Mục lục mở ĐẦU 1



tải về 0.73 Mb.
trang7/8
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích0.73 Mb.
#4292
1   2   3   4   5   6   7   8

(Nguồn : Kết quả phân tích tại Viện KHSS-Trường ĐH Nông lâm TN, 2013)

Trang trại 1: Ông Nguyễn Đình Đức - Yên Ninh 2, thị trấn Ba Hàng, huyện Phổ Yên có quy mô chăn nuôi trung bình, với gần 300 đầu lợn trong ba dãy chuồng, bao gồm cả lợn nái, lợn con theo mẹ, và lợn thịt. Trang trại không xây tách riêng khu vực dành cho lợn nái và lợn con tách riêng mà sử dụng chung chuồng với lợn thịt. Trang trại xây dựng liền kề với khu vực nhà ở, khoảng cách 10 - 20m, có một bể biogas có thể tích 30 khối, có hệ thống mương phía ngoài khu chuồng để dẫn nước thải. Nguồn nước sử dụng cho chăn nuôi là nước giếng khơi. Vì chăn nuôi theo mô hình ao - chuồng nên tất cả lượng nước thải và chất thải rắn chủ yếu là phân khoảng 370 đến 380 kg một ngày đều được thu gom vào bể biogas nhằm lấy nguồn chất đốt, còn lại nước thải sau xử lý có ống dẫn chảy thẳng ra ao phía ngoài khu vực trang trại. Vì vậy, qua quan sát thấy nước ao có màu đục, có nhiều bèo sinh sống, chất thải sau biogas không sử dụng cho thủy sản và cây trồng, do diện tích đất quá chật hẹp.

Trang trại 2 : Bà Nguyễn Thị Phượng, xóm Na Chặng, xã Bàn Đạt, huyện Phú Bình có quy mô chăn nuôi khoảng 200 đầu lợn, gồm cả lợn nái và lợn thịt trong hai dãy chuồng, có một nhân công chăm sóc. Khoảng cách từ khu nhà ở tới khu vực chăn nuôi khoảng 10 m đến 20 m. Trang trại chăn nuôi theo mô hình vườn chuồng. Có hệ thống xử lý nước thải bao gồm hai bể biogas với dung tích 30 khối một bể. Tất cả lượng chất thải rắn và nước thải đều được thu gom vào bể biogas, tận thu nguồn chất đốt, phần chất thải sau xử lý được trang trại sử dụng để bón cho cây trồng trong vườn như : chuối, vải, na…lượng nước thải sau biogas được đưa ra ngoài mương tưới tiêu cho lúa. Vì hàm lượng chất ô nhiễm chưa được xử lý triệt để nên qua điều tra thực tế, gây lốp lúa ở khu vực xung quanh.

Trang trại 3: Bà Phạm Thị Xuyến, xóm Khuynh Thạch, phường Cải Đan, Sông Công, có quy mô hơn 400 đầu lợn, trang trại được xây dựng liền kề với nhà ở, sử dụng hệ thống biogas để xử lý chất thải, nguồn nước thải sau biogas một phần được đưa xuống ao nuôi cá, một phần thải ra mương nước sau nhà. Nước thải sau xử lý vẫn có mùi hôi thối bốc lên, gây ô nhiễm cho các hộ dân sống liền kề.

Qua bảng kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng các chất ô nhiễm BOD, COD, DO đều vượt quá giới hạn của quy chuẩn Việt Nam 24:2009/BTNMT nhiều lần. Cụ thể như sau:

- Trước xử lý:

+ BOD vượt 14,46 lần, COD vượt 8,14 lần, DO thấp hơn 3,72 lần so với QCCP

+ Coliform vượt 1,4 so với QCCP

+ N và P tổng số đều thấp hơn QCCP

+ Kim loại nặng As, Pb, Cd đều nằm trong giới hạn của QCCP

- Sau xử lý: Hàm lượng các chất ô nhiễm đều giảm xong vẫn cao hơn nhiều lần so với QCCP, cụ thể:

+ BOD vượt 4,36 lần, COD vượt 1,03 lần, DO thấp hơn 2,1 lần so với QCCP

+ Giá trị coliform sau xử lý đã nằm trong giới hạn của QCCP.

Bảng 3.17. Hiệu quả xử lý nước thải theo các hình thức xử lý bằng bể lắng đang áp dụng tại các trang trại chăn nuôi lợn ở khu vực phía Nam


Thái Nguyên



Chỉ tiêu

Đơn vị tính

QCVN 24:2009/

BTNMT

Hàm lượng trước và sau xử lý bằng bể lắng










Trước xử lý

Sau xử lý

pH




5,5 - 9

7,02

7,08

BOD5

mg/l

50

242

188,4

COD

mg/l

100

156,8

143,2

DO

mg/l

8

2,37

3,16

N tổng số

mg/l

30

187

120,4

P tổng số

mg/l

6

16,8

15,6

Coliform

MPN/100ml

5000

7600

4300

As

mg/l

0,1

KXĐ

0,002

Cd

mg/l

0,01

0,001

0,001

Pb

mg/l

0,5

0,004

0,003

(Nguồn : Kết quả phân tích tại Viện KHSS-Trường ĐH Nông lâm TN, 2013)

Trang trại 1: Ông Hà Duy Văn - Tổ 6, phường Lương Châu, thị xã Sông Công, là một trạng trại quy mô khá lớn, chăn nuôi cả gia súc và gia cầm. Trang trại lợn được xây dựng trong khu vực cách xa khu dân cư, cạnh Sông Công. Trang trại chăn nuôi theo mô hình khép kín VAC, nhưng khu chăn nuôi bao quanh nhà ở và có khoảng cách khá gần, khoảng 10 đến 20m. Với hai dãy chuồng, một nhân công phụ trách hơn 400 đầu lợn bao gồm cả lợn nái, lợn con theo mẹ và lợn thịt thì lượng chất thải một ngày là rất lớn, ước khoảng 1200 kg chất thải rắn. Qua điều tra thực tế, trang trại có hệ thống xử lý bao gồm một bể biogas thể tích 30m3, một bể lắng. Khí gas được tận thu làm nguồn chất đốt. Lượng chất thải qua bể hàng ngày trở thành quá lớn nên chỉ xử lý được một phần nhỏ hàm lượng các chất ô nhiễm trong chất thải chăn nuôi. Qua quan sát và phỏng vấn, lượng nước thải được sử dụng một phần cho biogas, phần lớn nước thải được đưa vào bể lắng để xử lý rồi thải trực tiếp ra một nhánh nhỏ của Sông Công, nên nước khu vực đó có màu đen hơi xanh do có rêu và tảo sinh sống; một phần lượng nước thải được sử dụng để tưới cho các loại cây trong vườn như: Hồng xiêm, bưởi, măng bát độ…Phần chất thải chỉ sử dụng một phần để nuôi cá, phần còn lại thu gom ở cuối vườn để bón cây và đổ đi.

Trang trại 2: Bà Chu Thị Vinh, xóm Đình, xã Nam Tiến, huyện Phổ Yên có quy mô chăn nuôi hơn 200 đầu lợn bao gồm lợn nái và lợn thịt và lợn con, được nuôi nhốt chung trong hai dãy chuồng trại. Khu chuồng nuôi được xây dựng sát với khu nhà ở của gia đình nên có rất nhiều mùi hôi thối bốc lên. Lượng nước sử dụng cho trang trại là nước giếng khơi. Chất thải rắn hàng ngày vào khoảng 380 kg đều được đưa vào bể lắng cùng với nước rửa chuồng và nước tiểu của gia súc. Lượng nước thải sau xử lý được dẫn ra bể chứa nước thải và cho các hộ dân xung quanh có nhu cầu tưới tiêu xin, phần còn lại chảy tràn ra khu vực xung quanh và ra mương nước tưới tiêu lúa.

Trang trại 3: Ông Đào Xuân Hiểu, xóm Dãy, xã Đào Xá, huyện Phú Bình có quy mô chăn nuôi hơn 100 đầu lợn, là trang trại chăn nuôi theo kiểu hệ thống có sàn chứa phân và nước tiểu phía dưới, lượng chất thải này được đưa ra hệ thống bể lắng để xử lý trước khi thải ra môi trường.

Qua bảng kết quả phân tích cho thấy, hàm lượng các chất ô nhiễm BOD, COD, DO , N tổng số và P tổng số, coliform đều vượt quá giới hạn của quy chuẩn Việt Nam 24:2009/BTNMT nhiều lần. Cụ thể như sau:

- Trước xử lý :

+ BOD vượt 4,84 lần ; COD vượt 1,57 lần; DO thấp hơn 3,37 lần so với QCCP.

+ N tổng số vượt 6,2 lần ; P tổng số vượt 2,8 lần so với QCCP.

+ Coliform vượt 1,52 lần so với QCCP.

+ Các kim loại nặng As, Pb, Cd đều nằm trong giới hạn của QCCP.

- Sau xử lý : Hàm lượng các chất ô nhiễm đã giảm đáng kể. Tuy nhiên có một số chỉ tiêu vẫn cao hơn nhiều lần so với QCCP, cụ thể:

+ BOD vượt 3,77 lần ; COD vượt 1,43 lần ; DO thấp hơn 2,53 lần so với QCCP.

+ N tổng số vượt 4,01 lần ; P tổng số vượt 2,6 lần so với QCCP.

+ Coliform nằm trong giới hạn của QCCP.

3.4. Đánh giá yếu tố xã hội ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường chăn nuôi lợn

3.4.1. Nhận thức của người chăn nuôi với công tác vệ sinh môi trường

Môi trường chăn nuôi vốn chứa đựng rất nhiều loại vi khuẩn và các loại công trùng gây bệnh nguy hiểm, nếu không có biện pháp thu gom và xử lý chất thải chăn nuôi một cách thỏa đáng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, vật nuôi và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đặc biệt là các virus biến thể từ các dịch bệnh như lở mồm long móng, dịch bệnh tai xanh ở lợn có thể lây lan nhanh chóng và có thể cướp đi sinh mạng của rất nhiều người.

Tất cả các trang trại được hỏi đều nhận thức được mức độ nguy hiểm khi không xử lý chất thải chăn nuôi trước khi thải bỏ ra môi trường như: Gây mùi hôi thối, thu hút các loại côn trùng gây bệnh, có thể lây lan các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho con người và vật nuôi. Lượng chất thải này gây ô nhiễm môi trường đất, nước, ảnh hưởng đến các loài động vật và thực vật thủy sinh. Ngoài ra, chất thải không được xử lý gây ảnh hưởng tới hoa màu như làm cho lúa bị lốp, đổ, mất mùa...

Bảng 3.18: Nhận thức của người dân về việc xử lý chất thải chăn nuôi lợn


Mức độ

Số hộ

Tỷ lệ (%)

Rất cần thiết

4

6,67

Cần thiết

56

93,33

Không cần thiết

0

0

Tổng

60

100

(Nguồn: Kết quả điều tra nông hộ, 2013)

Qua bảng trên ta thấy, các hộ chăn nuôi lợn đã có nhận thức về vấn đề xử lý chất thải chăn nuôi lợn, chỉ có 4 hộ được phỏng vấn đã nhận thức đúng đắn về tình trạng cấp bách của ô nhiễm do chất thải chăn nuôi, chiếm 6,67%. Còn lại 93,33% các hộ nhận thấy cũng cần thiết phải xử lý chất thải nhưng đó là vấn đề của tương lai, còn hiện tại chưa có ảnh hưởng do quy mô chăn nuôi chưa phải là quá lớn.

3.4.2. Nhận thức của người chăn nuôi với sức khỏe con người

Chất thải chăn nuôi tác động đến môi trường và sức khỏe con người trên nhiều khía cạnh: gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường khí, môi trường đất và các sản phẩm nông nghiệp. Đây chính là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh về hô hấp, tiêu hoá, do trong chất thải chứa nhiều VSV gây bệnh, trứng giun. Hơn nữa, các trang trại lại thường xây dựng liền kề với khu nhà ở, trong một diện tích chật hẹp, để dễ dàng trông coi lại tiềm ẩn nguy cơ về sức khỏe do con người ăn, ngủ và hít thở môi trường và bầu không khí ô nhiễm.






(Nguồn: Kết quả điều tra nông hộ, 2013)

Hình 3.5. Khoảng cách từ gia đình tới khu trang trại chăn nuôi lợn

Qua hình trên, ta thấy các khu trang trại được xây dựng rất gần với khu nhà ở, việc xử lý chất thải tại trang trại chưa được triệt để, là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước, không khí xung quanh và ảnh hưởng tới sức khỏe chính bản thân con người sống trong khu vực đó. Với 51,67 % số trang trại có khoảng cách gần từ 10 đến 20 m; 35% số trang trại có khoảng cách rất gần và chỉ có 13,33% là xây dựng xa nhà ở trên 20m.

3.5. Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các trang trại chăn nuôi lợn.

Từ việc khảo sát tình hình các trang trại chăn nuôi lợn, chúng tôi đề xuất các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các trang trại chăn nuôi lợn như sau :

3.5.1. Biện pháp Luật chính sách

- Luật Bảo vệ môi trường 2005 : Điều 46

- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP, ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường.

- Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về kinh tế và số lượng trang trại theo tiêu chí mới.

- Quyết định số 2140/QĐ-UBND ngày 17/9/2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt quy hoạch phát triển chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên.

- Quyết định số 1210/QĐ-UBND ngày 13/16/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt dự toán đề cương phát triển chăn nuôi tỉnh tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2020.

- Quyết định số 628/QĐ-UBND ngày 3/4/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Đề án phát triển chăn nuôi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013-2020.

3.5.2. Biện pháp công nghệ

- Các trang trại chăn nuôi tập trung quy mô lớn cần kết hợp phương pháp xử lý biogas và ủ sinh học, các trang trại có quy mô vừa và nhỏ áp dụng phương pháp xử lý bằng biogas.

- Xây dựng hầm biogas có dung tích phù hợp với quy mô chăn nuôi để xử lý chất thải. Hỗ trợ chi phí xây dựng 3 triệu đồng/hầm ủ biogas có thể tích trên 10 m3 trở lên.


    Hầm Biogas: Thiết kế hầm ủ biogas có nắp vòm cố định được chôn dưới đất gồm có 3 phần chính nối tiếp nhau:

    + Ngăn trộn: là nơi phân được trộn với nước trước khi đổ vào hầm phân hủy.

    + Hầm phân hủy: là nơi phân và nước bị phân hủy lên men. Khí CH4 và các loại khí khác sẽ sinh ra trong hầm này.

    + Bể áp lực: dùng để thu nhận phân và bùn cặn.


Bảng 3.19. Tính toán lượng thải và xác định dung tích bể Biogas



Nội dung thông số

ĐVT

Số lượng

1. Số lợn nái:

Con

N1

Nhu cầu thức ăn

kg/con/ngày

5

Nhu cầu nước uống, nước tắm, nước rửa chuồng

lít/con/ngày

40

Lượng phân tạo ra (30% lượng thức ăn)

kg/con/ngày

1,5

Lượng nước thải tạo ra (70% lượng nước sử dụng)

lít/con/ngày

28

Tổng lượng phân tạo ra

tấn/ngày

1,5*N1

Tổng lượng nước thải tạo ra

m3/ ngày

0,028*N1

Tổng lượng chất thải (phân + nước thải)

m3/ ngày

1,528*N1

2. Số lợn giống, lợn thịt:

Con

N2

Nhu cầu thức ăn

kg/con/ngày

2,5

Nhu cầu nước uống, nước tắm, nước rửa chuồng

lít/con/ngày

40

Lượng phân tạo ra (30% lượng thức ăn)

kg/con/ngày

0,75

Lượng nước thải tạo ra (70% lượng nước sử dụng)

lít/con/ngày

28

Tổng lượng phân tạo ra

tấn/ngày

0,75* N2

Tổng lượng nước thải tạo ra

m3/ ngày

0,028* N2

Tổng lượng chất thải (phân + nước thải)

m3/ ngày

0,778* N2

Tổng lượng chất thải

m3/ ngày

Q=1,528*N1+0,778*N2

Thời gian lưu trữ trong bể

Ngày

15

Tổng thể tích hữu ích bể chứa

M3

V=15*Q

(Nguồn: Trần Mạnh Hải, 2009) [7]

Vậy dung tích phần chứa nước trong ngăn phân hủy của bể Biogas:

Vnước = 15*(1,528. N1 + 0,778. N2) = 22,92. N1 + 11,67.N2 (m3)

Trong đó: N1: số lượng lợn nái

N2: số lượng lợn giống, lợn thịt

Nước trong bể chiếm chỗ khoảng 2/3 chiều cao bể còn lại dung tích để chứa khí.

Dung tích của ngăn phân hủy của bể Biogas:

Vphân hủy = 3/2*(22,92. N1+11,67. N2) = 34,38. N1 + 17,505. N2

- Sử dụng chế phẩm sinh học để xử lý chất thải rắn làm phân bón. Sử dụng hệ thống hai hầm ủ và chứa phân luân phiên. Sau mỗi lần thải phân rải tro bếp để giảm mùi và điều chỉnh C/N. Cho phân vào 2/3 thể tích hầm thì cho thêm rác, lá cây vào và đậy nắp đất để ủ trong khoảng 2-3 năm. Tuy nhiên, để giảm thời gian ủ phân, nên cho các chế phẩm sinh học như BIO-F,...vào trộn cùng với nguồn phân ủ.

- Nghiên cứu và chuyển giao các công nghệ xử lý chất thải chăn nuôi trong các điều kiện môi trường sinh thái khác nhau, quy mô chăn nuôi khác nhau như: bể UASB, SBR...

- Xử lý chất thải chăn nuôi lợn bằng bèo tây, bèo cái, rau ngổ và rau muống.

3.5.3. Biện pháp tuyên truyền giáo dục

- Tăng cường đào tạo, tập huấn cho cán bộ thú y, người chăn nuôi lợn các kiến thức về môi trường và công tác phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi lợn, 3 tháng/lần hoặc 6 tháng/lần.

- Xây dựng các mô hình chăn nuôi ‘‘sạch” đạt hiệu quả kinh tế cao để từ đó nhân rộng các mô hình trên toàn tỉnh.

- Sử dụng nhiều kênh thông tin tuyên truyền đại chúng như báo hình, báo viết, báo nói, tờ rơi, áp phích, băng rôn, truyền thông chéo và truyền thông lồng ghép.

3.5.4. Biện pháp quản lý, quy hoạch

- Đối với vùng trung du (huyện Phổ Yên, Phú Bình): Tập trung phát triển gia súc năng suất cao như: Lợn ngoại, lợn lai. Xây dựng vùng sản xuất lợn giống.

- Đối với vùng đô thị (thị xã Sông Công): Giảm tối đa chăn nuôi chuyển dần về các huyện còn quỹ đất giành cho chăn nuôi. Duy trì phát triển chăn nuôi tại các xã ngoại thành, phát triển chăn nuôi đô thị hướng chính là ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

- Khi xây dựng chuồng trại nuôi lợn, diện tích xây dựng so với khuôn viên trang trại không vượt quá 25%. Diện tích còn lại cần được duy trì cây lâu năm (nếu đã có), hoặc trồng mới, hoặc cải tạo vườn cũ. Trang trại phải có hàng rào theo đúng quy định.

- Khuyến khích các chủ trang trại chăn nuôi đầu tư xây dựng chuồng trại theo hướng hiện đại, hợp lý, đặc biệt ủng hộ theo hướng xây dựng chuồng kín, giảm mức độ ô nhiễm môi trường trên địa bàn khu vực phía Nam.


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ


1. Kết luận

1. Khu vực phía Nam là vùng sản xuất lớn về các sản phẩm chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm. Chăn nuôi đang dần phát triển theo hướng công nghiệp và trang trại hóa; với 122 trang trại và tổng số 260,6 nghìn đầu lợn, đa số là các trang trại quy mô nhỏ dưới 200 đầu lợn, chiếm 65,5%, tính đến thời điểm tháng 12 năm 2012. Các hệ thống chăn nuôi đang áp dụng là VAC, VC, AC và C; trong đó hệ thống C chiếm ưu thế với 40% số trang trại khảo sát. Diện tích đất lớn nhất ở hệ thống VAC trung bình là 4.716 m2, thấp nhất ở hệ thống C (872 m2).

- Phương thức chăn nuôi phổ biến nhất tại các trang trại là nuôi lợn trên nền chuồng bằng bê tông, chiếm 81,67% ; thức ăn sử dụng cho chăn nuôi là loại hỗn hợp ăn thẳng với 53 trang trại khảo sát, chiếm 88,33% ; hệ thống VC có lượng chất thải rắn 92,8 tấn/năm và chất thải lỏng là 0,79 nghìn m3/năm là lớn nhất.

- Tỷ lệ chất thải được xử lý ở hệ thống AC là lớn nhất với 82,6%, tỷ lệ chất thải lỏng được xử lý ở hệ thống C là lớn nhất (87,2%). Phương pháp xử lý chất thải và nước thải tại trang trại chủ yếu là biogas với 39/60 trang trại khảo sát chiếm (65%).

2. Các trang trại mặc dù đã áp dụng các biện pháp xử lý nước thải như biogas, bể lắng nhưng chất lượng nước thải dù có hàm lượng chất ô nhiễm thấp hơn nước thải không xử lý vẫn chưa đạt tiêu chuẩn.

- Chất lượng nước mặt tại các ao nuôi cá của hệ thống VAC và AC; chất lượng nước mặt khu vực xung quanh các trang trại đều có hàm lượng các chất ô nhiễm vượt quy chuẩn cho phép nhiều lần.

- Hàm lượng các khí độc như H2S, NH3 cũng vượt quá so với QCVN 01-79:2011/BNN - PTNT.

- Chất lượng nước thải khi chưa xử lý có hàm lượng các chất ô nhiễm đặc trưng của nước thải chăn nuôi như BOD, COD, DO, N tổng số, P tổng số đều nằm ngoài và vượt so với QCVN 24:2009/BTNMT.

- Chất lượng nước thải sau xử lý bằng biogas và bể lắng có hàm lượng các chất ô nhiễm đã giảm đi rất nhiều nhưng vẫn vượt so với QCVN 24:2009/BTNMT.

3. Người dân đã có nhận thức nhất định về sự cần thiết phải xử lý chất thải chăn nuôi lợn, chiếm 93,33% số trang trại được khảo sát; có 6,67% số trang trại nhận thức được mức độ ô nhiễm cho chất thải chăn nuôi tại các trang trại là rất đáng lo ngại.

2. Kiến nghị

- Cần có biện pháp tuyên truyền, kiểm tra việc thực hiện đảm bảo vệ sinh môi trường tại các trang trại chăn nuôi một cách thường xuyên, cần có sự kết hợp liên ngành một cách chặt chẽ để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm do chất thải chăn nuôi đang ngày càng nghiêm trọng.

- Khuyến khích các mô hình chăn nuôi khép kín, hỗ trợ chi phí xây dựng hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn tại các trang trại.

- Các trang trại nên đưa chất thải qua hệ thống ao sinh học, có các thực vật thủy sinh để xử lý triệt để hơn các chất ô nhiễm, đặc biệt là các chất hữu cơ.


TÀI LIỆU THAM KHẢO


Каталог: data -> file -> 2015 -> Thang03
Thang03 -> Đề 5: Phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”của Phạm Tiến Duật
Thang03 -> Đề 1: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: "Văn chương [ ] có loại đáng thờ. Có loại ko đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại ko đáng thờ là loại chuyên chú ở con người"
Thang03 -> Phân tích nghệ thuật tả cảnh, tả người của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Thang03 -> Đề thi thử thpt quốc gia môn Văn năm 2015 Trường thpt thống Nhất
Thang03 -> Phân tích đoạn trích trong tác phẩm số phận con người của A. Sô-lô-khốp
Thang03 -> Thực hiện: Nhóm 5 gvhd: ThS. Nguyễn Thị Hương
Thang03 -> Trường Tiểu học Sông Mây
Thang03 -> Đề tài: phân tích hoạT ĐỘng kinh doanh dịch vụ TẠi tậP ĐOÀn viễn thông quâN ĐỘi viettel tp. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2012
Thang03 -> ĐẠi học nông lâm tp
Thang03 -> 3/ Sự sinh sản và phát triển có biến thái ở ếch

tải về 0.73 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương