Mục lục trang



tải về 3.28 Mb.
trang4/16
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích3.28 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16
    Навигация по данной странице:
  • Các KCN

Nguồn: [2]

2./ Tại thành phố Hà nội

Thành phố Hà Nội đã thu hút được 13.814 lao động làm việc trong các KCN mới, trong đó chưa kể đến hơn 20.000 lao động làm việc và làm dịch vụ công nghiệp và lao động trong các làng nghề, số lao động này chỉ thống kê trong 03 KCN mới đang đi vào sản xuất đó là KCN Nội Bài - Sóc Sơn, KCN Bắc Thăng Long, KCN Sài Đồng B (bảng: 1.6)



Bảng 1.6: Số lượng lao động các KCN mới ở Hà Nội.


Các KCN

Cơ sở


Lao động

Số lượng

Cơ cấu %

Số lượng

Cơ cấu %

Khối doanh nghiệp

6.367




65.3857




Trong đó KCN:

67

100.0

13.814

100.0

- KCN Nội Bài – Sóc Sơn

13

19.4

2.463

17.8

- KCN Bắc Thăng Long

17

25.4

3.219

23.3

- KCN Sài Đồng B

37

55.2

8.132

58.9

Nguồn: [78]

Nhìn chung, lực lượng lao động phục vụ cho các KCN mới tại thành phố Hà Nội rất dồi dào, nhất là các vùng nông thôn ngoại thành Hà Nội sẵn sàng cung cấp nhân lực lao động tại KCN với công nhân có tay nghề, hăng say nhiệt tình và có kỷ luật cao trong lao động sản xuất.



1.2.2.3 Về xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ công cộng.

1./ Thực trạng về nhà ở và công trình phục vụ công cộng

* Thực trạng trong nước: người dân địa phương xung quanh các KCN bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân thuê, dạng nhà cho thuê rất đa dạng về diện tích, vật liệu xây dựng và tiện nghi phục vụ tuỳ theo giá thuê. Bình quân một phòng trọ có diện tích 10-15 m2 thì có từ 5-8 người thuê, chưa đạt 2,5M2/người, nhà cấp IV với kết cấu không đủ tiêu chuẩn, chủ yếu dùng vật liệu tạm như tre, ván ép, nếu là tường xây thì thường dày 110 và lợp phibrôXM hoặc Tole, mặt bằng nhà thường tổ chức liền căn, hành lang bên hoặc hành lang giữa rất hẹp, thiếu ánh sáng và không được thông gió tự nhiên, không có cây xanh, mặt nước. Hệ thống điện không đủ sáng, khu vệ sinh thường bố trí tập trung, chật chội, thiếu nước và mất vệ sinh. Giá cho thuê qua khảo sát bình quân từ 50.000VNĐ-100.000VNĐ người công nhân/tháng. (hình: 1.20)

Loại nhà cho thuê tự phát này xuất hiện ở tất cả các KCN trong toàn quốc, tập trung nhiều nhất ở các KCN Bình Dương; khu dân cư Long Bình, An Bình, Long Bình Tân, Tam Hoà, Hoá An ở ngoại vi thành phố Biên Hoà; khu dân cư nông thôn nằm cạnh KCN Sông Mây, Hố Nai... Nhà trọ loại này đáp ứng khoảng 60 - 70% nhu cầu nhà ở cho công nhân. (hình: 1.21)

Từ chỗ hình thành tự phát và cho thuê một cách tuỳ tiện nên tình hình an ninh trật tự tại các khu nhà trọ rất phức tạp, những nhà hàng phục vụ ăn uống và dịch vụ cũng luôn là nơi có thể sinh ra các tệ nạn xã hội. Người lao động thường xuyên phải sống trong điều kiện ăn ở chật chội, đi lại khó khăn và đối mặt với những tiêu cực của xã hội. Công nhân trong cùng một doanh nghiệp lại không ở tập trung nên khi sảy ra lộn xộn, ảnh hưởng đến tập thể công nhân thì vấn đề rất khó giải quyết.

Theo thống kê cả nước hiện có khoảng hơn 115 ngàn lao động nữ, chiếm 64% tổng số lao động, trong đó 90% là lực lượng lao động trẻ từ 18 - 35 tuổi (67% lực lượng lao động này là nữ), đây cũng đang là độ tuổi sinh đẻ, theo quy hoạch đến năm 2010 có 50-56 vạn lao động nữ do vậy nhu cầu phục vụ công cộng ngày càng cao. Hiện nay, người lao động phải làm việc quá 8h/ngày, không có thời gian và không gian, địa điểm để nghỉ ngơi, giải trí nên ảnh hưởng nhiều đến tâm sinh lý, sức khoẻ và đời sống tinh thần của họ, nhất là lao động nữ. Theo Báo Kinh tế Đô thị số 670 ngày 8/5/2002, bài “Báo động sức khoẻ lao động nữ” đã viết “ 83,4% lao động nữ phải làm thêm 10-15h/tuần; 13,7% trong số họ làm việc 10h/ca; 20% không được đóng bảo hiểm và 33% không được quan tâm đến an toàn vệ sinh lao động”. Để quan tâm đến đời sống tinh thần cho người lao động, bài báo viết “ Cần đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và dịch vụ như: nhà ở, trường học, nhà trẻ, mẫu giáo, bệnh viện gần các KCN để đảm bảo thiên chức làm mẹ cho nữ công nhân”.

Do các KCN không chú trọng đến việc tổ chức xây dựng các công trình nghỉ ngơi, giải trí cho công nhân các KCN, trong khi họ lại phải thường xuyên làm việc căng thẳng nên ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần và sức khoẻ. Theo báo Giáo dục Thời đại số 136 ngày 13/11/2003, bài “Số người mắc bệnh tâm thần ở Bình Dương tăng cao” viết “Bình Dương đã tiếp nhận 1.230 bệnh nhân tâm thần. Nguyên nhân được đưa ra là một bộ phận nông dân chuyển sang làm công nghiệp do chưa quen với tác phong làm việc công nghiệp căng thẳng đã bị sốc, chuyển sang tâm thần”.

Theo ý kiến của người lao động, tốt nhất mỗi KCN hoặc một cụm KCN gần nhau có một khu dịch vụ phục vụ công cộng với các thể loại công trình như: câu lạc bộ, nhà ăn tập thể, không gian cây xanh nghỉ ngơi... để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt công cộng của người lao động.



* Tại thành phố Hà Nội:

Người lao động đang phải thuê nhà trọ của tư nhân xung quanh các KCN. Thành phố có hai khu vực tập trung số lượng công nhân đông phục vụ cho hai KCN lớn đó là quận Long Biên (KCN Sài Đồng B) và Đông Anh (KCN Thăng Long). Lấy quận Long Biên làm ví dụ: Toàn quận có hơn 3000 lao động ngoại tỉnh làm việc trong các KCN. Họ thuê nhà trọ ở khu Dương Xá, Trâu Quỳ, Đức Giang…cuộc sống tạm bợ, vất vả trong các khu nhà trọ nghèo nàn đã làm ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của người lao động. Trong khi đó, thành phố cũng chưa có biện pháp cụ thể để giải quyết vấn đề xây dựng nhà ở cũng như công trình phục vụ công cộng cho công nhân. (hình: 1.22)

Theo báo Lao động Thủ đô số 42 ngày 15/10/2002 viết về bài “Nhà trọ đêm, nơi phát sinh nhiều tệ nạn”, thống kê tại Hà Nội có “95/157 phường, 62/212 xã, thị trấn có tới 12.000 hộ có nhà cho thuê trọ. Tổng diện tích sử dụng 340.000m2 nhà trọ với hơn 60.000 người thuê. Bên cạnh đó có 303 chủ hộ có tiền án tiền sự; 91 hộ đang là đối tượng điều tra”. Về tình hình ăn, ở và điều kiện sinh hoạt tại các nhà trọ bài báo viết tiếp “ Tường phòng trọ xây tường gạch dày 110, mái lợp ngói hoặc Fibô xi măng, chiều cao 3m, rộng 8-10m, trời nóng thì rất nóng, trời mưa thì dột. Lối vào nhỏ, hẹp, đông người đi lại. Nước sinh hoạt hàng ngày dùng nước giếng khoan hoặc giếng ao làng, dễ gây mất vệ sinh và dịch bệnh. Nhà trọ đang là nơi phát sinh ra tệ nạn…”
2./ Về xây dựng nhà ở và công trình phục vụ công cộng cho công nhân KCN

* Tình hình trong nước:

Để giải quyết tình trạng thiếu nhà ở cho công nhân, nhiều địa phương cũng đã bắt đầu tiến hành việc phát triển nhà ở cho người lao động:



Tỉnh Đồng Nai: là một trong những tỉnh quan tâm xây dựng nhà ở cho công nhân, theo số liệu điều tra của Liên đoàn lao động tỉnh Đồng Nai, tổng diện tích nhà ở công nhân khoảng 350.000 m2 phân bố như ở bảng: 1.7.

Bảng 1.7: Tình hình xây dựng nhà ở công nhân các KCN tỉnh Đồng Nai

TT

Chủ đầu tư

Tổng diện tích (m2)

Tỷ lệ (%)

1

Hộ Tư nhân

280.000

80%

2

Doanh nghiệp sản xuất

20.000

5,71%

3

Công ty kinh doanh nhà

2.500

0,71%

4

Các dạng khác

47.500

13,57%




Tổng cộng

350.000

100%

Nguồn: [5]
Trong đó nhà ở do tư nhân xây dựng vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (80%). Đồng Nai đang kêu gọi vốn đầu tư xây dựng các khu nhà ở cho công nhân thu nhập thấp bằng giải pháp xây dựng cho thuê hoặc mua trả góp. Có một số dự án như: khu nhà ở cao tầng đường Nguyễn Văn Trỗi có quy mô 6.000 dân; khu nhà ở công nhân đường quốc lộ 1K khoảng 3.000 dân; khu nhà ở phường Long bình Tân quy mô 3.000 dân; khu nhà ở công nhân Hố Nai quy mô 20.000 dân; khu nhà ở KCN Sông Mây quy mô 25.000 dân; khu nhà ở công nhân Tam Phước I có quy mô 15.000 dân; Tam Phước II quy mô 17.000 dân; khu nhà ở Phước Thái quy mô 15.000 dân [5].

Tỉnh Bình Dương: việc xây dựng các khu nhà ở dành cho công nhân KCN đang trở thành vấn đề xã hội vô cùng lớn. Hiện nay, Bình Dương tập trung vào xây dựng các khu nhà ở công nhân và đã quy hoạch được 16 khu với tổng diện tích là 713 ha gồm: khu tái định cư, khu dân cư để giải quyết nhà cho công nhân và lao động có thu nhập thấp, khu dân cư mới. Trong đó, 6 khu tái định cư chiếm 288 ha, 7 khu nhà ở tập thể của công nhân lao động có thu nhập thấp thuê chiếm diện tích 328 ha. Hiện có dự án đầu tư xây dựng nhà ở cho công nhân KCN Đồng An với tổng số vốn là 45 tỷ đồng. Trong đó: 25 tỷ dành cho xây dựng cơ sở hạ tầng khu ở, 25 tỷ để xây dựng 2 khu chung cư cao tầng, mỗi khu có 120 căn hộ dành cho công nhân có thu nhập cao và 2 khu nhà với 180 phòng dành cho công nhân có thu nhập thấp. Khu nhà ở đáp ứng nơi ở ổn định cho 2.000 công nhân đang làm việc tại KCN Đồng An.[5] (phụ lục: 03)

Thành phố Hồ Chí Minh: các KCN, khu chế xuất ở đã có 12 dự án xây dựng nhà trọ cho công nhân được phê duyệt xây dựng, 27 doanh nghiệp xây dựng nhà trọ công nhân với trên 7000 chỗ ở. Dự kiến đến 2005, thành phố sẽ xây dựng xong các khu lưu trú cho 80.000 công nhân làm việc trong các KCN của thành phố. Một số KCN đã xây dựng thử nghiệm thành công các khu nhà ở và các công trình dịch vụ phục vụ công nhân, ví dụ KCN Tân Tạo, KCN Vĩnh Lộc.(hình:1.23)

Một số doanh nghiệp kết hợp với ban quản lý các KCN mạnh dạn tự bỏ vốn đầu tư xây dựng các khu cư xá cho thuê bên trong khuôn viên nhà máy. Dạng nhà này xuất hiện ở các KCN huyện Long Thành (khu nhà máy VeDan, TPC VN), huyện Nhơn Trạch (khu nhà máy Chingfa, Hualon, Choong Nam). Thống kê dạng nhà này cho thấy giải quyết được khoảng 20% nhu cầu nhà ở công nhân và phần nào thoả mãn nhu cầu về ăn, ở, làm việc của người lao động, tiết kiệm thời gian và phương tiện đi lại. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là khu đất xây dựng nhà ở không phát triển mở rộng được, đồng thời vi phạm quy định về xây dựng công trình công nghiệp (KCN không có dân cư sinh sống). Mặt khác người công nhân bị hạn chế về giao tiếp với bạn bè và người thân, phải sống đơn độc do nội quy của KCN.



* Tại thành phố Hà Nội:

Là một trong những địa phương chưa giải quyết được vấn đề xây dựng nhà ở công nhân các KCN. Mặc dù theo một số dự án xây dựng KCN trên địa bàn thành phố đã thiết kế quy hoạch khu ở và khu phục vụ công cộng cho công nhân nhưng chưa có doanh nghiệp nào quan tâm xây dựng nhà ở và các công trình phục vụ công cộng cho họ.

Để làm rõ tình hình xây dựng nhà ở dành cho công nhân ở thành phố Hà Nội, hãy xem xét lần lượt các dự án quy hoạch của 07 KCN đã được phê duyệt và xây dựng: KCN Sài Đồng B đã quy hoạch khu nhà ở công nhân với đầy đủ chức năng phục vụ công cộng bên cạnh KCN, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa triển khai xây dựng; KCN Hà Nội - Đài Tư khi quy hoạch KCN chưa bố trí khu nhà ở cho công nhân, nhưng KCN này có diện tích nhỏ (40 ha) lại gần kề với các khu dân cư và khu đô thị mới Ngọc Thuỵ - Gia Lâm nên có thể tận dụng quỹ nhà ở của thành phố; dự án KCN Bắc Thăng Long có diện tích rộng 121 ha nhưng cũng không tổ chức quy hoạch khu ở dành cho công nhân, trong khi KCN lại cách xa với các khu dân cư khác của thành phố; KCN Nội Bài - Sóc Sơn chiếm 240 ha đất cũng không quy hoạch khu nhà ở dành cho công nhân, KCN này cách xa trung tâm và cách xa các khu đô thị của thành phố; dự án KCN Sài Đồng A có bố trí quy hoạch khu nhà ở công nhân gắn bên cạnh KCN với đầy đủ các đơn vị ở, trung tâm hành chính quản lý và dịch vụ thương mại, nhưng hiện cũng chưa triển khai dự án này; KCN Nam Thăng Long có diện tích đất quy hoạch 260 ha cũng không đề cập đến việc quy hoạch dành đất để xây dựng khu nhà ở cho công nhân; KCN Đông Anh đã phê duyệt 110 ha đất xây dựng công nghiệp lại cách xa trung tâm thành phố nhưng trong dự án cũng không quy hoạch khu đất dành cho xây dựng nhà ở công nhân. (hình: 1.24)

Thành phố hiện đã phê duyệt quy hoạch và xây dựng 65 khu đô thị mới cao tầng với đầy đủ chức năng nhà ở tiện nghi và các công trình phục vụ công cộng cho khu nhà ở, trong đó có đề cập đến loại hình nhà ở dành cho tái định cư và bán cho người thu nhập thấp, nhưng qua thực tế cho thấy người công nhân trong các KCN không đủ điều kiện để thuê hoặc mua nhà cũng như sử dụng công trình phục vụ công cộng trong các khu đô thị mới hiện đại như vậy. Do đó, việc giải quyết về nhà ở của công nhân gắn với các KCN tại thành phố Hà Nội hiện nay rất cần được quan tâm. Dự kiến đến 2005 thành phố Hà Nội đạt 25 triệu m2 nhà ở các loại và xây dựng được 10.000 căn hộ với 450.000 m2 sàn cho cán bộ công nhân viên, người lao động có thu nhập thấp [36]. Hy vọng sau giai đoạn này, người lao động tại các KCN ở Hà Nội sẽ có chỗ ăn, ở ổn định.



1.2.2.4. Tổ chức giao thông đi lại ở thành phố Hà Nội

Hiện nay, toàn bộ đường nội thành của Hà Nội có tổng chiều dài 343 km, với mật độ bình quân là 4,08 km đường/km2 lại phân bố không đều và chưa hoàn thiện, có tới 580 điểm giao cắt nhau [31]. Mặt khác, hệ thống đường giao thông Hà Nội chật hẹp, phần lớn đã xuống cấp lại sử dụng nhiều phương tiện giao thông thô sơ nên hệ thống xe công cộng không phát huy được hiệu quả. Toàn thành phố mới giải quyết được hơn 3% lượng giao thông đi lại bằng ô tô buýt với 16 tuyến xe buýt phục vụ cho 28.872 lượt người/ngày.

Đối với tình hình đi lại của công nhân các KCN ở Hà Nội đi từ nơi ở tới nơi làm việc và ngược lại bằng các phương tiện như sau: Nhóm thứ nhất: người lao động thuê được nhà ở gần với nhà máy (0,5-1,0km) và có mức thu nhập thấp thì thường đi bộ (nhóm này thường là số nhỏ vì thuê gần nhà máy thì giá thuê nhà cao). Nhóm thứ hai: nhóm lao động thuê ở xa hơn (2-7km) thì họ đi làm bằng xe đạp. Nhóm thứ ba: ở xa hơn (7-12km) và có mức thu nhập cao hơn (cán bộ công chức) thì họ đi bằng xe gắn máy. Nhóm thứ tư: những công chức ở trong thành phố xa KCN (15-35km), thì được đưa đón bằng xe ô tô tuyến (số này rất ít vì chi phí vận chuyển cao), số còn lại đi bằng xe buýt (hình: 1.25). Tuy nhiên, số tuyến xe buýt cũng như điểm đón không đáp ứng được nhu cầu đi lại của người lao động, các điểm đón chỉ nằm trên các trục đường lớn, cách quá xa các khu dân cư nên cản trở tới việc đi bộ từ nhà đến điểm chờ xe buýt của người lao động. Ví dụ, tuyến Giáp Bát - Gia Lâm chỉ có 17 điểm đỗ và 96 lượt xe/ngày, thời gian là 10 phút/chuyến; tuyến Long Biên - Nội Bài có 14 điểm đỗ và 51 lượt xe/ngày, thời gian là 20/chuyến.

Toàn bộ đường nội thành có tới 40 điểm ách tắc giao thông gây tắc nghẽn và tai nạn giao thông thường xuyên xảy ra, ảnh hưởng tới môi trường do khói bụi, tiếng ồn và không đảm bảo thời gian đi lại của người lao động (một đoạn đường 2-5 km vào thời điểm tắc đường buổi sáng hoặc chiều đi lại mất 2-3h). Nếu làm phép tính đơn giản với thời gian công nhân làm việc trong nhà máy mất 10-12h/ngày, thời gian mua bán, thời gian ngủ và thời gian đi lại như trên sẽ không còn thời gian nhàn rỗi để nghỉ ngơi. Theo thống kê, thiệt hại mỗi ngày do ùn tắc giao thông gây ra ở Hà Nội ước tính một tỷ đồng.

Vậy, vấn đề đặt ra là nếu như bố trí khu ở, khu phục vụ công cộng gần với KCN sẽ giảm thiểu những vấn đề ảnh hưởng đến giao thông như hiện nay, còn trường hợp bố trí khu ở xa KCN thì hệ thống giao thông vận chuyển công nhân phải đảm bảo tốt thì mới giải quyết được những tồn tại nêu trên.

1.2.2.5 Nhận xét.

* Quy hoạch xây dựng KCN: ngành công nghiệp đã có chuyển biến đáng kể và đạt

được một số thành quả khả quan. Việc mở rộng nhiều loại hình sản xuất công nghiệp mới bên cạnh giải quyết việc làm đã tạo điều kiện cho việc mở rộng, tiếp thu nền công nghiệp tiên tiến trên thế giới.

Các KCN được quy hoạch xây dựng tương đối hoàn thiện, các xí nghiệp công nghiệp được phân khu theo tính chất đặc điểm để đảm bảo chống ô nhiễm môi trường, dây chuyền công nghệ chủ yếu là công nghệ sạch và hiện đại, do đó môi trường làm việc của người công nhân được cải thiện tốt hơn. KCN tập trung giúp cho liên hợp các xí nghiệp tiết kiệm một cách triệt để các công trình phụ trợ kỹ thuật, tiết kiệm hệ thống hạ tầng xã hội (nhà ở và các công trình phục vụ công cộng), hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, kho tàng bến bãi làm giảm giá thành đầu tư. Đặc biệt là các xí nghiệp công nghiệp có thể dùng sản phẩm hoặc phế thải của nhà máy này làm thành nguyên liệu của nhà máy khác.

* Xây dựng nhà ở cho công nhân: Hiện nay vấn đề tổ chức khu ở cho công nhân mặc dù được ban quản lý các KCN quan tâm nhưng vẫn đang là một vấn đề bức xúc và cấp thiết, cần được tất cả các cấp trong và ngoài ngành quan tâm. Việc để trôi nổi vấn đề xây dựng nhà ở công nhân các KCN tập trung là một việc làm sai lầm và thiếu trách nhiệm. Kinh nghiệm cho thấy nếu để các khu nhà ở này phát triển tự phát, không quy hoạch thì gây nên tình trạng lộn xộn, phá vỡ cấu trúc bền vững và ảnh hưởng đến môi trường của đô thị. (hình: 1.26)

Giải quyết tốt các khu ở công nhân và công trình hạ tầng xã hội trong khi quy hoạch xây dựng KCN sẽ giúp cho môi trường lao động tại các KCN trong sạch, công tác quản lý về an ninh trật tự xã hội dễ dàng hơn, bảo đảm vệ sinh môi trường sống tại khu vực người lao động thuê nhà tập trung.

* Xây dựng khu phục vụ công cộng: Nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu của người lao động, vẫn còn tình trạng họp chợ tự phát phía trước KCN gây nên tình trạng mất trật tự, cản trở giao thông và mất mỹ quan, gây ô nhiễm môi trường. Dịch vụ phục vụ trong các nhà máy còn yếu, không đồng bộ, khả năng liên kết hệ thống dịch vụ trong cùng một KCN còn thấp, thậm chí là hoàn toàn độc lập đối với các nhà máy. Hệ thống phục vụ công cộng về văn hoá, giao tiếp xã hội như nhà văn hoá, rạp chiếu bóng, câu lạc bộ... hoàn toàn chưa đặt ra khi quy hoạch xây dựng KCN.

* Giao thông đi lại: Hệ thống giao thông đã được cải tạo, mở rộng và xây dựng mới, nhưng chủ yếu chỉ ở trong khu công cộng hoặc ở các trục đường nối với KCN. Giao thông vận chuyển hành khách công cộng vẫn chưa hoàn thiện và phát triển. Công nhân đi làm chủ yếu vẫn bằng xe đạp, xe máy nên thường xảy ra tắc nghẽn giao thông trong các đô thị.


TÓM LƯỢC CHƯƠNG 1

1./ Tại các nước có nền công nghiệp phát triển, cùng với quá trình quy hoạch xây dựng phát triển KCN là việc xây dựng tổ chức khu ở, khu phục vụ công cộng dành cho công nhân và dân cư lân cận tạo thành khu đô thị công nghiệp mới.

2./ Thời kỳ kinh tế bao cấp, Nhà nước luôn chăm lo đến đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần của người công nhân lao động. Công nhân được bao cấp nhà ở và sử dụng các công trình phúc lợi công cộng của xã hội.

3./ Thời kỳ phát triển kinh tế thị trường, nhà ở và công trình phục vụ công cộng cho công nhân các KCN đang là một vấn đề xã hội cần quan tâm giải quyết, người lao động phải sống trong các nhà trọ tồi tàn, không đủ điều kiện sinh hoạt, ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống của họ.

4./ KCN hình thành và phát triển là một bộ phận cấu thành không gian đô thị, do đó khi quy hoạch công nghiệp cần đồng bộ hoá trong toàn bộ quá trình từ quy hoạch không gian đến quy hoạch chi tiết, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, khu dân cư, công trình dịch vụ phục vụ công cộng.

5./ Việc hình thành và phát triển các KCN sẽ kéo theo việc phát triển lực lượng công nhân với nhu cầu về nhà ở và công trình phục vụ công cộng, nên có chủ trương hình thành đồng thời KCN và khu dân cư gắn với KCN hoàn chỉnh như một đô thị loại nhỏ nằm bên cạnh, có trách nhiệm cung cấp các công trình hạ tầng xã hội cho KCN đó hoặc các KCN lân cận.

6./ Việc quy hoạch KCN phải có quy hoạch khu tái định cư, khu nhà ở công nhân và khu ở chuyên gia cho phù hợp với từng KCN. Các khu nhà ở xây dựng cho công nhân về lâu dài phải gắn liền với các khu dịch vụ phúc lợi công cộng; trước hết là dịch vụ ăn uống, chuyên chở công nhân, phục vụ các nhu cầu yếu phẩm hàng ngày. Phải gắn với với kế hoạch phát triển KCN, đồng bộ với các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và giữ gìn môi sinh môi trường nhằm từng bước nâng cao đời sống của cán bộ, công nhân viên và cộng đồng dân cư.

7./ Để tổ chức mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất ngày một hiệu quả hơn cần quan tâm giải quyết tốt hệ thống giao thông thành phố và tổ chức tốt các phương tiện vận chuyển công cộng.



CHƯƠNG 2

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TỔ CHỨC MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG Ở, PHỤC VỤ CÔNG CỘNG VÀ SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH QUY HOẠCH XÂY DỰNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TẠI HÀ NỘI

2.1. CON NGƯỜI VỚI SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP

2.1.1 Con người với chức năng ở, làm việc và sinh hoạt công cộng

Nhu cầu sống lành mạnh của của con người thể hiện ở 3 khía cạnh cơ bản: Ở, làm việc và sinh hoạt công cộng (như học tập, chữa bệnh, nghỉ ngơi, giải trí...)

Ba nhu cầu này gắn chặt với nhau và liên quan mật thiết với nhau, đều cần thiết cần được coi trọng và quan tâm như nhau. Đó là con người phải có trách nhiệm làm việc để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo ra cuộc sống ấm no hạnh phúc cho chính con người. Để tái tạo lại sức lao động, con người cần phải có chỗ ăn, ở, ngủ nghỉ. Ngoài ra, để phục vụ cho cuộc sống văn hoá tinh thần thì con người cần phải có nơi trao đổi thông tin, tình cảm và sinh hoạt cộng đồng; như nghỉ ngơi, giải trí... Như vậy để đảm bảo những nhu cầu sống chính đáng này, con người cần được cung cấp các không gian kiến trúc và môi trường sống có cảm giác tiện nghi, an toàn thoải mái, có điều kiện phát huy sáng tạo như nhau ở cả 3 nhu cầu: ở - làm việc và nghỉ ngơi.[89] (hình: 2.01)

Ngay từ thời xã hội nguyên thuỷ, con người đã biết tìm những hang động để trú thân (nơi ở) nhằm tránh thú dữ và mưa nắng, sau đó họ tìm đến những nơi có nhiều thú và hoa quả để săn bắn và hái lượm (làm việc) để đảm bảo cho cuộc sống của mình. Thời gian rảnh rỗi hoặc sau khi săn được thú rừng, họ tụ tập nhau vui chơi, mừng thắng lợi xung quanh thành quả lao động và cùng nhau hưởng thành quả của mình (nghỉ ngơi, vui chơi giải trí).

Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, các KCN chủ yếu dùng nhiên liệu sạch và giải quyết tốt vấn đề độc hại của các loại chất thải, có thể tổ chức các công trình nhà ở và dịch vụ công cộng của công nhân ở kề liền KCN sẽ tiết kiệm được thời gian đi lại, giảm đáng kể mật độ giao thông đô thị, chống ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, Đặc biệt là đối với các xí nghiệp công nghiệp mà có sử dụng nhiều lao động nữ, việc giảm thời gian đi lại tạo cho phụ nữ có nhiều thời gian nghỉ ngơi và nuôi dạy con cái học hành cũng như chăm lo gia đình được tốt hơn.



Tóm lại, các không gian để thoả mãn nhu cầu ở - làm việc và sinh hoạt công cộng của con người là rất cần thiết và luôn vận động bên nhau, nó linh hoạt thay đổi tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của xã hội.



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương