Mục lục trang



tải về 3.28 Mb.
trang3/16
Chuyển đổi dữ liệu08.11.2017
Kích3.28 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16

05. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIÁ TRỊ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.

- Thu thập thông tin, tài liệu từ các hội thảo khoa học, tổng kết sách báo và kết hợp với phương pháp luận nhận thức về quá trình quy hoạch xây dựng KCN trong và ngoài nước.

- Nghiên cứu thực tiễn tại các KCN, khảo sát hiện trạng, chụp ảnh, đo vẽ, phỏng vấn và điều tra xã hội.

- Tổng hợp, quy nạp các cơ sở lý thuyết về xu hướng quy hoạch, xây dựng phát triển các KCN mới trong thời kỳ công nghiệp hoá.



- Đề tài đóng góp một phần vào việc nghiên cứu, tạo lập mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất nhằm nâng cao chất lượng điều kiện sống cho người lao động. Từ đó thiết lập được sự hoàn thiện trong phương pháp thiết kế quy hoạch, xây dựng phát triển KCN ở Hà Nội. Ngoài ra, còn là tài liệu bổ xung cho các lĩnh vực chuyên ngành về nghiên cứu, thiết kế kiến trúc, quy hoạch xây dựng các KCN trong thời kỳ công nghiệp hoá đất nước. (hình:M.01B)

06. CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm 234 trang A4, trong đó có 30 bảng biểu và 91 hình vẽ, được chia thành 3 chương:



Cơ cấu của luận án như sau:

Chương 1: Tình hình tổ chức mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất trên thế giới, ở Việt Nam và Hà Nội.

Chương 2: Cơ sở khoa học của việc tổ chức mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất trong quá trình quy hoạch xây dựng các KCN tại Hà Nội.

Chương 3: Tổ chức mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất trong quá trình quy hoạch xây dựng KCN tại Hà Nội.

Kết luận và kiến nghị.

Tài liệu tham khảo:

119 tài liệu tiếng Việt và 19 tài liệu tiếng nước ngoài.




CHƯƠNG 1

TÌNH HÌNH TỔ CHỨC MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG Ở, PHỤC VỤ CÔNG CỘNG VÀ SẢN XUẤT TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC

1.1. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG Ở, PHỤC VỤ CÔNG CỘNG VÀ SẢN XUẤT TRÊN THẾ GIỚI.

1.1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển công nghiệp

Quá trình hình thành và phát triển công nghiệp ở Châu Âu diễn ra vào những năm cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ thứ XIX tại Vương quốc Anh, gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (phát minh ra máy hơi nước năm 1769); máy dệt và xe lửa - năm 1825; nhà máy điện, lò luyện thép - năm 1855 [100].

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được đánh dấu bằng sự phát triển của động cơ điện và động cơ đốt trong, tạo nên khả năng chủ động cung cấp năng lượng cho sản xuất công nghiệp. Giai đoạn này chuyển hoàn toàn từ cơ cấu sản xuất thủ công sang cơ cấu sản xuất công nghiệp. Xuất hiện sự phân công lao động và sử dụng tự động hoá trong sản xuất.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, nhu cầu về khôi phục nền kinh tế tạo tiền đề cho công nghiệp phát triển nhanh chóng. Kỹ thuật xây dựng phát triển đã áp dụng công nghệ lắp ghép vào các công trình công nghiệp. Do đẩy nhanh xây dựng công nghiệp phục vụ nhu cầu sản xuất nên công nghiệp không đáp ứng được thẩm mỹ cho đô thị từ khâu quy hoạch cho đến xây dựng công trình.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3 vào những năm cuối thế kỷ XX được đánh dấu bước phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin, công nghệ điện tử, công nghệ sạch. Với công nghệ tiên tiến trong sản xuất công nghiệp dẫn đến yêu cầu trình độ lao động cao hơn, sản phẩm phải đạt chất lượng cao để nhằm cạnh tranh toàn cầu. Thời kỳ này môi trường sinh thái được đặc biệt quan tâm, thể hiện ở yêu cầu phát triển một nền sản xuất công nghiệp tiết kiệm, hiệu quả. Trong các KCN xuất hiện các dây chuyền tái chế sản phẩm cũ hoặc chất thải công nghiệp để đưa ra một loại sản phẩm có giá trị kinh tế khác. Chính yêu cầu công nghiệp hoá đã tạo thành KCN tập trung nhằm mục đích tận dụng thành quả tiến bộ khoa học kỹ thuật.
KCN trải qua các thời kỳ phát triển như sau:

Thời kỳ thứ nhất (cuối thế kỷ thứ XVIII): thời kỳ tiền tư bản phát triển, các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp được xây dựng đan xen trong đô thị (nơi ở và nơi làm việc kề liền nhau), không có quy hoạch, thiếu đồng bộ về dây chuyền chức năng, nhà tư bản chủ yếu đẩy nhanh lợi nhuận, ít quan tâm đến đời sống người lao động và môi trường đô thị. Các xí nghiệp công nghiệp thời kỳ này được tổ chức mà không chú ý đến thẩm mỹ, hạ tầng kỹ thuật đơn giản, tiêu chuẩn môi trường lao động không được quan tâm, khả năng hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp kém.

Thời kỳ thứ hai (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX): thời kỳ tư bản phát triển, các nhà sản xuất không quan tâm đến vấn đề quy hoạch xây dựng công nghiệp với việc bảo vệ môi trường nên dẫn đến điều kiện vệ sinh công nghiệp vô cùng tồi tệ, khói và bụi do các nhà máy thải ra làm ảnh hưởng nặng nề tới môi trường đô thị, họ xem công trình công nghiệp như là chỉ có vai trò chức năng sản xuất đơn thuần nên chi phí đầu tư xây dựng thấp.

Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp dẫn đến sự thu hút lực lượng lao động và tình trạng không kiểm soát được quá trình đô thị hoá của các thành phố châu Âu. Sự tập trung đông dân cư quá mức trong các đô thị kèm theo là sự thiếu hụt về nhà ở đô thị, đặc biệt là nhà ở và các công trình phục vụ công cộng dành cho công nhân giai đoạn này không được các nhà tư bản quan tâm nên người lao động nghèo khổ phải ăn, ở, sinh hoạt trong những ngôi nhà “ổ chuột’ tồi tàn ven thành phố nơi có các ngôi biệt thự vườn và những khu nhà ở sang trọng.



Thời kỳ thứ ba (giai đoạn hiện nay): thời kỳ của khoa học công nghệ phát triển, các loại hình KCN, khu công nghệ cao (High - technology Park), “công viên khoa học” (Science park), “Làng khoa học” (Office and Business Park), các KCN này là những mô hình lý tưởng về trình độ tổ chức sản xuất, đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật; đảm bảo môi trường sinh thái tốt hơn cho con người trong các hoạt động như: sản xuất, nghiên cứu, học tập nâng cao trình độ, ăn, ở, nghỉ ngơi vui chơi giải trí.

Thời kỳ này mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất liên hệ mật thiết với nhau, chúng đan xen không phân biệt ranh giới và hỗ trợ nhau cùng phát triển. Đây là những cơ sở để tạo thuận lợi cho việc tổ chức khu ở, phục vụ công cộng gắn với KCN. (hình: 1.01)



1.1.2. Tình hình tổ chức mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất.

Cùng với quá trình phát triển công nghiệp, vấn đề tổ chức quy hoạch các thành phố công nghiệp trên thế giới đã được các nhà quy hoạch có tư tưởng tiến bộ quan tâm và đề xuất ra những lý luận về thành phố công nghiệp nhằm giải quyết tốt chức năng ở, phục vụ công cộng gắn liền với KCN, xem chúng là một thành phần của quá trình phát triển đô thị bền vững. Họ là những nhà tiên phong quan tâm đến việc xây dựng nhà ở phục vụ cho người lao động. Các giải pháp tiêu biểu nhất đó là:

* Năm 1879 Pul-lo-man và I-li-noa đã đề xuất phương án quy hoạch thành phố công nghiệp đơn giản, tổ chức khu nhà ở công nhân bên cạnh KCN, hệ thống vận chuyển bằng đường sắt và đường thuỷ tổ chức về một phía so với KCN và khu ở. (hình: 1.02A)

* Năm 1942 Lo Cooc-buy-die đề xuất mô hình thành phố công nghiệp theo chuỗi và dải, ở đó KCN bố trí theo dải ở một phía; ở giữa là dải cây xanh cách ly và bên phía kia là khu ở. Lý thuyết này được áp dụng trong các KCN hiện nay trong việc cải thiện môi trường đô thị. (hình: 1.02B)

Ông Robớt-Ô-oen là nhà tư sản Anh. Ông có tư tưởng rất tiến bộ, luôn quan tâm đến đời sống của người công nhân nghèo khổ đã nói về việc các nhà tư sản Anh đối xử với công nhân của họ như sau: “Người ta chú trọng đến các máy móc vô tri vô giác nhưng chẳng quan tâm gì đến con người làm việc như cái máy” và ông đã giúp đỡ công nhân của mình thông qua những việc cụ thể như: tăng lương, giảm giờ làm (công nhân làm việc 10h/ngày); xây dựng nhà cho công nhân; quan tâm đến việc ăn uống của công nhân và chăm lo giữ gìn vệ sinh cho khu nhà ở công nhân; mở trường dạy học cho con em họ.[67]

Để khái quát được tình hình phát triển KCN gắn với chức năng ở và phục vụ công cộng, có thể kể đến một số KCN ở các nước phát triển và trong khu vực ASIAN.



1./ Vương quốc Anh

Trong những năm đầu của thế kỷ XX, tại Anh đã xuất hiện các thành phố - vườn, những thành phố đó được xem như khuynh hướng mới trong quy hoạch thành phố công nghiệp hiện đại. Thành phố - vườn được chia ra từng khu vực để bố trí nhà ở, các công trình phục vụ công cộng, nơi nghỉ ngơi và khu bố trí các xí nghiệp công nghiệp.



* Thành phố - vườn: Letch woth

Năm 1901 ở Anh xây dựng một thành phố - vườn cách Luân đôn 30 dặm, dân số 33.000 người. Đường sắt chạy từ hướng Tây sang Đông và đường ô tô chạy vuông góc đã chia thành phố làm 4 phần, mỗi phần đều có các trung tâm phục vụ. Trung tâm thành phố nằm ở phần Tây Nam cạnh ga chính. Phía Đông của thành phố bố trí các các xí nghiệp công nghiệp. (hình: 1.02C)



* Thành phố - vườn: Welwwyn

Năm 1919 thành phố- vườn Welwwyn do Lonis soissons thiết kế cách Luân Đôn 21 dặm. Thành phố được chia ra 4 phần bởi đường sắt Bắc Nam và đường nhánh, song song với đường sắt là đường phố chính chạy qua trung tâm buôn bán và văn hoá, hệ thống công trình phục vụ công cộng được bố trí cùng với cây xanh, các xí nghiệp công nghiệp nằm ở phía Đông đường sắt. [96] (hình:1.03A)



* Thành phố vườn của Ebenezer Howard:

Thành phố vườn của Ebenezer Howard được đề xướng vào năm 1896. Với ý tưởng là: phân bố lại dân cư đô thị thành từng đơn vị thành phố vệ tinh xung quanh thành phố trung tâm có quy mô lớn nhất (58.000 người). Thành phố vườn là thành phố vệ tinh có quy mô dân số 32.000 người, quy mô đất đai khoảng 400 ha với nhà ở gia đình thấp tầng có vườn. Thành phố được bao bọc bởi các khu cây xanh và đất sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Các thành phố liên hệ với nhau bằng các tuyến đường sắt và đường ô tô [39]. (hình: 1.03B)



* Thành phố công nghiệp Tony-Garnier:

Được thiết kế quy hoạch cho 35.000 dân bao gồm 3 khu chức năng chính. Khu nhà ở và trung tâm phục vụ công cộng của thành phố nằm ở phía Tây Bắc của KCN. KCN được bố trí nằm ở cuối hướng gió so với khu ở và khu phục vụ công cộng. Bên cạnh khu ở còn bố trí các công trình bảo vệ sức khoẻ và nghỉ ngơi ở nơi có hướng gió mát và có khí hậu tốt nhất. Trường dạy nghề, trường học, công viên cũng được quan tâm xây dựng. Hệ thống giao thông đi lại giữa các chức năng được tổ chức thuận tiện, hợp lý [96]. (hình: 1.03C)


* Thành phố công nghiệp Harlow:

Thiết kế năm 1947 là một trong những thành phố vệ tinh của Luân Đôn, thành phố có 4 khu nhà ở mỗi khu nhà có khoảng 15-20.000 dân, Harlow được coi là thành phố điển hình về cơ cấu thành phố công nghiệp. KCN được bố trí ở phía Bắc của thành phố gần với hệ thống đường sắt. Những xí nghiệp công nghiệp lớn có yêu cầu về vận chuyển cao bố trí ở ngoại vi thành phố, những ngành công nghiệp nhẹ và thực phẩm được bố trí trong khu nhà ở để tận dụng lực lượng lao động nữ có con nhỏ. (hình: 1.04A)



* Thành phố công nghiệp Stevenage:

Thành phố Stevenage được xây dựng vào năm 1947 là một trong 6 thành phố được xây dựng xung quanh Luân Đôn, dân số dự kiến 60-70.000 người với 6 khu nhà ở kế cận nhau bao bọc quanh trung tâm thành phố. KCN được bố trí nằm ở phía Tây giữa đường sắt và đường cao tốc đi Luân Đôn. Cách tổ chức này nhằm đưa KCN gần các khu ở và trung tâm phục vụ công cộng. Mối liên hệ giữa nhà ở, trung tâm phục vụ công cộng và KCN chủ yếu bằng đường ô tô.[96] (hình:1.04B)



* Thành phố công nghiệp Runcern:

Thành phố Runcern được thiết kế vào năm 1967 với một trong những đặc điểm nổi bật trong giải pháp quy hoạch là giải quyết tốt mối quan hệ giữa KCN với khu dân cư. Để xác định quy mô tổ chức khu nhà ở người ta dựa vào nguyên tắc tổ chức thời gian đi bộ từ nhà đến bến xe công cộng không quá 5 phút. Từ đó tổ chức đường vành đai và các khu nhà ở bố trí phía trong đường vành đai. Giao thông đi lại tương đối thuận tiện và phù hợp với nhiều loại hình phương tiện khác nhau. (hình:1.05A)



2./ Cộng hoà Nam Tư

KCN Skopie tại Nam Tư do các kiến trúc sư Nam Tư và Ba Lan phối hợp thiết kế năm 1968. Đây là một trong hai KCN được bố trí trong thành phố Skopie. Số lượng công nhân dự kiến vào năm 1981 là 34.000 người, quy mô diện tích 600 ha. Trong khu vực KCN được bố trí các các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội. Các công trình phục vụ bố trí theo nguyên tắc tập trung và phân theo 3 cấp: toàn KCN; trong phạm vi cụm công nghiệp và trong từng nhà máy. Các công trình phục vụ công cộng, triển lãm, cửa hàng, trường dạy nghề, công trình văn hoá được bố trí ở trung tâm dọc theo đường giao thông chính phía Tây. Hệ thống đường giao thông tổ chức tốt tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại của công nhân, vận chuyển hàng hoá trong và ngoài KCN [96]. (hình: 1.05B)



3./ Cộng hoà Rumani

Quy hoạch KCN tại Rumani trong những năm qua nhằm tổ chức thuận lợi cho vấn đề đi lại của người lao động, giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nhàn rỗi, giảm khối lượng vận chuyển công cộng, người ta đã quy hoạch các khu dân cư mới gần KCN. Tuy nhiên, để giảm bớt tiếng ồn và nồng độ bụi do KCN gây ra đối với khu ở, các nhà quy hoạch Rumani đã xác định khoảng cách hợp lý giữa KCN và khu dân cư, đưa ra các nguyên tắc bố trí loại hình sản xuất công nghiệp nằm trong thành phố, kề cận và ngoài thành phố. Nguyên tắc được sử dụng trong quy hoạch KCN là các loại xí nghiệp không hoặc ít thải ra chất độc hại, sử dụng ít nguyên liệu, khối lượng vận chuyển nhỏ và sử dụng nhiều lao động nữ thì đặt gần khu dân cư.



4./ Cộng hoà liên bang Đức

Là một trong những nước có cơ sở hạ tầng và môi trường sống tiên tiến nhất thế giới, Đức có chiến lược rõ ràng trong nhiệm vụ hoạch định đô thị và phát triển các thành phố công nghiệp gắn với vấn đề bảo vệ môi trường đô thị và công nghiệp [130]. Để đảm bảo được môi trường đô thị, các nhà quy hoạch đã phân vùng KCN trong đô thị hợp lý: KCN có nhiều bụi, ồn và độc hại được tổ chức quy hoạch tách xa khu dân cư xung quanh có cây xanh cách ly, các KCN sạch, ít độc hại và sử dụng nhiều lao động nữ được tổ chức kề liền hoặc xen kẽ với khu ở nhằm tiết kiệm nguồn lao động và thời gian đi lại của công nhân. (hình: 1.06).

Bên trong KCN cũng được các nhà thiết kế quan tâm tổ chức môi trường lao động tốt, được đặc biệt chú trọng cảnh quan KCN, sân vườn cây xanh, tiểu kiến trúc được bố trí hợp lý làm tôn thêm vẻ đẹp cho các KCN trên toàn lãnh thổ nước Đức (hình: 1.07). Ngoài tổ chức cảnh quan KCN và môi trường lao động trong các xí nghiệp, vấn đề tổ chức các loại hình công trình phục vụ công cộng cũng rất được quan tâm; như nhà trẻ, trường học; các công trình nghỉ ngơi như bể bơi, công viên; các công trình phục vụ ăn uống. (hình: 1.08)

5./ Trung quốc

Chiến lược phát triển đô thị của Trung Quốc là mở rộng đô thị ra các vùng phụ

cận của các thành phố lớn như Bắc Kinh, mở thêm nhiều các KCN, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu mậu dịch tự do và khu kinh tế đặc biệt. Ngoài ra, họ còn xây dựng nên các vùng công nghiệp mới như đặc khu kinh tế Thâm Quyến, Sau Dâu, Chu Hải, Hạ Môn… Đối với các công trình nhà ở, công trình phục vụ công cộng trong các KCN, Trung Quốc đã tập trung sự quản lý việc xây dựng đô thị nói chung và nhà ở công nhân các KCN nói riêng để bán hoặc cho thuê lại. Mô hình này rất tốt cho việc quản lý và phát triển cơ sở hạ tầng xã hội KCN.

Một trong những khu công nghệ cao như vậy là khu đầu tiên thử nghiệm phát triển khu công nghệ cao Bắc Kinh được thành lập vào tháng 3/1998 nhằm đưa các nghiên cứu của Trung Sơn Quán áp dụng vào nền kinh tế, Bắc Kinh bắt đầu thu hút các viện nghiên cứu khoa học và các trường đại học thành lập các doanh nghiệp trong khu, khu công nghệ cao Bắc Kinh được coi là thung lũng Silicon của Trung Quốc, các thiết bị và linh kiện điện tử, các phần mềm và phần cứng để tự động hoá các văn phòng và thông tin thương mại, công nghệ.

Để phát triển các KCN, Nhà nước Trung Quốc đã có những ưu đãi như sau; thứ nhất tăng tỷ lệ vốn ngân sách đầu tư vào khoa học công nghệ; thứ hai thu hút các nhà khoa học từ nước ngoài trở về và đầu tư kinh phí để họ phát triển khoa học; thứ ba các trường đại học và viện nghiên cứu khoa học nổi tiếng trong và ngoài nước được hỗ trợ để thành lập tại Thâm Quyến các cơ sở nghiên cứu, cơ sở chuyển giao kết quả nghiên cứu công nghệ, các trung tâm đào tạo… thứ tư những nhà khoa học công tác tại doanh nghiệp công nghệ cao như chuyển đổi công tác, học tập nâng cao trình độ, đăng ký định cư thường xuyên thì họ và gia đình họ được đối xử như đối với công dân thường trú tại Thâm Quyến [47].

6./ Thái Lan

Hơn hai thập kỷ qua là sự bùng nổ của quá trình phát triển công nghiệp ở Thái Lan. Các KCN ở Thái Lan được quy hoạch trên cơ sở như một thị trấn hay thành phố công nghiệp, có đầy đủ chức năng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của một đô thị, ở đó KCN luôn có các công trình đảm bảo khép kín như ăn, ở, sinh hoạt đời sống của người lao động. KCN thường quy hoạch chiếm đất với diện tích lớn từ 300ha-500ha. Nếu tính đồng bộ cả khu ở, khu phục vụ công cộng thì diện tích KCN lên đến hàng ngàn ha.

Về vấn đề đầu tư nhà ở cho người lao động các KCN, chúng ta có thể tham khảo một số kinh nghiệm đầu tư như sau: Xây dựng nhà ở cho công nhân các KCN được chia ra làm bốn giai đoạn: Giai đoạn đầu; chính phủ chú trọng đầu tư nhà chung cư thay thế nhà ở tạm của công nhân, nhằm giảm bớt sức ép lên khu dân cư và trung tâm đô thị. Giai đoạn thứ hai; đầu tư trang thiết bị nội thất và tổ chức các không gian kiến trúc nhỏ trong căn hộ để người lao động yên tâm ở với căn hộ hiện đại, văn minh hơn. Giai đoạn thứ ba; mở rộng đầu tư ra khỏi căn hộ, quan tâm đến cảnh quan môi trường xung quanh tạo sự hài hoà giữa con người với môi trường tự nhiên như các công trình nghỉ ngơi, cây xanh, công viên, tượng đài và các dịch vụ kèm theo. Giai đoạn thứ tư; tạo nên sự liên kết xã hội, mối quan hệ thân thuộc đối với không gian ở và mối quan hệ giữa con người với con người trong khu ở [5].

7./ Malaixia

Năm 1994 Malaixia đã có 165 KCN trên toàn lãnh thổ, có nhiều khu vực đã và đang nghiên cứu để quy hoạch xây dựng. Malaixia quan tâm phát triển nhiều KCN vừa và nhỏ. Mỗi lô đất vào khoảng 300m2, dành cho các doanh nghiệp tư nhân sản xuất các mặt hàng không gây ô nhiễm môi trường. Nhà xưởng sản xuất xây đồng bộ điển hình từ 1-2 tầng. Tổ chức các khu nhà ở công nhân KCN ngay liền kề với nhà máy. [68]

Quá trình quy hoạch luôn dành phần đất trồng cây xanh kết hợp với sân bãi thể thao, giải trí. Trong KCN có tổ chức đầy đủ các dịch vụ ăn uống, sinh hoạt công cộng, phục vụ y tế cho công nhân.

8./ Singapore

Là một đất nước 100% dân số đô thị, Singapore rất coi trọng xây dựng công nghiệp, phát triển đô thị và công nghiệp đồng bộ đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường. Vì điều kiện đất đai chật chội nên xu hướng xây dựng KCN phần lớn là công nghiệp nhẹ, nhà xưởng được xây dựng cao tầng. Các KCN được thiết kế đồng bộ từ xây dựng kỹ thuật hạ tầng đến các công trình công nghiệp.

Các KCN được bố trí quanh trung tâm thành phố, liền kề với các khu nhà ở, tiết kiệm thời gian đi lại của công nhân.

Nét nổi bật trong quy hoạch KCN của Singapore là giải quyết tốt vấn đề về hạ tầng kỹ thuật, tổ chức không gian kiến trúc quy hoạch môi trường sinh thái, đảm bảo một đô thị bao gồm nhiều chương trình phát triển CN - đô thị - môi trường - du lịch đồng bộ và hỗ trợ tốt cho nhau [68].



9./ Hàn Quốc

Hàn Quốc cũng là một đất nước có nền công nghiệp phát triển mạnh. Chính phủ Hàn Quốc luôn khuyến kích sự tăng trưởng công nghiệp bằng cách quan tâm đến lợi ích và đời sống người công nhân, họ xây dựng nhà ở dành cho công nhân các KCN và tiền thuê nhà được trừ vào lương hàng tháng, tuỳ theo trình độ tay nghề và sự gắn bó lâu dài của người lao động với KCN mà tiện nghi về nhà ở của họ thay đổi theo. Ví dụ, lao động phổ thông ở trong nhà chung cư tập thể; công nhân lành nghề ở trong các căn hộ độc lập với tiện nghi cao hơn; công nhân có tay nghề và thu nhập cao được ở nhà khối ghép có sân vườn. Ngoài ra, họ được sử dụng chung các công trình phúc lợi công cộng như nghỉ ngơi, chữa bệnh, học tập, sinh hoạt văn hoá…

Khi người công nhân đến tuổi nghỉ hưu thì không được thuê nhà trong khu ở công nhân nữa, doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện để họ tìm chỗ ở mới phù hợp. Mục đích các doanh nghiệp ở Hàn Quốc chú trọng đến đời sống vật chất và tinh thần của người lao động là nhằm thu hút lao động có tay nghề cao, ổn định nhân lực để phát triển sản xuất.

Trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà ở cho công nhân KCN ở Hàn Quốc bao gồm cả ba phía: thành phố (chính quyền địa phương), chủ doanh nghiệp (người sử dụng lao động) và bản thân người công nhân.



1.1.3. Kinh nghiệm và xu hướng phát triển

* Kinh nghiệm:

- Đi đôi với quá trình quy hoạch phát triển KCN là tổ chức tốt khu nhà ở và các công trình phục vụ công cộng cho công nhân gắn với KCN.

- Các KCN không độc hại và dùng chủ yếu lao động nữ thì được đưa vào kề liền với khu ở để tận dụng nguồn lao động nữ nuôi con nhỏ

- Quan tâm phát triển nâng cao trình độ cho người lao động.

- Quy hoạch KCN đồng bộ từ hạ tầng kỹ thuật đến hạ tầng xã hội, thành lập hàng loạt hệ thống dịch vụ phục vụ công cộng, thông tin liên lạc, giao thông vận tải và các trang thiết bị để phát triển môi trường sản xuất tốt hơn.

- Các KCN sạch, ít độc hại được bố trí gần với các khu ở, nhằm tạo điều kiện

thuận lợi cho tổ chức đi lại giữa nơi ở và nơi làm việc, rút ngắn khoảng cách giữa KCN và khu dân cư.



* Xu hướng phát triển

- Hình thành nhiều các loại hình KCN kỹ thuật cao như “Khu công nghệ cao”, “Công viên khoa học”, “Làng khoa học”. Đây là các khu vực tập trung các công trình hoạt động nghiên cứu khoa học và sản xuất như công nghệ phần mềm, quang học, sinh học… kết hợp với các công trình dịch vụ thương mại, khu nhà ở cho chuyên gia và công nhân viên, văn phòng cho thuê và khu nghỉ ngơi, cây xanh, mặt nước tạo nên công viên xanh hoặc KCN sinh thái. [100]

- Xu hướng phát triển các loại hình nhà máy trong KCN có khả năng đáp ứng cho một vài ngành sản xuất khác nhau.

- Giảm thiểu tác hại của sản xuất đối với môi trường, tiết kiệm đất xây dựng nhà máy và tăng diện tích cây xanh trong KCN là những giải pháp hiệu quả được đặc biệt chú ý để giải quyết vấn đề môi trường đô thị.



- Tăng cường giải quyết tốt môi trường lao động trong KCN cùng với phát triển nền khoa học sản xuất tiên tiến.
1.2. TÌNH HÌNH TỔ CHỨC MỐI QUAN HỆ GIỮA CHỨC NĂNG Ở, PHỤC VỤ CÔNG CỘNG VÀ SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM VÀ HÀ NỘI.

1.2.1. Giai đoạn từ năm 1954 đến 1986

1.2.1.1. Tình hình tổ chức mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất ở trong nước

1./ Về xây dựng phát triển công nghiệp

* Miền Bắc: chiến lược phát triển kinh tế của chúng ta trong giai đoạn này là phát triển nhanh và mạnh nền công nghiệp nặng, nhiều nhà máy, hầm lò được khôi phục và xây dựng mới, đưa tổng số xí nghiệp công nghiệp từ 41 nhà máy năm 1954 lên 151 năm 1957. [87]

Ngoài một số các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định đã hình thành thêm nhiều KCN, cụm công nghiệp tại các khu vực như: Việt trì,

Phù Ninh, Lâm Thao, Thái nguyên, Phổ Yên, Bắc Giang, Phả Lại, Kim Môn, Ninh Bình...

KCN Việt Trì bao gồm các xí nghiệp công nghiệp như: phốt phát Lâm Thao, hoá chất Việt trì, nhà máy phân đạm, lân. Xây dựng công nghiệp cũng kéo theo việc xây dựng các khu nhà ở, các hệ thống dịch vụ công cộng, trường học, công viên hình thành nên thành phố Việt Trì.

KCN Bỉm Sơn - Thanh Hoá cũng được xây dựng đồng bộ: nhà máy xi măng, nhà máy gạch Ba Lan, nhà máy chế biến gỗ. Quá trình xây dựng các nhà máy cũng là quá trình hình thành đô thị do nhu cầu sinh hoạt đời sống và văn hoá của công nhân nhà máy. Để phục vụ đời sống cho công nhân và dân cư xung quanh, KCN Bỉm Sơn đã xây dựng các trung tâm văn hoá, rạp hát, rạp chiếu phim, chợ, trường học, nhà trẻ...

Thành phố Nam Định gồm các nhà máy bông, vải, sợi, nhà máy dệt, nhà máy tơ, nhà máy chai... đều được tiếp quản từ thời Pháp. Hệ thống nhà máy được cải tạo mở rộng, các khu nhà ở công nhân được hình thành, trường học nhà trẻ, mẫu giáo cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm xây dựng nhằm đào tạo các thế hệ cho tương lai.

Thành phố Hải Phòng: KCN Thượng lý, Đoạn Xá, Vật Cách, Minh Đức. Thành phố Thái Nguyên: KCN gang thép Thái Nguyên, cơ khí Gò Đầm, Sông Công.

* Miền Nam: phần lớn KCN phát triển ở các đô thị lớn như Sài Gòn, Biên Hoà, Nha Trang, Cần Thơ, Đà Nẵng. Trong đó, KCN Biên Hoà được xây dựng năm 1959 có diện tích khoảng 376 ha với trên 70 nhà máy hoạt động, sử dụng lực lượng công nhân lớn, thu hút được nhiều các nhà đầu tư trong và ngoài nước, chiếm khoảng 70% xí nghiệp công nghiệp và 80% năng lực sản xuất công nghiệp của cả miền Nam. Năm 1970 KCN Biên Hoà có 42 nhà máy, với 6.355 công nhân. Giữa những năm 1960, ở miền nam đã hình thành các KCN tập trung và thành lập cơ quan SONADEZI với chức năng quản lý, vận hành, khai thác các KCN.

2./ Về tổ chức nhà ở cho công nhân

Ở miền Bắc, giai đoạn này để đảm bảo đời sống của người lao động, Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích việc xây dựng khu ở công nhân cùng với quy hoạch xây dựng KCN. Người lao động được bao cấp nhà ở tập thể đối với những người lao động đến từ tỉnh ngoài và nhà ở trong khu dân cư đô thị đối với người lao động ở thành phố.

Tại các thành phố lớn sau khi phát triển mở rộng công nghiệp, các khu nhà ở dành cho công nhân và các khu dân cư lân cận cũng được xây dựng như khu Vạn Mỹ của Hải Phòng; khu Quang Trung (xây dựng năm 1960) của Vinh. Các khu nhà ở này được xây dựng khá quy mô, đồng bộ theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa.

Cùng với việc xây dựng khu tập thể dân cư đô thị, các khu tập thể dành cho công nhân cũng được hình thành ở mỗi KCN như: làng công nhân ở thị xã Hoà Bình của nhà máy thuỷ điện Sông Đà, làng công nhân ở thị xã Bắc Thái của khu gang thép Thái Nguyên.

Ở miền Nam, trước năm 1960, người Pháp đã quy hoạch xây dựng 11 khu dân cư dành riêng cho công nhân cao su, mỗi khu có quy mô từ 1.500-3.000 người, ổn định đời sống cho hơn 20.000 công nhân. Các khu được quy hoạch kiểu hình ô cờ. Trong khu dân cư có một số các công trình phục vụ công cộng như: cửa hàng, trạm xá, nhà thờ, các trụ sở điều hành… Nhà ở theo dạng sân vườn có diện tích 200-500m2/hộ [5].

Thời kỳ 1960-1975, KCN Biên Hoà thu hút khoảng 16.000 lao động, trong đó lao động tại địa bàn tỉnh Đồng Nai chỉ chiếm 30%, KCN Biên Hoà đã quy hoạch khu dân cư nằm ở phía nam của KCN, cạnh khu dân cư phường An Bình với 20 ha. Trong khu dân cư có một số khu cư xá dành cho công nhân với kiến trúc dạng nhà liên kế 2 tầng đáp ứng khoảng 500 gia đình công nhân.



3./ Về tổ chức công trình phục vụ công cộng

Các công trình phục vụ công cộng được xây dựng đồng bộ gồm hệ thống các nhà ăn ca, nhà căng tin dịch vụ trong các nhà máy. Tại các khu ở có nhà trẻ, trường mẫu giáo, hệ thống các công trình phục vụ văn hoá tinh thần cho công nhân. Ví dụ điển hình về xây dựng khu phục vụ công cộng đồng bộ phải kể ra đến KCN Thái Nguyên (thị xã Bắc Thái là khu dân cư đô thị được hình thành nên bởi sự ra đời của khu gang thép Thái Nguyên). Đô thị này gồm các làng công nhân và khu ở công nhân, có nhà văn hoá công nhân, rạp chiếu phim ngoài trời và trong nhà, nhà hát ngoài trời và sân vận động 28.000 chỗ ngồi,chợ, bách hoá, công viên, có nhà trẻ mẫu giáo, trường trung học và dạy nghề. KCN còn đầu tư xây dựng trường cấp III và bổ túc văn hoá có 2000 học sinh và gần 100 giáo viên.


4./ Về tổ chức giao thông đi lại

Giai đoạn này phương tiện phục vụ đi lại còn thô sơ, chủ yếu là xe đạp và đi bộ, hệ thống xe buýt, xe điện còn khan hiếm và xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân đô thị và công nhân. Chính vì vậy mà khi quy hoạch KCN, các nhà thiết kế đã tính đến khoảng cách đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc và thời gian tham gia các sinh hoạt công cộng khác trong ngày của người lao động để thiết kế quy hoạch khu ở gần với KCN.



1.2.1.2. Tình hình tổ chức mối quan hệ giữa chức năng ở, phục vụ công cộng và sản xuất ở Hà Nội.

1./ Về xây dựng phát triển công nghiệp

Thành phố Hà Nội có 9 KCN được xây dựng trong giai đoạn này gồm: KCN Minh Khai-Vĩnh Tuy; Thượng Đình- Nguyễn Trãi; Trương Định- Giáp Bát; KCN Gia Lâm-Yên Viên; KCN Cầu Diễn-Mai Dịch; KCN Pháp Vân- Văn Điển; KCN Chèm; KCN Cầu Bươu; KCN Đông Anh.

Các KCN xây dựng trong giai đoạn này chủ yếu là các ngành sản xuất công nghiệp cơ khí, chế tạo máy, sản xuất vật liệu xây dựng, hoá chất, chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc. (hình:1.09,1.10) (bảng: 1.1)
Bảng 1.1: Các khu công nghiệp cũ tại thành phố Hà Nội



TT

Khu

Công nghiệp

Số XN

Diện

Tích (ha)

Sl.công nhân (người)

Ngành

Ngành chủ đạo

1

Minh Khai-Vĩnh Tuy

38

81

15.900

07

Dệt, sợi, may mặc

2

Thượng Đình Nguyễn Trãi

29

70

17.200

09

Cơ khí, hoá chất, thực phẩm...

3

Trương Định

Giáp Bát


13

32

3.760

05

Cơ khí, thực phẩm, chế biến gỗ...

4

Gia Lâm

Yên Viên


21

38

10.230

08

Cơ khí, thực phẩm, chế biến, may mặc

5

Cầu Diễn

Mai Dịch


08

27

1.950

05

Cơ khí, hoá chất, chế biến gỗ...

6

Pháp Vân-Văn Điển

14

39

5.900

05

Cơ khí, hoá chất,

7

Chèm

05

14

2.300

03

VLXD, dệt, cơ khí

8

Cầu Bươu

05

4

1.390

03

Cơ khí, VLXD

9

Đông Anh

22

68

8.280

05

Cơ khí, VLXD,TP

Nguồn: [87]; thống kê năm 1996

2./ Về tổ chức nhà ở cho công nhân

Thành phố Hà Nội giai đoạn này là nơi tập trung xây dựng nhiều khu nhà ở dành cho công nhân lao động, công chức và nhân dân thủ đô. Đó là các khu tập thể Kim Liên, Nguyễn Công Trứ (xây dựng năm 1959), Trung Tự (xây dựng năm 1973), Thành Công, Giảng Võ của Hà Nội, khu tập thể Thanh Xuân của KCN Thượng Đình (xây dựng năm 1980), tập thể Trại Găng của KCN Minh Khai, khu tập thể công nhân Cầu Bươu - Văn Điển (Hà Nội). Các khu nhà ở này thường có dạng khối ghép 2 tầng như khu tập thể Kim Giang, khu tập thể nhà máy cơ khí Giải Phóng - Văn Điển, còn lại các khu tập thể xây dựng kiểu nhà đơn nguyên 4-5 tầng. (hình: 1.11)



3./ Về công trình phục vụ công cộng

Tại thành phố Hà Nội, các KCN cũng đầu tư xây dựng các công trình phục vụ công cộng cho công nhân, chủ yếu xây dựng các công trình phục vụ cho học tập, phát triển trình độ và phục vụ cho đời sống công nhân. Ví dụ, KCN Thượng Đình - Nguyễn Trãi có chợ Xanh, bách hoá Thanh Xuân, nhà trẻ Tràng An, trường tiểu học Đặng Trần Côn, trường PTTH Trần Hưng Đạo phục vụ cho giáo dục các thế hệ trẻ. Ngoài ra xây dựng sân chơi thể thao Thượng Đình, sân chơi dành cho trẻ em và người già, trung tâm khám và chữa bệnh…

Tuy nhiên, do tình trạng bao cấp các công trình dịch vụ công cộng nên các công trình được xây dựng tràn lan không có chọn lọc trong các khu ở tập thể công nhân, dẫn đến nơi thì thừa, nơi thiếu. Mặt khác, sự tổ chức xây dựng các công trình phục vụ công cộng lại không đồng bộ nên công trình nhanh chóng xuống cấp và phục vụ không đạt hiệu quả cao. Tương lai, các công trình công cộng phục vụ trong các khu nhà ở công nhân phải được chọn lọc, xây dựng theo nhu cầu phát triển của mỗi khu ở và phải có sự quản lý của ban quản trị khu nhà ở theo hướng kinh tế thị trường.

4./ Về tổ chức giao thông

Cũng như các thành phố lớn trong cả nước, hệ thống giao thông ở Hà Nội chật hẹp, xuống cấp, các phương tiện vận chuyển công cộng kém phát triển, người lao động thường phải tự túc phương tiện đi lại. Do đó, tuỳ theo loại hình sản xuất và mức độ độc hại mà các khu ở và khu phục vụ công cộng được bố trí gần với KCN, có sự liên hệ nhanh chóng từ khu ở tới khu vực sản xuất để công nhân có thể đến nhà máy bằng xe đạp và đi bộ như KCN Thượng Đình - Nguyễn Trãi; KCN Vĩnh Tuy - Minh Khai; KCN Cầu Bươu.



1.2.1.3. Nhận xét

1./ Quy hoạch xây dựng công nghiệp

- Các KCN nhìn chung còn lạc hậu, xuống cấp về dây chuyền công nghệ, vì vậy nhiều nhà máy xí nghiệp có quy mô lớn song hiệu quả kinh tế thấp.

- Công tác quản lý quy hoạch thiếu đồng bộ, dẫn đến môi trường đô thị và môi trường KCN không được đảm bảo, hậu quả là địa điểm, quy mô không hợp lý, khả năng hợp tác phát triển kém do bố trí rải rác không tập trung.

- Các KCN phân tán nhỏ lẻ, không hỗ trợ được cho nhau về hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hệ thống phục vụ sản xuất, kho tàng trong khi xu hướng chung trên thế giới khi xây dựng các KCN theo nguyên tắc là “Phân bố điều hoà, xây dựng tập trung” thì ở nước ta lại “ Phân bố tập trung, xây dựng lẻ tẻ” [63].

- Cách phân bố và xây dựng KCN như vậy đã gây trở ngại trong việc phát triển công nghiệp, làm cho nền kinh tế trong nước phát triển không cân đối, phân bố dân cư không hợp lý (số dân tập trung quá tải vào các đô thị). Nhiều vùng có nền kinh tế, văn hoá, giáo dục chậm phát triển lại không có điều kiện tốt để phát triển.

- Trong bố trí quy hoạch các KCN có chất thải độc hại, vấn đề bảo vệ môi trường đã không được chú ý, thậm chí có tình trạng khu ở đan xen với KCN, KCN nằm ở đầu hướng gió so với thành phố như (KCN Thượng Đình, KCN Văn Điển).

Tuy vậy, quá trình quy hoạch KCN trong giai đoạn này là luôn song hành với vấn đề quy hoạch và xây dựng các khu nhà ở và công trình phục vụ công cộng cho công nhân. Có được thành quả đó chính là nhờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới đời sống người lao động. Giúp cho họ ổn định cuộc sống, yên tâm lao động sản xuất, gắn bó với nhà máy, xí nghiệp.

2./ Xây dựng nhà ở cho công nhân

Nhà ở công nhân các KCN được Nhà nước đầu tư xây dựng đồng bộ, góp phần cải thiện điều kiện về nhà ở cho người lao động. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập, đó là quỹ nhà ở còn ít, chạy theo số lượng mà coi nhẹ chất lượng, dẫn đến hầu hết các khu nhà ở đã xuống cấp. Khi nhu cầu ở của người sử dụng tăng lên (gia đình phát triển) các khu nhà ở đã bị người sử dụng cơi nới diện tích tuỳ tiện, vừa làm ảnh hưởng tới mỹ quan đô thị vừa làm công trình nhanh chóng xuống cấp do hỏng hóc hệ thống kết cấu chịu lực. Hầu hết công nhân sống trong các căn hộ có diện tích 12-16M2/gia đình 4-5 người, không có khu vệ sinh, không có bếp và các công trình dịch vụ khác (bếp và khu vệ sinh bố trí chung ở tầng 1). Mức độ tiện nghi, điều kiện sống cũng còn chưa đảm bảo, diện tích nhà ở quá chật hẹp, điện nước thiếu. Mặc dù vậy, giai đoạn này chúng ta cũng đã giải quyết chỗ ở cho hầu hết công nhân viên chức, tạo điều kiện để người lao động an cư lạc nghiệp, tập trung vào sản xuất tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội.



3./ Xây dựng khu phục vụ công cộng cho công nhân

Hệ thống phục vụ công cộng thời kỳ này luôn được Nhà nước quan tâm, tại các KCN đều xây dựng công trình phục vụ công cộng dành cho công nhân hoặc có sự kết hợp với một số công trình của đô thị liền kề. Hệ thống phục vụ công cộng về giáo dục, đào tạo; công trình văn hoá, giao tiếp xã hội như nhà văn hoá, rạp chiếu bóng, câu lạc bộ... được quan tâm xây dựng tương đối đồng bộ (ví dụ như KCN Gang thép Thái Nguyên). Tuy nhiên, các công trình phục vụ công cộng do xây dựng trong điều kiện kinh tế và kỹ thuật còn thiếu nên chỉ đáp ứng được phần nào nhu cầu thực tế của người công nhân.



4./ Tổ chức giao thông đi lại

Do khu nhà ở công nhân bố trí gần với KCN nên thuận lợi cho người lao động đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc. Tạo điều kiện cho người lao động có nhiều thời gian nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động văn hoá, thể thao, học tập nâng cao trình độ.

Ngoài ra, giai đoạn này thành phố sử dụng nhiều hệ thống phục vụ giao thông đi lại như xe buýt, xe điện, xe tuyến của nhà máy để vận chuyển và đưa đón công nhân đi lại làm giảm nhiều các vấn đề ách tắc giao thông đô thị.



1.2.2. Giai đoạn phát triển từ năm 1986 đến nay.

1.2.2.1 Tình hình xây dựng và phát triển công nghiệp.

1./ Tình hình trong nước

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), nước ta bước sang thời kỳ mới, chuyển đổi nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, tình hình chính trị - xã hội ổn định, quan hệ kinh tế phát triển mở rộng.

Tính đến nay, cả nước đã có 106 KCN (trong đó có 05 khu chế xuất, 02 khu

công nghệ cao) được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên cấp cho quy hoạch các KCN là 20.233 ha (không kể diện tích của KCN Dung Quất và khu kinh tế mở Chu Lai), trong đó diện tích đất cho thuê đạt 13.809ha. Các KCN đã thu hút hơn 50 vạn lao động trực tiếp và hàng vạn lao động làm các dịch vụ công nghiệp. (hình: 1.12) (phụ lục: 01,02)

Ngoài ra, tại 19 tỉnh, thành phố trong cả nước đã phát triển trên 124 cụm công nghiệp hoặc KCN vừa và nhỏ với tổng diện tích đất tự nhiên dành cho quy hoạch trên 6.500ha. Trong đó có 1400 làng nghề phân bố trong toàn quốc, tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng sông Hồng với 731 làng nghề [1].;

Công nghiệp ở nước ta đặc biệt phát triển mạnh từ năm 1990, thu hút nhiều dự án đầu tư của các nước trong khu vực. Đã có 2.600 dự án được phê duyệt trong các KCN, khu chế xuất; với tổng số vốn đăng ký 11tỷ USD và 60.000 tỷ VNĐ. Các KCN được phân bố quy hoạch đồng đều, nhằm phát triển kinh tế cho các vùng trong toàn quốc, nhất là các vùng kinh tế trọng điểm miền Bắc, miền Trung và miền Nam. (hình:1.13, 1.14, 1.15, 1.16, 1.17, 1.18)

Trong cơ cấu công nghiệp nước ta đã xuất hiện thêm các ngành mới như: khai thác dầu khí, lọc hoá dầu, lắp ráp ô tô, xe gắn máy, đặc biệt chú trọng đến nhóm công nghiệp sạch như: công nghệ thông tin, điện tử, tin học, viễn thông, du lịch... Các KCN được thiết kế xây dựng đồng bộ từ hệ thống hạ tầng đến hệ thống dây chuyền sản xuất, sân vườn, cây xanh, cảnh quan môi trường, ví dụ như khu chế xuất Tân Thuận. Các KCN được thiết kế tập trung, liên hợp để hỗ trợ nhau về hạ tầng kỹ thuật, về nguyên vật liệu, kho tàng, vận chuyển.

Nhìn chung, tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng của hầu hết các KCN trong toàn quốc vẫn còn chậm. Ngoài một số KCN đã xây dựng cơ bản xong về cơ sở hạ tầng kỹ thuật với đầy đủ hệ thống giao thông nội khu, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống đường dây và trạm điện, viễn thông, xử lý chất thải như các KCN: Nomura Hải Phòng, KCN Đà Nẵng, KCX Tân Thuận, KCX Linh Trung, KCN Việt Nam - Singapore, KCN Biên Hoà, các KCN ở Bình Dương, còn lại đang trong giai đoạn đền bù, giải phóng mặt bằng, chuẩn bị xây dựng kết cấu hạ tầng. Số diện tích đất cho thuê của các KCN đạt trung bình 45% [16].


2./ Tại thành phố Hà Nội

Tại thành phố Hà Nội hiện quy hoạch xây dựng được 07 KCN mới, các KCN đều xây dựng ở các vị trí phù hợp với sự phát triển của thủ đô và thuận lợi với hệ thống giao thông khu vực. Trong đó đã có một số dự án quy hoạch KCN có đề cập đến khu ở và khu phục vụ công cộng như KCN Sài Đồng B; KCN Sài Đồng A - Long Biên… (bảng: 1.2) (hình: 1.19)



Ngoài ra, thành phố cũng đã xây dựng được 07 dự án thí điểm cho mô hình cụm công nghiệp, KCN vừa và nhỏ tại các quận huyện trong thành phố, nhằm phát triển tiểu thủ công nghiệp và sản xuất nhỏ (bảng: 1.3).
Bảng 1.2: Các khu công nghiệp mới ở Hà Nội



TT

Khu công nghiệp

Diện tích QH (ha)

Giai đoạn (I)

Giai đoạn (II)

1

KCN Sài Đồng B

232

127,5

104,5

2

KCN Hà Nội - Đài Tư

40







3

KCN Bắc Thăng Long

121







4

KCN Nội Bài - Sóc Sơn

240

50

190

5

KCN Sài Đồng A

420







6

KCN Nam Thăng Long

260







7

KCN Đông Anh

110







Nguồn: [114]
Bảng 1.3: Các cụm, KCN vừa và nhỏ tại thành phố Hà Nội

TT

Cụm, KCN vừa và nhỏ

Diện tích (ha)

Số doanh nghiệp

Diện tích đã thuê (%)

1

Phú Thị - Gia Lâm

14,82

19

100

2

Vĩnh Tuy - Thanh Trì

12,12

18

100

3

Từ Liêm

21,13

29

100

4

Cầu Giấy

8,29




100

5

Đông anh

22







6

Hai Bà Trưng

9,03







7

Minh Khai

14







Nguồn:[114]

Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đã tạo nên những điều kiện thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển theo xu hướng tập trung, chuyên môn hoá và liên hợp hoá các ngành công nghiệp. Tuy nhiên vấn đề thiết kế quy hoạch, xây dựng các KCN hiện nay vẫn còn nhiều những vấn đề tồn tại, nhất là việc tổ chức khu ở và khu phục vụ công cộng cho công nhân các KCN chưa được quan tâm thoả đáng.



1.2.2.2 Tình hình sử dụng lao động trong các KCN.

1./ Tình hình trong nước

Lực lượng lao động trong các KCN hiện nay chủ yếu tập trung tại các địa bàn như: thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam, tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương.



* Thành phố Hồ Chí Minh: Tính đến tháng 2/2003, tại TP Hồ Chí Minh đã có

trên 11 vạn lao động trực tiếp tại các KCN. (bảng: 1.4).


Bảng 1.4: Tình hình sử dụng lao động tại các KCN ở TP.Hồ Chí Minh

TT

Khu chế xuất – KCN

Số l.động (người)

Số l.động nữ (%)

1

KCX Tân Thuận

31.805

75,07

2

KCX Linh Trung

35.998

78,73

3

KCN Bình Chiểu

2.829

46,45

4

KCN Hiệp Phước

12

33,33

5

KCN Lê Minh Xuân

1.742

42,72

6

KCN Tân Tạo

4.158

43,94

7

KCN Vĩnh Lộc

2.735

69,07

8

KCN Củ Chi

340

30,59

9

KCN Tân Bình

3.785

48,74

10

KCN Tân Thới Hiệp

1.160

74,74




Tổng cộng

84.564

71,91

Nguồn: [1]

* Thành phố Đà Nẵng: thu hút 1,7 vạn lao động trực tiếp [1]

* Tỉnh Quảng Nam (KCN Điện Nam Điện Ngọc): trên 1 vạn lao động [1]

*Tỉnh Đồng Nai: toàn tỉnh có trên 11 vạn lao động trực tiếp (riêng 04 KCN ở thành phố Biên Hoà đã có khoảng 8,2 vạn lao động) [1]

* Tỉnh Bình Dương: là một trong 4 tỉnh, thành phố nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (Bình Dương, Đồng Nai, T.P Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu), gần đây tốc độ phát triển của kinh tế Bình Dương tăng lên rất nhanh, thay đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh từ cơ cấu “ nông lâm - công nghiệp” chuyển sang cơ cấu “ công nghiệp (50%) - dịch vụ (27%) - nông nghiệp (23%)”. Toàn tỉnh có 713 doanh nghiệp thu hút 94.718 lao động phần lớn là từ nông thôn ra. Hiện nay thu hút 7 vạn lao động trực tiếp tại các KCN trên địa bàn tỉnh [2]. (bảng: 1.5)

Bảng 1.5: Tình hình sử dụng lao động trong một số KCN ở Bình Dương


TT


Khu công nghiệp

Tổng số lao động

Số lao động ở Bình Dương

Tổng số

LĐ nữ

Số lượng

% so với

tổng số LĐ

1

Việt Hương

2.741

1.877

1.052

38,4

2

Sóng Thần I

16.111

11.035

1.881

11,7

3

Sóng Thần II

9.472

5.620

518

5,5

4

Đồng An

3.905

1.707

364

9,3

5

Bình Đường

4.802

4.345

375

7,8



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương