Mục lục mở ĐẦU 1



tải về 0.73 Mb.
trang6/8
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích0.73 Mb.
#4292
1   2   3   4   5   6   7   8

(Nguồn: Kết quả điều tra nông hộ, 2013)

Với quy mô chăn nuôi lợn tương đối lớn, các trang trại đều đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải, với 39/60 hộ xây dựng hầm biogas chiếm 65%, 14 trang trại kết hợp nhiều phương pháp như vừa xử lý qua biogas, sau đó tới bể lắng hoặc ao thực vật thủy sinh rồi mới thải ra môi trường, chiếm 23,33 %, chủ yếu là các trang trại tại huyện Phú Bình. Một số ít cho nước thải qua bể lắng rồi thải ra ao hoặc sông, suối gần nhà, chiếm tỷ lệ nhỏ (8,33%). Biogas là phương pháp xử lý kỵ khí khá đơn giản, thấy ở hầu hết các cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại, kể cả quy mô hộ gia đình. Ưu điểm của bể biogas là có thể sản xuất được nguồn năng lượng khí sinh học để thay thế được một phần các nguồn năng lượng khác.

Trong bể biogas các chất hữu cơ được phân hủy một phần, do đó sau biogas nước thải có hàm lượng chất hữu cơ thấp và ít mùi hơn. Bùn cặn trong bể biogas có thể sử dụng để cải tạo đất nông nghiệp. Cùng với việc có nguồn năng lượng mới sử dụng, còn góp phần giảm thiểu hiện tượng chặt phá rừng và bảo vệ môi trường. Khí biogas là một nguồn năng lượng có triển vọng trong tương lai đồng thời góp phần bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

Hiệu quả tích cực về môi trường của hầm biogas như đã nói ở trên là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, các hệ thống khí sinh học chưa phải là hệ thống xử lý sau cùng để đảm bảo đủ điều kiện xả thải an toàn vào môi trường.



Trên thực tế, công nghệ xử lý biogas không xử lý triệt để được nguồn gây ô nhiễm từ chất thải chăn nuôi, do đó rất cần có các biện pháp hỗ trợ, xử lý sau biogas. Tuy nhiên, những biện pháp hỗ trợ này cũng chỉ góp phần giảm thiểu ô nhiễm chứ chưa xử lý được triệt để các chất gây ô nhiễm đạt tiêu chuẩn cho phép. Chi phí đầu tư và vận hành để xử lý triệt để các chất gây ô nhiễm rất tốn kém; các biện pháp hỗ trợ sau biogas lại cần có diện tích đất để xây dựng các ao hồ sinh học, vườn cây nhằm tận dụng nước thải làm nước tưới… nên việc đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống xử lý ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận kinh doanh của trang trại. Bởi vậy, hầu hết các chủ trang trại đều trốn tránh đầu tư đầy đủ các công trình bảo vệ môi trường cần thiết. Trong khi đó, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động chăn nuôi lợn chưa được quan tâm đầy đủ, đúng mức ở tất cả các cấp, ngành. Lâu nay, trong các quy hoạch phát triển chăn nuôi của các địa phương hầu như mới quan tâm đến các chỉ tiêu, giải pháp kinh tế mà chưa có các quy định, giải pháp bảo vệ môi trường cụ thể, chưa có quy hoạch và tiêu chí quy hoạch vùng chăn nuôi đảm bảo yêu cầu bảo vệ môi trường. Thêm vào đó, nhận thức, ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của các chủ trang trại còn hạn chế…

Việc chăn nuôi với quy mô lớn làm phát sinh một khối lượng nước thải lớn bao gồm: Nước rửa chuồng trại, nước tiểu, nước để tắm cho gia súc…Nước thải chăn nuôi lợn tại các trang trại chủ yếu được xử lý bằng hầm phân hủy yếm khí (hầm biogas), sau quá trình này các thành phần gây ô nhiễm môi trường vẫn còn ở mức rất cao. Việc tiếp tục xử lý nước thải sau biogas trước khi thải ra môi trường là rất cần thiết và cần phải xử lý đồng thời nhiều tác nhân gây ô nhiễm, đặc biệt là chất hữa cơ, nitơ và phốt pho. Tuy vây, không phải trang trại nào cũng xây dựng được hệ thống xử lý theo đúng quy trình nhằm xử lý triệt để trước khi thải ra môi trường






(Nguồn: Kết quả điều tra nông hộ, 2013)

Hình 3.4: Mục đích sử dụng nước thải trong quá trình chăn nuôi lợn

Qua hình 3.4, đa số các trang trại (31/60) chỉ xử lý được sơ bộ và thải ra môi trường trong khi hàm lượng các chất ô nhiễm còn cao, chiếm 51,67%. Có 22/60 trang trại sử dụng nguồn nước thải với nồng độ chất N, P cao này để tưới cây, chiếm 36,67%. 5/60 trang trại xây dựng một bể chứa bên ngoài trang trại và có ống dẫn nước thải ra bể đó để cho người dân trong thôn lấy nước đó sử dụng vào các mục đích khác nhau, chiếm 8,33%. Chỉ có 3,33% số trang trại tuần hoàn xử lý để quay lại bể biogas.

3.3. Đánh giá chất lượng môi trường tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn các huyện phía Nam tỉnh Thái Nguyên.

3.3.1. Chất lượng nước mặt

Để có thể đánh giá được mức độ ô nhiễm do nước thải chăn nuôi của các trang trại, chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu nước thải chăn nuôi lợn tại các ao nuôi cá của các trang trại ở hai hệ thống VAC và AC, kết quả cho thấy:


Bảng 3.13: Chất lượng nước mặt tại các ao nuôi cá ở các trang trại theo
các hệ thống khác nhau


Chỉ tiêu

Đơn vị tính

QCVN 01-79:2011/BNN – PTNT

(**)

QCVN 38/2011

(*)

Chất lượng nước ở ao nuôi cá trong các hệ thống

VAC (n=3)

AC

(n=3)

pH




5,5-9

6-8,5

7,4

7,1

BOD5

mg/l




6

38,0

30,0

COD

mg/l

50-100

15

84,6

67,7

DO

mg/l

4 - 8

5

3,09

4,42

NO3-

mg/l




5

21,7

24,3

NH4+

mg/l




1

10,1

5,8

As

mg/l

0,05 - 0,1

0,02

0,001

KPH

Cd

mg/l

0,005 – 0,01

0,005

0,007

0,001

Pb

mg/l

0,1 – 0,5

0,02

0,018

0,021

TSS

mg/l




100

180

127

(Nguồn : Kết quả phân tích tại Viện KHSS-Trường ĐH Nông lâm TN, 2013)

*: QVCN 38/2011/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt bảo vệ đời sống thủy sinh

**: QCVN 01-79:2011/BNN - PTNT: Quy chuẩn ký thuật quốc gia về cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm, qui trình kiểm tra, đánh giá điều kiện vệ sinh thú y

Chất lượng nước tại ao nuôi cá của các hệ thống VAC và AC rất khác nhau, cụ thể là:

Tại hệ thống VAC: Hàm lượng các chất ô nhiễm BOD, COD, DO, NO3-, NH4+, TSS) là đặc trưng của nước thải chăn nuôi đều vượt so với quy chuẩn cho phép:

So với QCVN 01-79:2011/BNN - PTNT:



  • COD: nằm trong khoảng giới hạn của QCCP.

  • DO: thấp hơn QCCP từ 1,3 - 2,6 lần

  • Các kim loại nặng: As, Cd, Pb đều nằm trong khoảng giới hạn cho phép của quy chuẩn.

So với QVCN 38/2011/BTNMT:

  • BOD5 vượt 6,3 lần, COD vượt 5,64 lần, DO thấp hơn QCCP 1,6 lần.

  • NO3- vượt 7,23 lần, NH4+ vượt 10,1 lần, TSS vượt 1,8 lần so với QCCP.

  • Cd vượt 1,4 lần QCCP; As, Pb đều nằm trong giới hạn của QCCP.

Tại hệ thống AC:

So với QCVN 01-79:2011/BNN - PTNT: hàm lượng các chất ô nhiễm như COD, DO, các kim loại nặng như Cd, Pb đều nằm trong khoảng giới hạn của QCCP; riêng As không phát hiện.



So với QVCN 38/2011/BTNMT:

  • BOD5 vượt 5 lần, COD vượt 4,51 lần, DO thấp hơn 1,13 lần so với QCCP

  • NO3- vượt 4,86 lần, NH4+ vượt 5,8 lần, TSS vượt 1,27 lần so với QCCP

  • Pb vượt 1,05 lần QCCP; Cd nằm trong giới hạn của QCCP; As không phát hiện.

Bảng 3.14: Kết quả khảo sát chất lượng nước mặt xung quanh khu vực
các trang trại


Chỉ tiêu theo dõi

Đơn vị tính

QCVN 01-79:2011/BNN - PTNT

Kết quả trong nước tại các khu vực

Phú Bình
(n=4)


Phổ Yên

(n=3)

Sông Công

(n=2)

pH




5,5 - 9

8,35

7,67

7,27

COD

mg/l

50 - 100

642

578

849

DO

mg/l

4 - 8

2,34

3,04

2,26

BOD5

mg/l

30 - 50

247

258

472

Pb

mg/l

0,1 - 0,5

0,016

0,003

-

Cd

mg/l

0,005 - 0,01

0,001

0,001

0,003

As

mg/l

0,05 - 0,1

0,006

0,009

0,067

(Nguồn : Kết quả phân tích tại Viện KHSS-Trường ĐH Nông lâm TN, 2013)

Việc khảo sát chất lượng nước tại một số khu vực xung quanh các trang trại chăn nuôi của 3 huyện phía Nam cho thấy, các chất ô nhiễm đặc trưng của nước thải chăn nuôi (COD, DO, BOD) đều vượt quá QCCP. Cụ thể như sau:

Tại Phú Bình:


  • COD cao hơn QCCP từ 6,42 - 12,84 lần; DO thấp hơn từ 1,7 - 3,41 lần; BOD5 cao hơn từ 4,94 - 8,23 lần so với QCCP.

  • Các kim loại nặng như Pb, Cd, As đều nằm trong giới hạn của QCCP.

Tại Phổ Yên:

  • COD cao hơn QCCP từ 5,78 - 11,56 lần; DO thấp hơn từ 1,31 - 2,63 lần; BOD5 cao hơn từ 5,16 - 8,6 lần so với QCCP.

  • Các kim loại nặng như Pb, Cd, As đều nằm trong giới hạn của QCCP.

Tại Sông Công:

  • COD cao hơn QCCP từ 8,49 - 16,98 lần; DO thấp hơn từ 1,77 - 3,54 lần; BOD5 cao hơn từ 9,44 - 15,73 lần so với QCCP.

  • Các kim loại nặng như Cd, As đều nằm trong giới hạn của QCCP; Pb không phát hiện.

3.3.2. Chất lượng không khí chuồng nuôi

Bảng 3.15. Kết quả khảo sát hàm lượng khí độc trong chuồng nuôi tại các trang trại lợn ở khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên



Đơn vị tính: mg/m3

Chỉ tiêu

QCVN 01-79:2011/BNN - PTNT


Hàm lượng khí trong chuồng nuôi tại các trang trại của các huyện

Phú Bình

( n=4)

Sông Công

( n=2)

Phổ Yên

(n=3)

NH3

10

45,6

32,7

17,6

H2S

5

28,0

31,0

14,0

(Nguồn : Kết quả phân tích tại Viện KHSS-Trường ĐH Nông lâm TN, 2013)
Kết quả khảo sát chất lượng không khí chuồng nuôi cho thấy, nồng độ các khí độc hại đều vượt so với quy chuẩn cho phép, cụ thể như sau:

Tại Phú Bình:



  • Khí NH3 vượt 4,56 lần so với QCCP

  • Khí H2S vượt 5,6 lần so với QCCP

Tại Phổ Yên:

  • Khí NH3 vượt 1,76 lần so với QCCP

  • Khí H2S vượt 2,8 lần so với QCCP

Tại Sông Công:

  • Khí NH3 vượt 3,27 lần so với QCCP

  • Khí H2S vượt 6,2 lần so với QCCP

Đánh giá chung

- Qua việc nghiên cứu và đánh giá các vấn đề môi trường tại các trang trại chăn nuôi ở khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên ta có thể rút ra những nhận xét chung về tình hình xử lý chất thải của các trang trại như sau:

- Nguồn thải phát sinh từ các hệ thống trang trại lợn chủ yếu là phân thải và nước thải chuồng trại với khối lượng vào khoảng hơn 0,2 tấn phân thải/ngày và 2 m3 nước thải/ngày. Trong đó, hai hệ thống VAC và AC có khối lượng phát thải nhiều nhất. Đây là nguồn thải có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao, đặc biệt là môi trường nước khi chúng có chứa nồng độ cao của các hợp chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng.

- Hiện nay, chất thải của trang trại được xử lý bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó các biện pháp phổ biến nhất là: biogas, bón cho cây trồng, cho cá ăn. Các biện pháp này được sử dụng với tỷ lệ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của từng hệ thống trang trại.

- Mặc dù áp dụng nhiều biện pháp xử lý nhưng chất thải của các trang trại chưa được xử lý triệt để vẫn có một lượng lớn chất thải được thải bỏ trực tiếp ra ngoài môi trường. Mặt khác, bản thân mỗi biện pháp xử lý vẫn còn những hạn chế nhất định, chưa có biện pháp nào có thể giải quyết triệt để nguồn thải phát sinh từ các chuồng nuôi lợn.

- Môi trường nước của các hệ thống trang trại lợn được cho là vấn đề môi trường nổi cộm nhất khi nước mặt bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ và các chất dinh dưỡng, trong khi đó nước ngầm bị nhiễm NH4+ ở mức khá cao. Ô nhiễm nước mặt trong các ao nuôi cá của hệ thống VAC và AC có mức độ nhẹ hơn nhiều lần so với mức độ ô nhiễm nước mặt trên các kênh mương, ao hồ xung quanh các hệ thống VC và C.

- Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước của các hệ thống trang trại lợn là do nguồn chất thải phát sinh quá lớn, chưa được xử lý triệt để trước khi xả thải vào các nguồn nước tiếp nhận.

3.3.3. Chất lượng nước thải chăn nuôi

Bảng 3.16:Hiệu quả xử lý nước thải theo các hình thức xử lý bằng biogas đang áp dụng tại các trang trại chăn nuôi lợn ở khu vực phía Nam
Thái Nguyên


Chỉ tiêu

Đơn vị tính

QCVN 24:2009/

BTNMT

Hàm lượng trước và sau xử lý biogas










Trước xử lý

Sau xử lý

pH




5,5 - 9

6,5

6,3

BOD5

mg/l

50

723

218

COD

mg/l

100

814

103

DO

mg/l

8

2,15

3,78

N tổng số

mg/l

30

20,4

18,2

P tổng số

mg/l

6

4,6

2,1

Coliform

MPN/100ml

5000

7000

3000

As

mg/l

0,1

0,001

0,001

Cd

mg/l

0,01

0,004

0,001

Pb

mg/l

0,5

0,012

0,011


Каталог: data -> file -> 2015 -> Thang03
Thang03 -> Đề 5: Phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”của Phạm Tiến Duật
Thang03 -> Đề 1: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: "Văn chương [ ] có loại đáng thờ. Có loại ko đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại ko đáng thờ là loại chuyên chú ở con người"
Thang03 -> Phân tích nghệ thuật tả cảnh, tả người của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Thang03 -> Đề thi thử thpt quốc gia môn Văn năm 2015 Trường thpt thống Nhất
Thang03 -> Phân tích đoạn trích trong tác phẩm số phận con người của A. Sô-lô-khốp
Thang03 -> Thực hiện: Nhóm 5 gvhd: ThS. Nguyễn Thị Hương
Thang03 -> Trường Tiểu học Sông Mây
Thang03 -> Đề tài: phân tích hoạT ĐỘng kinh doanh dịch vụ TẠi tậP ĐOÀn viễn thông quâN ĐỘi viettel tp. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2012
Thang03 -> ĐẠi học nông lâm tp
Thang03 -> 3/ Sự sinh sản và phát triển có biến thái ở ếch

tải về 0.73 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương