Mục lục trang



tải về 3.28 Mb.
trang5/16
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích3.28 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16

2.1.2. Vai trò của con người trong sản xuất công nghiệp

Làm việc cũng như nhu cầu ăn - ở và sinh hoạt văn hoá tinh thần, nó là những vấn đề quan trọng trong quá trình vận động phát triển của con người. Sự kết hợp hài hoà các nhu cầu này sẽ mang lại một cuộc sống hạnh phúc, ấm no và tương lai cho mỗi con người. Muốn phát triển lành mạnh, con người phải làm việc để tạo ra của cải vật chất. Từ đó, khẳng định các nhu cầu về ở - làm việc và nghỉ ngơi, sinh hoạt tinh thần luôn hỗ trợ cho nhau và cùng nhau phát triển.

Ngày nay, với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nước ta coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng tiềm lực kinh tế và cơ sở vật chất - kỹ thuật đồng bộ, làm nền tảng cho một nước công nghiệp. Kết hợp với xây dựng kinh tế lấy công nghiệp làm bàn đạp thì mục tiêu phát triển nguồn nhân lực con người ngày càng đòi hỏi cao về trình độ, về trí tuệ và tinh thần của con người mới xã hội chủ nghĩa.

Công nghệ càng phát triển thì vai trò làm chủ công cụ sản xuất của con người càng được khẳng định. Con người dùng tri thức của mình để tạo ra công cụ lao động, nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp. Con người nghiên cứu ra máy tính điện tử, các loại máy móc tự động khác phục vụ cho sản xuất công nghiệp. Từ đó, con người đóng vai trò rất quan trọng trong sản xuất công nghiệp mà không có một loại máy móc nào có thể thay thế được. Trên thực tế, khi nền công nghệ phát triển tới mức độ cao người ta thường coi nhẹ vai trò chủ thể của con người, nhất là lực lượng lao động phổ thông. Các nhà doanh nghiệp thường coi trọng máy móc thiết bị sản xuất mà không quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của con người. Điều đó, chính là có tác dụng ngược lại với quá trình phát triển của nền công nghiệp hiện đại, nền công nghiệp lấy tri thức con người làm thước đo cho sự phát triển.

Chúng ta đều biết con người không phải là công cụ vô tri, không làm việc như bộ nhớ của máy tính. Con người sống và làm việc phụ thuộc vào các điều kiện chủ quan và khách quan. Ngoài khả năng trình độ nghề nghiệp vốn có, kỹ thuật lao động, nội quy sản xuất, nhu cầu mưu sinh, con người còn phụ thuộc vào sức khoẻ, sự nhiệt tình say mê với công việc, sự hưng phấn trong lao động và quan hệ thân thiện gắn bó với đồng nghiệp. Do đó, để đạt được những yếu tố cơ bản này thì con người phải có tâm lý ổn định, đời sống phải được đảm bảo. [89] (hình: 2.02)

2.1.3. Con người với môi trường lao động trong việc nâng cao điều kiện sống và làm việc

Môi trường lao động là một trong 3 môi trường sống quan trọng của con người, là một trong những điều kiện vật chất tinh thần của con người, đó là: môi trường ở - làm việc và nghỉ ngơi.



Ước tính hơn 1/3 cuộc đời của một con người sống trong môi trường lao động (con người làm việc trong môi trường lao động từ 25-30 năm/cuộc đời). Con người và môi trường lao động chịu tác động lẫn nhau, hỗ trợ quan hệ mật thiết với nhau. Chất lượng của môi trường lao động ảnh hưởng tới: năng suất, nhiệt tình, chất lượng, ý thức tự giác và ý thức làm chủ trong lao động của con người. Để tạo ra của cải vật chất cho xã hội thì phải dùng sức lao động và công cụ lao động, ngoài ra phải kể đến cả môi trường lao động. Sức lao động chính là con người còn công cụ là máy móc thiết bị; môi trường lao động chính là không gian sản xuất, môi trường sống, không khí, màu sắc, ánh sáng, tinh thần của con người, cách đối xử giữa người với người... Chúng có quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau và con người là chủ thể. Con người tạo ra môi trường lao động và ngược lại, môi trường lao động luôn bảo đảm cho sức khoẻ và tinh thần của người lao động. [89]

Con người được sống và làm việc trong một môi trường lao động sạch sẽ, ngăn nắp, đẹp đẽ thì cảm thấy được tôn trọng, thoải mái nhiệt tình và quan hệ gắn bó với nhau tốt hơn là phải lao động trong một môi trường chật chội và ô nhiễm. Chưa kể đến sức khoẻ con người sẽ tác động rất lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Thực tế đã chứng minh, một môi trường lao động tốt còn hiệu quả hơn cả những lời tuyên truyền, cổ động và những biện pháp hành chính quản lý khác.

Chất lượng của môi trường lao động ảnh hưởng rất lớn tới:

- Năng suất, nhiệt tình, chất lượng lao động của con người.

- Ý thức tự giác trong lao động.

- Ý thức làm chủ lao động của con người

- Niềm tự hào của người lao động đối với môi trường lao động của mình.

Để nâng cao điều kiện sống và làm việc cần phải giải quyết hai nhiệm vụ cơ bản: Tổ chức môi trường vật chất và môi trường văn hoá, tinh thần trong quá trình hoạt động lao động. Môi trường vật chất là các không gian đô thị, không gian KCN, nhà máy, xí nghiệp công nghiệp, không gian giao thông, không gian ở, sinh hoạt ăn uống, y tế và các dịch vụ khác. Môi trường văn hoá, tinh thần gồm các công trình phục vụ học tập, thể thao, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí tại nơi làm việc hoặc bên ngoài xã hội.

2.1.4. Con người với xu hướng phát triển khoa học - kỹ thuật

Theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 của nghị quyết trung ương Đảng khoá VIII tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nhấn mạnh “ ... Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Đảng và Nhà nước quan tâm tới định hướng chiến lược phát triển khoa học - kỹ thuật trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước; phát triển công nghiệp với nhịp độ cao có hiệu quả, coi trọng đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị công nghệ tiến tiến và tiến tới hiện đại hoá từng phần ngành sản xuất công nghiệp.

Phát triển mạnh các ngành công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, viễn thông, điện tử, công nghiệp chế biến nông lâm thổ sản, công nghiệp nhẹ, công nghiệp cơ khí, dầu khí, hoá chất phân bón và khai thác chế biến các loại khoáng sản... Ứng dụng các thành tựu khoa học hiện đại nhằm tiếp cận với trình độ thế giới làm cơ sở vững chắc cho phát triển các ngành công nghiệp hiện đại.



Khoa học kỹ thuật phát triển là động lực tạo điều kiện thúc đẩy cho quá trình hình thành công nghệ sạch trong sản xuất công nghiệp hiện đại. Hệ thống dây chuyền sản xuất công nghệ sạch và thông minh ra đời đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử phát triển công nghệ, cho phép giải quyết được tối đa chất thải công nghiệp, ít gây ra tiếng ồn và nồng độ bụi, ít độc hại cho môi trường sinh thái, tạo điều kiện cho việc liên hợp sản xuất và hệ thống kỹ thuật hạ tầng (hình thành KCN sinh thái). Từ đó cho phép bố trí khu sản xuất gần với khu ở hoặc đan xen với nhau, hình thành mối quan hệ: Làm việc - nghỉ ngơi - ở.

Nhờ hệ thống công nghệ sạch và nền công nghiệp nhẹ (điện tử, tin học, may mặc) đã chiếm ưu thế, làm thay đổi mối quan hệ giữa khu ở và khu sản xuất. Môi trường ở được đảm bảo, nằm gần với nơi làm việc, giảm thiểu những khó khăn nảy sinh do khu ở xa KCN.

2.1.5. Xu hướng phát triển nhu cầu vật chất, tinh thần của con người trong xã hội hiện đại

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động” [59]. Người chỉ rõ 4 việc phải làm để giúp cho người dân lao động trong xã hội “Chúng ta phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở và làm cho dân có học hành”. [60].

Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo công cụ lao động lực lượng sản xuất cũng phát triển theo, hàng hoá và lợi nhuận tăng trưởng. Từ đó đời sống vật chất và tinh thần của con người được nâng lên mức cao hơn.

Khi khoa học kỹ thuật phát triển, máy móc làm thay phần lớn công việc khó khăn của con người. Khi con người làm chủ khoa học kỹ thuật, làm chủ máy móc thiết bị có nghĩa là con người không những tạo ra của cải vật chất cho xã hội nhiều hơn mà còn tạo ra nhiều thời gian rảnh rỗi cho mình.

Thời gian rảnh rỗi nhiều sẽ dẫn đến nhu cầu đòi hỏi về đời sống văn hoá, tinh thần của con người ngày càng lớn. Nhu cầu giao tiếp, giao lưu tình cảm, học tập nâng cao trình độ, nghỉ ngơi, mua sắm... ngày càng được con người quan tâm.

Ở các nước phát triển người lao động được nghỉ 3 ngày/tuần (người lao động nước ta hiện nay nghỉ 1-2 ngày/tuần). Thời gian nhàn rỗi càng tăng thì nhu cầu sinh hoạt văn hoá, tinh thần ngày càng tăng, phù hợp với xu hướng chung của xã hội.

Mặt khác, khi trình độ phát triển của xã hội ngày càng cao dẫn đến nhu cầu vật chất và tinh thần của con người cũng cao. Nhu cầu phát triển gần như không có giới hạn. Khi đời sống vật chất đã nâng cao thì đời sống tinh thần lại càng được con người quan tâm. Con người cần nhiều thời gian rảnh rỗi hơn trong quỹ thời gian chung. Trong khi thời gian làm việc và ăn, ngủ là cố định trong ngày, không thay đổi được. Con người chỉ còn lại thời gian đi làm hàng ngày (đi từ nơi ở đến nơi làm việc) là có thể thay đổi được. Nếu thời gian đi lại này giảm được tối thiểu, có nghĩa là con người đã tăng tối đa được thời gian rảnh rỗi để bổ xung cho quỹ thời gian nghỉ ngơi hiếm hoi của mình. Dùng quỹ thời gian này để nghỉ ngơi; đi lại thăm hỏi người thân; giao tiếp cộng đồng; sinh hoạt văn hoá tinh thần; vui chơi giải trí; đi mua sắm...

Đối với người công nhân làm việc trong các KCN, nhu cầu đòi hỏi sinh hoạt văn hoá tinh thần lại rất cần thiết, người công nhân phải làm việc với quỹ thời gian rất lớn, do đó muốn dành thời gian nghỉ ngơi, sinh hoạt văn hoá tinh thần cho người lao động chỉ bằng cách là giảm thiểu được quỹ thời gian đi lại của họ từ nơi ở đến nơi làm việc. Lúc đó người công nhân mới có thời gian để nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động, tự học tập nâng cao trình độ, giao tiếp xã hội.
2.2. SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VÀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ

2.2.1. Tiến bộ khoa học - kỹ thuật trong quy hoạch xây dựng KCN

Nhờ có sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - kỹ thuật việc quy hoạch, xây dựng KCN đã có những bước phát triển vững chắc. Các xí nghiệp, nhà máy được liên hợp, tập trung thành các KCN tận dụng hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tiết kiệm nguồn năng lượng, kho tàng, bến bãi. Các KCN được chuyên môn hoá, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất.

Việc quy hoạch các KCN đang được sử dụng công nghệ tin học, tự động hoá từ các khâu lập dự án, thiết kế quy hoạch, xây dựng, quản lý đến tổ chức sản xuất. Các KCN dần sẽ sử dụng lực lượng lao động có tay nghề kỹ thuật cao để điều hành thiết bị máy móc hiện đại, thay thế dần lao động thủ công như hiện nay.

Các KCN được xây dựng trên dây chuyền thi công hiện đại, việc chuyên môn hoá thiết kế giúp cho quá trình thi công nhanh chóng hơn. Ngoài ra các vỏ nhà công nghiệp hiện nay đều sử dụng hệ thống lắp ghép kết cấu nhà siêu nhẹ bằng thép tiền chế và các vật liệu chế tạo sẵn, có thể tháo rời, di chuyển và mở rộng nhà máy sản xuất dễ dàng.

2.2.2. Sự hình thành và phát triển công nghiệp trong quá trình đô thị hoá

Công nghiệp là nhân tố quan trọng cho việc hình thành và phát triển các điểm dân cư đô thị, là thành phần cấu thành nên đô thị và ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành bố cục quy hoạch kiến trúc đô thị. Do đó, vấn đề phát triển công nghiệp có tác dụng rất lớn đến việc tổ chức không gian kiến trúc đô thị.

Khu công nghiệp hình thành và phát triển dẫn đến hình thành nên một khu dân cư mới. Nhóm dân cư tham gia quá trình hình thành khu dân cư này thứ nhất phải kể đến lực lượng lao động làm việc trong các KCN. Cùng với sự phát triển của KCN, kéo theo sức thu hút nhân lực lao động từ nông thôn lên, lượng lao động này cần thiết phải ổn định chỗ ăn ở, sinh hoạt văn hoá tinh thần và các loại hình sinh hoạt khác cho họ, từ đó việc hình thành cơ cấu tổ chức của một khu dân cư đô thị là tất yếu. Thứ hai là lực lượng dân cư nông nghiệp địa phương, sau khi rời bỏ mảnh đất nông nghiệp từ lâu đời để giao đất nông nghiệp sang xây dựng KCN, họ chính thức trở thành dân cư phi nông nghiệp, họ trở thành một lượng dân cư đô thị sống bằng nghề làm dịch vụ công nghiệp kết hợp với buôn bán nhỏ để kiếm sống. Từ đó, nhu cầu ăn ở, nghỉ ngơi, chữa bệnh, học hành, giao tiếp, sinh hoạt văn hoá tinh thần góp phần thức đẩy việc cấu thành một khu dân cư đô thị với đầy đủ chức năng và yêu cầu của một đô thị.

Công nghiệp phát triển cũng góp phần tích cực làm thay đổi bộ mặt kiến trúc đô thị. Các xí nghiệp công nghiệp với những không gian sản xuất và những hình khối công trình hoành tráng - những KCN với tổ hợp kiến trúc hiện đại, làm cho đô thị trở nên bề thế, đồ sộ hơn nhiều. Ngoài ra công nghiệp đóng góp vào xây dựng kinh tế - xã hội cho đô thị, tạo công ăn việc làm cho dân cư đô thị, tăng trưởng kinh tế, tăng mức thu nhập và cải thiện đời sống dân cư, thay đổi hình thức sản xuất. (hình: 2.03)

Tuy nhiên, công nghiệp phát triển cũng kéo theo hàng loạt vấn đề mà đô thị cần phải giải quyết hậu quả như: nạn ách tắc giao thông do phương tiện đi lại của công nhân từ nơi ở đến nơi làm việc, nhu cầu về phát triển giao thông đô thị để phục vụ cho vận chuyển hàng hoá và nguyên liệu, cung cấp điện năng, khí đốt, nước sản xuất và nước sinh hoạt, nhu cầu về nhà ở công nhân, công trình dịch vụ phúc lợi công cộng cho công nhân các KCN. Sản xuất công nghiệp còn ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sống của đô thị như gây ra tiếng ồn, khói bụi, hoá chất, chất thải công nghiệp gây ô nhiễm môi trường đang là vấn đề bức xúc đối với các đô thị.

2.2.3. Quan hệ giữa KCN với khu ở, phục vụ công cộng trong đô thị

Dưới tác động ảnh hưởng của KCN; như loại hình công nghiệp, đặc điểm, quy

mô, dây chuyền công nghệ sản xuất của KCN, đóng một vai trò quan trọng trong cơ

cấu lao động của KCN hay cơ cấu khu dân cư kế cận. Với dây chuyền công nghệ sản xuất sạch cho phép bố trí KCN gần với khu ở, ngược lại với KCN có dây chuyền lạc hậu, độc hại bố trí ra xa khu dân cư. (hình: 2.04, 2.05, 2.06)

Mối quan hệ giữa KCN với khu ở và khu phục vụ công cộng thuận lợi hoặc không thuận lợi phải căn cứ vào việc tổ chức vị trí hợp lý giữa ba thành phần cấu thành cơ bản của mối quan hệ là KCN, khu ở và khu phục vụ công cộng. Nếu vị trí của khu phục vụ công cộng nằm ở khoảng giữa mối liên hệ hoặc tạo thành thể liên hoàn tam giác từ khu ở đến KCN thì thuận lợi, ngược lại nếu khu phục vụ công cộng nằm ở đối xứng với khu ở thông qua KCN hay đối xứng với KCN thông qua khu ở thì đều bất lợi cho mối quan hệ. (hình: 2.07)

Sự phát triển không ngừng của KCN dẫn đến nhu cầu thu hút lực lượng rất lớn lao động phục vụ cho KCN. Nhu cầu thu hút lao động của KCN là những yếu tố tác động tới việc giải quyết mối quan hệ với khu ở và công trình phục vụ công cộng. (hình: 2.08)



Nhu cầu sử dụng lao động khác nhau của mỗi xí nghiệp công nghiệp hoặc KCN cũng làm ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa KCN với khu ở, ví dụ với các KCN cần sử dụng nhiều lao động như may, dệt, giày... trong đó chủ yếu là dùng lao động nữ, mối quan hệ giữa khu ở và khu sản xuất trở nên phức tạp hơn: nếu khu ở gần KCN để tiện lợi cho đi lại thì phát sinh những nhiều khu ở và công trình phục vụ công cộng, còn khu ở cách xa KCN thì phát sinh hệ thống vận chuyển và giao thông hành khách, tăng mật độ lưu lượng giao thông và cản trở giao thông công cộng cho đô thị.

Sự phát triển của KCN là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của các khu dân cư, dẫn đến tập trung dân cư. Trước hết là lao động trực tiếp trong các KCN và sau đó là lực lượng lao động gián tiếp phục vụ cho KCN.

Sự hình thành khu công nghiệp sẽ kéo theo nhu cầu về dịch vụ cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ cho người lao động. Theo kinh nghiệm thế giới, bên cạnh các KCN đặc biệt là các khu chế xuất, thường có các cơ sở sản xuất nhỏ, tiểu thủ công nghiệp nhằm đáp ứng các nhu cầu gia công các chi tiết, bao bì, xử lý phế phẩm, dịch vụ vận tải... cho các KCN lớn [88]. Dịch vụ cho người lao động: gồm tất cả các dịch vụ phục vụ cho đời sống vật chất và tinh thần của con người như ăn, ở, đi lại, nghỉ ngơi, giao tiếp, học tập và vui chơi giải trí, chữa bệnh. (hình: 2.09)


Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương