng Long, đến 2010 Hà Nội kỷ niệm 1000 năm tuổi. là trung tâm chính trị, văn hoá giáo dục, khoa học kỹ thuật đồng thời là một trung tâm lớn về kinh tế, một trung tâm giao dịch quốc tế lớn của cả nước. (hình: 2.10)

1./ Vị trí địa lý

Hà Nội có vị trí địa lý kinh tế - chính trị quan trọng vào bậc nhất trong cả nước. Nằm ở 1050 87độ kinh đông, 210 05độ vĩ bắc, tính từ đỉnh châu thổ sông Hồng hình tam giác với ngã ba sông Hồng - sông Đà. Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên; Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Hà Bắc; Tây Nam giáp tỉnh Hà Tây; Đông Nam giáp tỉnh Hưng Yên. Địa hình thành phố thấp dần theo hướng Bắc Nam và chia thành 3 vùng đặc trưng: Vùng cao gồm huyện Sóc Sơn tiếp giáp dãy núi Tam Đảo, có độ cao trung bình 8-12m; vùng trung bình gồm các các huyện Đông Anh, Long Biên, Từ Liêm và nội thành có độ cao trung bình từ 5-10m; vùng thấp là huyện Thanh Trì có độ cao trung bình là 3-4m.

2./ Đất đai và dân số

Thành phố Hà Nội có 9 quận, 5 huyện

Diện tích tự nhiên : 920,57 km2

Dân số : 2.672.122 người (số liệu 1/4/1999)

Trong đó dân số nội thành là : 1.538.905 người.

ngoại thành là : 1.133.217 người.

Mật độ dân số : 2.909 người/km2

Nơi có mật độ dân cư đông nhất là quận Hoàn Kiếm, thấp nhất là huyện Sóc Sơn. Dự báo đến năm 2010 dân số Hà Nội vào khoảng 3,1 triệu người, đến năm 2020 khoảng 4,5 triệu - 5 triệu người; trong đó quy mô dân số nội thành của Thành phố Hà Nội trung tâm là 2,5 triệu người và quy mô dân số các đô thị xung quanh khoảng 2 đến 2,5 triệu.

3./ Thuỷ Văn

Hà Nội có hai con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Đuống, ngoài ra còn có các sông nhỏ như sông Sét, sông Cà Lồ, sông Nhuệ, sông Kim Ngưu... Hà Nội có 17 hồ lớn nhỏ, lớn nhất là hồ Tây. Nguồn nước sông Hồng, sông Đuống chở đầy phù sa, có đê bao chống lũ lụt với chiều dài 151,3km.

Sau khi nhà máy thuỷ điện Hoà Bình đi vào hoạt động, mực nước sông Hồng, sông Đuống thay đổi rõ rệt. Về mùa lũ nước sông giảm 1-1,5m, về mùa khô lưu lượng dòng chảy có thể tăng thêm từ 165-185m3. Nguồn nước mạch và nước ngầm của Hà Nội khá dồi dào, có thể khai thác nước ngầm khoảng 1 triệu m3/ngày đêm, chất lượng nước ngầm tốt đảm bảo đủ nước cho sinh hoạt và công nghiệp.

4./ Khí hậu và thời tiết

Hà Nội có khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 thường có bão; mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau thường có những đợt rét gió mùa Đông Bắc, có mưa nhỏ xen giữa 2 mùa. Hà Nội có mùa thu và mùa Xuân tiết trời mát mẻ. Nhiệt độ trung bình năm 23,60C, thấp nhất 40C, cao nhất là 39,40C, biên độ ngày của nhiệt độ là 6,10C. Lượng mưa bình quân trong năm là 141 ngày, ngày mưa lớn nhất là 100mm. Gió chủ yếu theo mùa: mùa đông có gió bắc khô lạnh, mùa hè có gió Đông Nam mát kèm theo mưa. Một năm bình quân có 22 đợt gió mùa, tốc độ gió trung bình từ 1,5-2,5m/s (cao nhất 34m/s chu kỳ 20 năm). Độ ẩm không khí trung bình 82%.

2.3.2. Đặc điểm văn hoá và truyền thống

Năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Thiên năm đầu (năm 1010), Lý Công Uẩn tức vua Lý Thái Tổ, vị vua sáng lập ra triều Lý đã đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của thành Đại La đối với vận mệnh của đất nước. Chiếu dời đô còn ghi rõ: Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng; muôn vật cũng rất phong phú, tốt tươi. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”. Vua Lý Thái Tổ đã rất sáng suốt thấy được những điều kiện thuận lợi về thiên nhiên, địa hình cũng như các mặt về kinh tế - chính trị, văn hoá xã hội của miền Hà nội lúc ấy, nhà vua dời đô tới và đặt tên là Thăng Long. Đất Thăng Long nằm giữa vùng đồng bằng đông đúc dân cư trù phú lại ở vào vị trí giao thông trọng yếu, nhất là đường sông, thuyền bè có thể xuôi ngược khắp đất Kinh Kỳ và theo sông Hồng toả đi khắp mọi miền đất nước. Đó là nơi quy tụ và toả rộng của mạng lưới giao thông, vị trí “ ở vào nơi trung tâm trời đất; được cái thế rồng cuộn hổ ngồi. Đã trúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sông dựa núi".

Nền văn hoá Đại việt được phát huy và phát triển, trung tâm giáo dục văn hoá đầu tiên được thành lập ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám vào năm 1070. Đây là việc đặt nền tảng cho sự ra đời và phát triển của nền giáo dục bậc đại học truyền thống ngàn đời của nước ta.

Kinh thành Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công, tụ hội thành các phường thủ công, nhất là khu Đông khu Tây của thành Thăng Long. Đó là các nghề dệt nhuộm, gốm, sứ, giấy, nghề làm đồ trang sức mỹ nghệ, nghề đúc đồng, rèn sắt, nghề mộc... “ khéo tay hay nghề, đất lề kẻ chợ” là câu ngạn ngữ quen thuộc ca ngợi tài hoa của những người thợ thủ công đât kinh thành. Ngày nay, thành phố Hà Nội đang chuyển biến mạnh mẽ trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Quá trình này đã tác động toàn diện tới bộ mặt kinh tế - văn hoá xã hội của thủ đô, tạo nên sự thay đổi trong đời sống, trong định hướng giá trị văn hoá và mô hình ứng xử của cộng đồng dân cư đô thị.

Hà Nội vốn là thủ đô văn hiến, là biểu tượng của nền văn hoá lâu đời. Người Hà Nội với những nét thanh lịch trong giao tiếp, văn hoá trong ẩm thực. Tính văn hoá truyền thống của người Hà Nội còn thể hiện ở tập quán quan hệ giữa con người với con người, tình cảm láng giềng, tính cộng đồng, tình cảm gia đình vẫn in đậm trong lối sống của người dân, ở tập quán quan hệ giữa con người với lao động.

Người Hà Nội vốn yêu lao động, cần cù chịu khó làm việc là thói quen và là bản chất của người Việt. Cũng như tập quán sinh hoạt ăn, uống, ngủ nghỉ, người Hà Nội thường rất sành về những món ẩm thực truyền thống, sinh hoạt ăn uống là một tập quán văn hoá rất đặc trưng của Hà Nội.

Trong tập quán nhu cầu sinh hoạt văn hoá - tinh thần, từ xưa thành Thăng Long đã chú trọng đến xây dựng chùa chiền, miếu mạo, danh lam thắng cảnh để nhân dân bốn phương chiêm ngưỡng. Sinh hoạt tâm linh cũng như tín ngưỡng của người hà thành, người dân hoạt động văn hoá - tinh thần theo tầng bậc của xã hội.

Về văn hoá dân gian, người Hà Nội xưa và nay đều chú trọng đến phát triển văn hoá truyền thống như âm nhạc, thơ ca, hội hoạ...

2.3.3. Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội

Thủ đô Hà Nội đang và sẽ giữ vai trò lớn trong công cuộc hưng thịnh đất nước, giữ vị trí tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đối với cả nước nói chung và đối với miền Bắc nói riêng. Việc định hướng chiến lược kinh tế Hà Nội phải có tầm nhìn xa, luôn hướng tới một thủ đô văn minh hiện đại, đậm đà bản sắc, trên quan điểm kế thừa có chọn lọc tinh hoa.



Hà Nội phải giữ được giá trị độc đáo về thành phố môi trường - văn hoá và thành phố hoà bình cho nhân dân cả nước và đông đảo nhân dân thế giới. Phát triển Hà Nội đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với cả nước và vùng bắc bộ, có tính tới quan hệ hợp tác và cạnh tranh quốc tế, nhất là các nước trong khu vực.

Phát triển kinh tế song song với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, lấy hiệu quả kinh tế kết hợp với đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội làm tiêu chuẩn. Hiện đại hoá kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Khuyến khích đẩy mạnh nên công nghiệp thủ đô, hướng cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu trên nền tảng công nghệ tiên tiến và đa dạng các thành phần kinh tế. Từ đó giữ vai trò động lực thúc đẩy quá trình phát triển của địa bàn trọng điểm Bắc bộ cũng như đối với cả nước.

Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thủ đô Hà Nội đến năm 2010 như sau:

+ Tăng tổng GDP lên 4 lần ở giai đoạn 2001-2010. Giành khoảng 21% GDP để tích luỹ đầu tư và tăng mức đóng góp cho ngân sách nhà nước 3-4 lần so với hiện nay.

+ Nâng tỷ lệ GDP/người so với mức trung bình của địa bàn trọng điểm Bắc bộ từ 1,6 lần hiện nay lên hơn 3 lần vào năm 2010.

+ Đạt nhịp độ tăng trưởng GDP khoảng 15% ở giai đoạn 2001-2010, GDP/người đạt khoảng 4.900 USD, bằng khoảng 2,4 lần so với mức trung bình của địa bàn trọng điểm Bắc bộ, góp phần quyết định để đảm bảo có được nhịp độ tăng trưởng GDP của địa bàn trọng điểm Bắc bộ khoảng 12%/năm. (bảng: 2.1)

+ Đạt nhịp độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu khoảng 20-25%/năm để đến 2010 góp phần tạo nên nền kinh tế khoảng 50-60% so GDP. (bảng: 2.2)

Bảng 2.1: Khả năng phát triển kinh tế của Hà Nội

(Đơn vị:%)

Ngành

Cơ cấu kinh tế

Nhịp độ bình quân/năm

1992

2000

2010

1991-2000

2001-2010




I

II

I

II

I

II

I

II

Toàn bộ nền K.tế

100

100

100

100

100

13,4

14,0

15,0

16,0

Công nghiệp XD

28,5

31,0

32,0

32,0

32,5

14,1

15,0

15,3

15,3

Nông lâm nghiệp

6,5

3,3

3,0

1,4

1,3

5,0

5,5

5,5

6,5

Dịch vụ

65,0

65,7

65,0

66,6

66,2

13,7

14,0

15,0

16,8

Nguồn: [113]

Bảng 2.2: Nền kinh tế Hà Nội vào năm mốc 2010

TT

Ngành

Đơn vị tính

2000

2010

1

GDP

Tỷ đồng

6142

24.568

Khu vực đô thị

Tỷ đồng

5405

22.110

% so tổng số

%

88

90

2

GDP/người

1000đ. giá 1989

2642

9449




USD

1382

4942

Nguồn: [113]
2.3.4. Xu hướng phát triển đô thị.

Nhiệm vụ quy hoạch phát triển chung thủ đô Hà Nội đến năm 2020 phải đạt được mục tiêu: xác định vai trò đặc biệt của thủ đô trong định hướng quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam, phù hợp với chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; xây dựng thủ đô trở thành một thành phố vừa dân tộc, vừa hiện đại, đậm đà bản sắc và truyền thống ngàn năm văn hiến, là trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước; có vị thế xứng đáng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.

Cơ cấu quy hoạch không gian bao gồm thành phố Hà Nội làm trung tâm, các đô thị vệ tinh là các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hưng Yên với bán kính ảnh hưởng từ 30 - 50 km. Hướng phát triển lâu dài của thành phố Hà nội chủ yếu về hướng Tây, hình thành chuỗi đô thị Miếu Môn - Xuân Mai - Hoà lạc - Sơn Tây; phía bắc là cụm đô thị Sóc Sơn - Xuân Hoà - Đại Lải - Phúc Yên. Trước mắt mở rộng thành phố về phía Tây Bắc, Tây Nam và phía Bắc; ưu tiên đầu tư phát triển khu vực phía Bắc sông Hồng, hình thành một Hà Nội mới, gồm các khu vực Bắc Thăng Long - Vân Trì, Đông Anh - Cổ Loa, Gia Lâm - Sài Đồng - Yên Viên và tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư phát triển khu vực Nam Thăng Long.

Các khu dân cư bao gồm khu hạn chế phát triển, giới hạn từ vành đai 2 (Vĩnh Tuy - Ngã Tư Vọng - Ngã Tư Sở - Cầu Giấy - Nhật Tân) trở vào trung tâm. Về lâu dài khống chế quy mô dân số khoảng 0,8 triệu người; các khu phát triển chủ yếu nằm ven đô ngoài vành đai 2, có quy mô dân số ở phía Nam sông Hồng khoảng 0,7 triệu người và ở phía Bắc sông Hồng khoảng 1 triệu người.

Chỉ tiêu sử dụng đất đô thị bình quân là 100 m2/người, trong đó phải bảo đảm chỉ tiêu đất giao thông là 25 m2/người; chỉ tiêu cây xanh, công viên, thể thao là 18 m2/người và chỉ tiêu đất xây dựng các công trình phục vụ phúc lợi công cộng là 5 m2/người.

Các khu công nghiệp hiện có được cải tạo mở rộng, sắp xếp lại phù hợp với quy hoạch thành phố; đồng thời phát triển các khu công nghiệp mới như Sóc Sơn, Bắc Thăng Long, Nam Thăng Long, Sài Đồng A và B, Đông Anh... diện tích dành cho xây dựng các khu công nghiệp khoảng 3.000 ha.

2.3.5. Nhiệm vụ phát triển công nghiệp

Hà nội là địa bàn tập trung công nghiệp vào loại nhất nhì cả nước, tài sản cố định của công nghiệp thành phố chiếm 1/3 tài sản cố định của vùng bắc bộ, 2/3 của Đồng bằng sông Hồng và 1/2 của địa bàn trọng điểm Băc bộ. Trong tương lai, công nghiệp Hà Nội vẫn giữ vị trí then chốt của nền kinh tế và đóng vai trò động lực của quá trình công nghiệp hoá vùng của Bắc bộ và cả nước. Phương hướng, mục tiêu của phát triển cơ bản của công nghiệp Hà Nội cụ thể như sau:

Phát triển với tốc độ nhanh, đạt hiệu quả cao trên cơ sở cải tiến cơ cấu sản xuất với phương châm ưu tiên những ngành đòi hỏi kỹ thuật tiên tiến, lao động ngành nghề, chứa đựng những hàm lượng chất xám cao và hiện đại hoá kỹ thuật, công nghệ trong trong mối quan hệ cạnh tranh, thích ứng nhanh với thị trường và bảo đảm vệ sinh môi trường sinh thái.

Đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm hàng hoá có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thay thế nhập khẩu, tăng cường sản xuất mặt hàng xuất khẩu, đa dạng hoá các thành phần kinh tế và hợp tác với nước ngoài, phát triển quy mô khu công nghiệp vừa và nhỏ, chiếm ít đất.

Công nghiệp hoá và hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài để xây dựng nền kinh tế mới. Hướng mạnh vào xuất khẩu đồng thời từng bước sản xuất hàng hoá thay thế hàng nhập khẩu.

Tăng trưởng kinh tế gắn liền với cải thiện đời sống phát triển văn hoá xã hội và bảo vệ môi trường. Phát triển khoa học công nghệ, gắn công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại. Gắn phát triển công nghiệp với xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng đô thị.

Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp mới, hiện đại (điện tử, thông tin viễn thông, vật liệu mới, công nghệ sinh học...) và các ngành then chốt như: cơ - kim khí, dệt - da - may, chế biến lương thực, thực phẩm... và một số ngành công nghiệp khác sử dụng nhiều lao động với kỹ thuật cao và công nghệ sạch.

Mục tiêu chủ yếu:

Tăng tỷ lệ trong tổng GDP từ 28-29% hiện nay lên khoảng hơn 32% vào năm 2010. Giá trị gia tăng đạt nhịp độ tăng trưởng khoảng 15-16% ở giai đoạn 2001-2010. Thu hút khoảng trên 30% lao động xã hội và tăng phần đóng góp vào tổng thu ngân sách của thành phố. (bảng: 2.3)
Bảng 2.3: Dự báo phát triển cơ cấu và nhịp độ tăng trưởng của CN

(Đơn vị: %)

Ngành

Cơ cấu kinh tế

Nhịp độ bình

Quân năm (%)

1990

2000

2010

1991-2000

2001-2010

Toàn ngành

100

100

100

14,1

15,3

Các nhóm ngành then chốt

65,8

78,4

85,6

16,0

16,3

Cơ khí và đồ điện

22,8

28,0

30,2

16,5

16,6

Dệt, may, da

22,4

26,1

28,7

15,9

16,4

Lương thực, thực phẩm

15,7

18,0

18,6

15,6

15,7

Công nghiệp điện tử

4,9

6,3

8,1

17,0

18,2

Nguồn: [113]
Để đạt được phương hướng và mục tiêu nêu trên cần nhanh chóng hình thành các nhóm ngành then chốt. Tỷ trọng của chúng ngày càng tăng từ 65,8% năm 1990 lên 78% năm 2000 và 85% năm 2010. Các nhóm ngành này được sắp xếp theo thứ tự như sau:

Nhóm ngành cơ khí và đồ điện: nhóm ngành công nghiệp này đang giữ vị trí hàng đầu trong nền công nghiệp của cả nước. Hiện mới chiếm 23% GDP công nghiệp của thành phố, thu hút 3,8 vạn lao động. Nhìn chung trang thiết bị đều thuộc thế hệ cũ, lạc hậu, không đồng bộ, hư hỏng nhiều, tính năng công nghệ đạt thấp, hệ số sử dụng vật liệu chỉ đạt 58% (thế giới đạt trung bình 70%), phế phẩm lên đến 20%.

Nhóm ngành dệt, may, da: nhóm ngành này đóng góp khoảng 22% tổng GDP của toàn ngành công nghiệp, giải quyết việc làm cho hơn 5 vạn lao động, riêng công nghiệp dệt thu hút 3,6 vạn lao động. Nhìn chung mức độ đổi mới thiết bị còn thấp, đạt khoảng 44%. Kế hoạch phấn đấu gia tăng giá trị so với năm 2000 là 4,5 lần vào năm 2010. Phát triển mạnh ngành dệt kim, sản xuất hàng may sẵn, gia công may cho xuất khẩu. Bên cạnh thay đổi kỹ thuật và công nghệ tiên tiến đối với dây chuyền sản xuất, phát triển thiết bị vi tính để thiết kế mẫu và nâng cao chất lượng sản phẩm.

Nhóm ngành chế biến lương thực, thực phẩm: Ngành công nghiệp thực phẩm đã và đang giữ vị trí quan trọng, hiện đóng góp khoảng 15-16% tổng giá trị gia tăng của ngành công nghiệp và thu hút gần nửa vạn lao động. Trong những năm tới công nghiệp thực phẩm sẽ được phát triển mạnh hơn nữa theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã đẹp, giá thành hạ, kết hợp đầu tư chiều sâu và xây dựng mới để gia tăng sản xuất. Phấn đấu đạt nhịp độ tăng trưởng trung bình năm khoảng 15-16% và thu hút thêm vài nghìn lao động.

Nhóm ngành công nghiệp điện tử: Nhóm ngành này có ảnh hưởng rất lớn tới việc hiện đại hoá toàn ngành công nghiệp thủ đô. Hiện nay Hà Nội có 18 đơn vị lắp ráp và sản xuất sản phẩm điện tử, thu hút hơn 2 nghìn lao động và có tổng doanh thu khoảng 120 tỷ đồng. Trong tương lai, Hà Nội sẽ là nơi đi đầu trong ngành công nghiệp điện tử, nhanh chóng mở rộng quy mô sản xuất các mặt hàng điện tử dân dụng và điện tử phục vụ sản xuất, hợp tác với các tập đoàn điện tử hàng đầu thế giới để nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến.

Phối hợp chặt chẽ với các ngành công nghiệp khác để khai thác các tiềm năng và lợi thế của thành phố Hà Nội, góp phần thực hiện vai trò động lực của trung tâm công nghiệp lớn của đất nước.

2.3.6. Tiềm lực lao động, khoa học kỹ thuật

Thành phố Hà Nội hiện có 37 trường đại học và cao đẳng, 34 trường trung học chuyên nghiệp, 41 trường dạy nghề và 112 viện nghiên cứu chuyên ngành là một điều kiện thuận lợi đáp ứng cho nhu cầu nâng cao trình độ của người dân và yêu cầu đào tạo của Hà Nội khi cần thiết. Với đông đảo các trường đào tạo dạy nghề với đội ngũ cán bộ có năng lực như vậy sẽ bổ xung cho lực lượng lao động có tay nghề cao thay thế dần lao động phổ thông hiện nay tại các 0KCN ở Hà Nội. Lực lượng cán bộ khoa học ở Hà nội không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển khoa học kỹ thuật ở vùng Bắc Bộ mà còn với cả nước. (bảng: 2.4)

Bảng 2.4: Bảng phân cấp trình độ lao động của thành phố Hà Nội.

TT

Trình độ lao động

So với cả nước (%)

So với Đồng bằng Sông Hồng (%)

So với địa bàn trọng điểm Bắc Bộ (%)

1

Cao đẳng, đại học

18,2

50,4

66,1

2

Trên đại học

68,6

90,1

94,7

3

Trung cấp

8,4

34,5

44,8

Nguồn: [2]

Hà nội có 1.600.000 người ở độ tuổi lao động. Trình độ học vấn đạt bình quân 9/12. Số lượng cán bộ có trình độ sau đại học 10.243 người, cao đẳng và đại học gần 12 vạn người, hơn 11 vạn cán bộ có trình độ trung cấp [2]. Nếu tính cả cán bộ có trình độ từ trung cấp trở lên với công nhân kỹ thuật thì số này chiếm khoảng hơn 40% lao động xã hội. Điều này cho thấy đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở thủ đô đang còn là tiềm lực to lớn chưa phát huy có hiệu quả, nếu có chính sách sử dụng hợp lý, huy động được họ tham gia góp sức xây dựng Hà Nội sẽ tạo ra lợi thế vật chất đối với qua trình phát triển của thành phố cũng như đối với cả nước.

2.3.7. Nhiệm vụ phát triển cơ sở hạ tầng xã hội

1./ Phát triển nhà ở

Thành phố Hà nội đã đề ra chỉ tiêu bình quân nhà ở khu vực nội thành là 6,5 m2/người; đến năm 2005 là 7-7,5 m2/người; dự kiến đến sau những năm 2005 phấn đấu đạt 10 -12 m2/người. Trong số 65 dự án phát triển khu đô thị mới và khu đô thị tập trung với quy mô hơn 2.000 ha, dự kiến đạt 25 triệu m2 sàn nhà ở các loại đến năm 2005. Thành phố cho phép 53 dự án có tính khả thi hiện nay tiếp tục thực hiện với tổng diện tích sử dụng là 1.654 ha, đảm bảo cho 370.000 người ở trong các căn hộ cao tầng, 160.000 người ở nhà thấp tầng. Thành phố hiện đang triển khai 12 dự án ở Trung Yên, làng Quốc tế Thăng Long, khu nhà ở Đền Lừ, Cầu Diễn, khu Định Công... 14 dự án sẽ hoàn thành vào năm 2005, trong đó có 14 khu đô thị mới như Mễ Trì hạ, Mỹ Đình - Mễ Trì, Mỹ Đình 2, Nam đường Trần Duy Hưng, thành phố giao lưu sông Hồng, thành phố Thạch Cầu - Thạch Bàn, khu đô thị mới Tây Nam [112]. (phụ lục: 04)

Để chuẩn bị quy hoạch kiến trúc cho phát triển nhà ở thành phố trong thời gian tới, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt việc phát triển nhà ở triển khai theo 4 hướng cụ thể như sau:

+ Các khu nhà ở xây dựng tập trung và đồng bộ tại 9 khu vực:

- Cổ Nhuế : 18 ha

- Yên Hoà - Cầu Giấy : 25 ha

- Khu Trung Yên - Cầu Giấy : 27 ha

- Khu Nhân Chính - Trung Hoà : 32 ha

- Khu nhà ở Định Công : 33 ha

- Khu nhà ở Sài Đồng - Gia Lâm : 25 ha

- Khu nhà ở Nam Trung Yên : 110 ha

- Khu nhà ở Gia Lâm, Văn Điển : 400 ha

+ Chuẩn bị quy hoạch các lô đất nhỏ, lẻ nằm xen kẽ trong các khu dân cư đã đô thị hoá với quy mô 40 ha. Bao gồm cả trong khu phố cổ, khu phố cũ và vùng ven đô.

+ Chuẩn bị đất di dân, giải phóng mặt bằng khoảng 90 ha để có quỹ nhà nhằm đảm bảo việc tổ chức giao thông, mở đường, xây dựng công trình công cộng, công trình công nghiệp.

+ Cải tạo các khu nhà ở cũ đã xuống cấp (bao gồm các khu nhà ở nhiều tầng, thấp tầng xây dựng trước đây).

Với quỹ đất được xác định như trên nếu như hoàn thiện sẽ khai thác được 600 ha đất dành cho xây dựng nhà ở, giải quyết được 6,3 triệu m2 sàn (3,5 triệu m2 ở), trung bình mỗi năm sẽ đạt được 437.000 m2 ở. Ngoài ra, xây dựng nhà ở có chất lượng cao trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài như khu CIPUTRA (trên 300 ha), khu Làng giao lưu Thuỵ Sỹ (100 ha), sông Hồng CITY, hồ Linh Đàm... với diện tích chiếm đất khoảng 500 ha.

2./ Phát triển các công trình phục vụ công cộng, nghỉ ngơi

Hệ thống các trung tâm công cộng, bao gồm trung tâm thành phố như trung tâm hành chính - chính trị quốc gia Ba Đình, trung tâm thương mại, tài chính, dịch vụ, văn hoá Tràng Tiền và khu mới ở Tây Hồ Tây, Nam Thăng Long; trung tâm dịch vụ, văn hoá - thể dục thể thao Cổ Loa. Kết hợp với các trung tâm quận, trung tâm khu vực gắn với các đơn vị ở hoặc khu ở.

Cải tạo, nâng cấp các công viên, vườn hoa, cây xanh hiện có, kết hợp phát triển công viên cây xanh ở khu vực hồ Yên Sở. Linh Đàm, Triều Khúc, Mễ Trì, sông Nhuệ, Phú Thượng, Vân trì, Cổ Loa, Gia Lâm, Sài Đồng... Hình thành các dải cây xanh đặc dụng, phòng hộ, cách ly, sinh thái cảnh quan ở ven các sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu, sông Hồng, sông Nhuệ, sông Cà Lồ, sông Đuống và dọc các hành lang kỹ thuật hạ tầng. Tại vùng ven đô, hình thành vành đai cây xanh rộng từ 1- 4 km, tạo thành bộ khung bảo vệ thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái thành phố.

2.3.8. Tổ chức giao thông và cơ sở hạ tầng kỹ thuật

1./ Tổ chức giao thông

Tập quán và phương thức đi lại của người Hà Nội cũng như cả nước, do ảnh hưởng của hệ thống giao thông nhỏ, hẹp mà người dân chủ yếu thích dùng phương tiện cá nhân như xe đạp, xe máy để đi lại làm việc: Như đi từ nơi ở đến nơi làm việc, từ nơi ở đến nơi hoạt động công cộng (chợ, siêu thị, nhà trẻ, trường học, nhà hát, khu vui chơi giải trí). Do hệ thống giao thông công cộng không đảm bảo thời gian đi lại nên phần nhiều người dân không thích đi lại bằng phương tiện này. Xu thế trong tương lai gần, hệ thống giao thông được chú trọng phát triển, người dân sẽ dùng xe công cộng để đi làm, đi đến các trung tâm phục vụ công cộng. Nếu tổ chức tốt mối quan hệ giữa nơi ở và nơi làm việc, Hà Nội dần sẽ thay đổi phương thức đi lại, nhằm giảm bớt lượng xe lưu thông trên đường, giảm bớt tiếng ồn và nạn ô nhiễm môi trường.

Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, gồm: đường hàng không, đường sắt, đường thuỷ, cảng sông. Hệ thống giao thông đối ngoại đó ảnh hưởng quan trọng tới vận chuyển hành khách và hàng hoá cho thủ đô. Hiện nay, việc đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc chủ yếu dùng phương tiện cá nhân như xe đạp, xe máy, chỉ có một số ít công nhân ở các khu công nghiệp ngoại thành dùng xe công cộng đưa đón công nhân như KCN Hanel - Sài Đồng - Long biên. Từ lý do nêu trên, dễ tạo nên ách tắc giao thông và không đảm bảo thời gian để người công nhân đi đến nơi làm việc (do kéo dài thời gian đi lại và chờ đợi khi tắc đường vào giờ tan tầm các nhà máy).

Việc tổ chức giao thông đi lại hiện chưa có một biện pháp nào cụ thể, phần lớn là sự chủ động đi lại của người lao động. Dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng mặc dù có nhiều cố gắng của các cấp chính quyền nhưng không giải quyết được những tồn tại cấp bách về nhu cầu đi lại của người dân thủ đô.

Sự lựa chọn các loại phương tiện tham gia giao thông, sức chuyên chở hành khách, tốc độ giao thông hợp lý đều tác động tốt tới quá trình lưu thông hành khách trên các tuyến đường của Hà Nội. Trong đó tính linh hoạt của phương tiện là yếu tố quan trọng để lựa chọn phương tiện giao thông công cộng, trong các loại phương tiện thì ô tô buýt là loại linh hoạt nhất, sau đó đến xe điện bánh hơi và cuối cùng là các loại phương tiện giao thông chạy ray. (bảng: 2.5)

Bảng 2.5: Tốc độ và sức chở của phương tiện đi lại

TT

Loại

Phương tiện

Tốc độ

giao thông km/h

Khả năng thông xe

Xe/h

Sức chở

(hành khách/h theo một hướng)

1

Xe đạp

10-12

1800

1.800

2

Mô tô, xe máy

25-35

1200

1.200

3

ô tô con

50-60

720

2.880

4

ô tô buýt

19-20

80-120

2.700-5.800

5

Xe điện bánh hơi

18-19

80-120

4.400-7.100

6

Tầu điện

17-18

80-100

9.700-16.000

7

Tầu điện cao tốc

25-40

25-30

8.000-15.000

8

Tầu hoả

30-40

25

50.000

Nguồn: [44]
Diện tích chiếm đường của phương tiện là chỉ tiêu xét đến trong khi chọn phương tiện tham gia giao thông, tính theo diện tích chiếm đường đối với một hành khách khi xe chạy. Loại phương tiện chiếm ít đường nhất là xe buýt, từ 2- 4m2/hành khách (xe ô tô con chiếm 57m2/hành khách), vậy phương tiện vận chuyển tiết kiệm diện tích đường và có khối lượng vận chuyển hành khách lớn lại kinh tế trong đầu tư ban đầu chính là xe buýt. Thành phố Hà Nội trong thời gian tới ngoài các phương tiện vận chuyển khác nên đầu tư chủ đạo cho loại vận chuyển công cộng hành khách và công nhân đi làm bằng xe buýt.

2./ Về chiến lược phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Để quy hoạch xây dựng cho một thủ đô phù hợp với hiện đại hoá, công nghiệp hoá thì vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần được quan tâm hàng đầu, vì vậy chiến lược phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng của thành phố đã được Chính phủ phê duyệt và hoạch định như sau:

* Quy hoạch cơ sở hạ tầng giao thông, đất đai: cơ sở hạ tầng giao thông phải được ưu tiên phát triển đồng bộ với các công trình kỹ thuật hạ tầng khác để hình thành cơ cấu quy hoạch thành phố hoàn chỉnh nhằm phục vụ một cách hiệu quả cho các hoạt động kinh tế - xã hội của thủ đô.

Đất xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, gồm hệ thống giao thông động và giao thông tĩnh đạt tỷ lệ bình quân 25% đất đô thị.

Lấy phát triển giao thông vận tải hành khách công cộng làm trung tâm, bảo đảm tỷ lệ vận tải hành khách công cộng đến năm 2010 là 30% và đến 2020 là 50% số lượng hành khách.

* Về đường bộ: cải tạo và mở rộng các tuyến quốc lộ 1, quốc lộ 2, quốc lộ 5, quốc lộ 6, quốc lộ 16, quốc lộ 18 và quốc lộ 32. Xây dựng hoàn chỉnh đường cao tốc Láng - Hoà Lạc. Hoàn thiện việc xây dựng các tuyến vành đai số 1, số 2 và số 3; đồng thời cần nghiên cứu để chuẩn bị mở rộng vành đai số 4.

Cải tạo, nâng cấp các tuyến đường hiện có trong thành phố, đặc biệt là việc mở rộng các hành lang giao thông và các nút như: nút ngã Tư Sở; nút ngã Tư Vọng; Kim Liên; Ô chợ Dừa; Cầu Giấy; nút đầu cầu Chương Dương; nút ngã tư Trung Hiền; nút ngã tư Bưởi. Đồng thời cải tạo chỉnh trang mạng lưới đường tại các khu phố cổ và khu phố cũ. Bổ xung thêm các tuyến đường ở những khu vực mật độ đường còn thấp.

Xây dựng hoàn chỉnh và hiện đại mạng lưới đường kết hợp đồng bộ với các công trình hạ tầng kỹ thuật ngầm khác tại các khu phát triển mới. Chú trọng bố trí đồng đều hệ thống các bãi đỗ xe, các điểm chờ xe buýt phải phù hợp, đảm bảo cự ly trung bình từ các khu chức năng của thành phố tới các điểm đỗđậu trên các tuyến vận tải công cộng khoảng 500 đến 600m. Xây dựng các bến xe liên tỉnh như: Giáp Bát, Gia Lâm, Mai dịch, Đông Anh...

Ngoài ra, để đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển mở rộng thành phố về phía Bắc, phía Đông có thêm 5 cây cầu từ trong nội thành vượt qua sông Hồng được xây dựng mới và xây dựng lại (chưa kể đến cầu Thăng Long và Chương Dương), trong đó cầu Thanh Trì đã có kế hoạch xây dựng.

* Về đường sắt: đối với hệ thống đường sắt Quốc gia, giữ nguyên hệ thống đường sắt phía Tây thành phố; xây dựng mới đoạn Văn Điển - Cổ Bi (qua cầu Thanh trì) sau đó qua sông Đuống và đi lên ga Bắc Hồng, tránh khu di tích Cổ Loa. Hoàn chỉnh hệ thống ga đường sắt, trong đó gồm các ga Phú Diễn, Hà Đông, Việt Hưng, Giáp Bát, Gia Lâm, Yên Viên, Bắc Hồng, Vân trì, Cổ Loa.

Ưu tiên cho việc xây dựng hệ thống đường sắt đô thị để tạo nên những mạng lưới trục chính của mạng lưới vận tải hành khách công cộng của thủ đô, bao gồm cả các tuyến đi trên cao và dưới ngầm. Xây dựng tuyến Văn Điển - Hàng Cỏ - Gia Lâm - Yên Viên; tiếp đó xây dựng các tuyến Hà Đông - Ngã Tư Sở - Hàng Cỏ; Hàng Cỏ - Cát Linh - Kim Mã - Thủ Lệ - Nghĩa Đô - Phú Diễn - Minh Khai; Giáp Bát - vành đai 3; cầu Thăng Long - Nội Bài và Kim Mã - Láng Trung - Hoà Lạc.

* Đường hàng không: mở rộng và xây dựng hoàn chỉnh sân bay Quốc tế Nội Bài theo quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 152/TTg ngày 04 tháng 4 năm 1994. Các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hoà Lạc, là sân bay nội địa. Trong tương lai, dự kiến xây dựng thêm sân bay Quốc tế Miếu Môn - Hà Tây.

* Về đường sông: nâng cấp các cảng Hà Nội (Phà Đen), Khuyến Lương; mở thêm cảng Vạn Kiếp, Thượng Cát. Nạo vét và kênh hoá sông Hồng.

* Về cấp điện, nước: xây dựng thêm 3 trạm 220KV tại Đa Phúc, Tây Bắc đầm Vân trì và Thành Công; đưa công suất các trạm nguồn lên 2.500MVA và xây dựng mới 16 trạm khác. Cải tạo và xây dựng các đường dây 220KV, 110 KV và 22KV, bảo đảm hiện đại, mỹ quan và sử dụng an toàn.

Dự báo chỉ tiêu cấp nước sinh hoạt đến năm 2010 là 150-180 lít/người/ngày, với 90-95% dân số đô thị được cấp nước và đến năm 2020 là 180-200 lít/người/ngày, với 95-100% dân số đô thị được cấp nước sạch. Khai thác hợp lý nguồn nước ngầm, bước đầu khai thác nguồn nước mặt từ sông Hồng, sông Đà, sông Cầu, sông Công.

* Đất đai xây dựng công nghiệp: quỹ đất xây dựng công nghiệp dồi dào không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đô thị mà còn phát triển mạnh về khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ do liên doanh, hợp tác với nước ngoài.

Tại các huyện Đông Anh, Sóc Sơn, Gia Lâm, Từ Liêm và Thanh trì có thể dành nhiều khu vực với quy mô tập trung từ vài chục ha đến hàng trăm ha để xây dựng các khu chế xuất, KCN, khu công nghệ cao. khu du lịch sinh thái, khu vui chơi giải trí, khu văn hoá nghỉ ngơi phục vụ cho nhân dân lao động thủ đô.

* Thoát nước bẩn và vệ sinh môi trường:

Cải tạo, nâng cấp hệ thống cống thoát nước bẩn và nước mưa tại các khu vực nội thành cũ, xây dựng hệ thống cống thoát nước bẩn riêng tại các khu đô thị mới. Xây dựng hệ thống thoát nước mưa, gồm các trạm bơm và mạng lưới cống và kênh tiêu thoát, đảm bảo mật độ 0,6 đến 0,8 km/km2. Cải tạo và xây dựng hệ thống hồ điều hoà kết hợp với việc tạo cảnh quan ven hồ, đảm bảo diện tích hồ bằng 5-7% diện tích lưu vực.

Đến năm 2020, bảo đảm 100% khối lượng chất thải rắn của thành phố được thu gom, vận chuyển, xử lý bằng công nghệ thích hợp.
2.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRỰC TIẾP TỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN KHU Ở, PHỤC VỤ CÔNG CỘNG GẮN VỚI KCN Ở HÀ NỘI.



      1. Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương