Mục lục mở ĐẦU 1



tải về 0.73 Mb.
trang4/8
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích0.73 Mb.
#4292
1   2   3   4   5   6   7   8

(Nguồn: Niên giám thống kê Thái Nguyên, 2012)[14]

* Lao động

Trong những năm gần đây, nhờ có chính sách đổi mới về phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ và nông lâm ngư nghiệp đã và đang thu hút, cung cấp nhiều cơ hội việc làm cho lực lượng lao động khu vực. Nguồn lao động chủ yếu là lực lượng tại chỗ và nội vùng, do đó phát triển đa dạng loại hình hoạt động sản xuất sẽ hạn chế tình trạng di cư và tỷ lệ nghèo đói.

* Mức sống dân cư, thu nhập

Nhìn chung mức sống dân cư có xu hướng tăng lên trong những năm qua, mức lương thực bình quân đầu người năm 2008 trung bình là 402,8kg/người, cao hơn mức bình quân toàn tỉnh (356,9kg) là 11,3% và bằng 80,3% mức trung bình của cả nước (501,8kg). Như vậy, an ninh lương thực của khu vực phía Nam Thái Nguyên được đảm bảo.Tuy nhiên, mức sống dân cư không đồng đều giữa các vùng, năm 2008 vùng Phổ Yên ước tính GDP/người bình quân 13,6 triệu đồng, thị xã Sông Công đạt 13,42 triệu đồng, vùng Phú Bình năm 2006 - 2007 đạt bình quân 4,4 - 5 triệu đồng. Công tác xoa đói giảm nghèo được địa phương dành sự quan tâm đặc biệt, đạt hiệu quả tốt.[6]

3.1.3.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

Vùng quy hoạch đang chuyển dần cơ cấu kinh tế sang cơ cấu kinh tế công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp hình thành rõ rệt và tiến tới chuyển dịch sang dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa. Đối với ngành công nghiệp - xây dựng phát triển mạnh, đóng góp lớn nhất cho GDP của các huyện, thị trong vùng.

Về sản xuất công nghiệp có bước phát triển mới, nhiều ngành có mức tăng trưởng cao như: công nghiệp chế biến đồ uống và thực phẩm, sản xuất trang phục, sản xuất gỗ và lâm sản, sản xuất phi kim loại, công nghiệp khai thác cát sỏi… bước đầu triển khai tích cực chương trình hỗ trợ phát triển nhóm sản phẩm công nghiệp chủ lực của các ngành cơ khí, chế biến thực phẩm và đồ uống, dệt may cao cấp và sản xuất phi kim loại…

Xây dựng và quản lý đô thị: Kết cấu hạ tầng được cải thiện một bước theo hướng hiện đại hóa; các vấn đề dân sinh bức xúc như điện, nước, xử lý môi trường… đều được quan tâm giải quyết. Vấn đề công nghiệp hóa một mặt giúp cho nền kinh tế tăng trưởng; xong nếu chất thải công nghiệp không được xử lý trước khi xả thải ra môi trường sẽ gây tác hại khôn lường.

Sản xuất nông nghiệp vẫn sử dụng nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Hiện có 90% đất canh tác được dùng thuốc bảo vệ thực vật và nhiều nhất là ở cây chè. Nhiều loại thuốc chứa clo hữu cơ, thủy ngân, asen và các kim loại nặng khác, nhóm lân hữu cơ có độc tính rất cao. Lượng phân bón dùng trong sản xuất nông nghiệp và nguồn phân thải trong các trang trại chăn nuôi gia súc chủ yếu làm tăng nồng độ nitrat, NH4+ trong môi trường.

3.2 Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn tại các huyện phía Nam tỉnh Thái Nguyên.

3.2.1. Số lượng trang trại chăn nuôi lợn tại khu vực phía Nam Tỉnh Thái Nguyên

Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn ở ba huyện phía Nam đang có bước phát triển mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê đến năm 2012 thì huyện Phú Bình có 105.310 con lợn thịt, 30.510 con lợn nái, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 15 nghìn tấn[4]; Huyện Phổ Yên có tổng đàn lợn là 109.963 con, riêng tổng đàn lợn của các trang trại là 38,7 nghìn con chiếm khoảng 35, 19% tổng đàn[5]; thị xã Sông Công tính đến năm 2011, toàn thị xã có 11,334 nghìn con lợn thịt, 3234 con lợn nái, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 1.661 tấn đạt 91,62% so với kế hoạch.[20]




(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2011)[14]

Hình 3.1: Số trang trại chăn nuôi lợn ở khu vực phía Nam, tỉnh Thái Nguyên

Số lượng các trang trại chăn nuôi lợn tại khu vực phía Nam, Thái Nguyên có xu hướng biến động mạnh nhất là vào thời điểm năm 2011 là do việc thống kê lại các trang trại theo tiêu chí mới quy định tại thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT ngày 13/3/2011; một phần vì người chăn nuôi không tính được hết các biến động của thị trường hàng hóa chăn nuôi. Tình trạng các trang trại treo xảy ra rất nhiều, người dân đầu tư xây dựng trang trại tốn một khoản chi phí lớn, trong khi chăn nuôi việc tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều khó khăn do tình hình dịch bệnh, giá cả bấp bênh, không có thị trường ổn định… Tuy nhiên, tới năm 2012, các trang trại đã dần ổn định, một số trang trại bắt đầu chăn nuôi trở lại cho nên số lượng các trang trại tăng lên; trong các huyện phía Nam thì Phú Bình có số trang trại chăn nuôi lợn nhiều nhất với 70 trang trại, Phổ Yên có 46 trang trại lợn và Sông Công có 6 trang trại.

3.2.2. Quy mô chăn nuôi tại các trang trại ở 3 huyện phía Nam năm 2012

Khu vực phía Nam, tỉnh Thái Nguyên là một vùng trọng điểm về ngành chăn nuôi lợn. Nhìn trên mặt tổng thể, số trang trại chiếm một số lượng khá lớn so với cả tỉnh, nhưng quy mô đầu con lớn (> 500 đầu lợn) lại chỉ chiếm 11.5%, chủ yếu là các trang trại quy mô trung bình (200 - 500 đầu lợn) và quy mô nhỏ nhỏ (< 200 đầu lợn).




(Nguồn: Phòng NN và PTNT Phú Bình, Phổ Yên, Sông Công, 2012)[17][18][19]

Hình 3.2: Biểu đồ quy mô chăn nuôi của các trang trại


ở khu vực phía Nam, Thái Nguyên

Qua hình 3.2 cho thấy, huyện Phú Bình với 70 trang trại và Phổ Yên với 46 trang trại chăn đang là hai huyện trọng điểm về chăn nuôi lợn. Tuy có số lượng các trang trại nhiều nhất nhưng Phú Bình là huyện tập trung các trang trại với quy mô nhỏ, dưới 200 đầu lợn, do xuất phát điểm chủ yếu là các hộ nuôi lợn nhỏ lẻ sau đó hình thành dần lên thành trang trại lớn hơn và các trang trại thường năm liền kề với khu đất sinh hoạt của gia đình. Huyện Phổ Yên có số trang trại quy mô trung bình từ 200 - 500 đầu lợn chiếm đa số, có 9 trang trại quy mô lớn trên 500 đầu lợn một lứa, các trang trại lớn đều nằm cách xa khu dân cư, là khu vực có đất đai rộng, thuận lợn để xây dựng hệ thống chuồng trại và hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi. Thị xã Sông Công là khu vực tập trung rất ít các trang trại chăn nuôi, đặc biệt là trang trại lợn. Theo thống kê của phòng Nông nghiệp thị xã thì chỉ có 6 trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn và đều là các trại chăn nuôi tư nhân.

Bảng 3.2: Số lượng lợn của ba huyện phía Nam tỉnh Thái Nguyên

(Đơn vị: con)


Khu vực

Năm

2009

2010

2011

2012

TX.Sông Công

18.73

17.44

14.57

14.82

Huyện Phổ Yên

101.43

109.31

103.52

109.96

Huyện Phú Bình

127.41

134.56

128.19

135.82

Toàn tỉnh

560.015

577.52

516.64

544.82

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2012)[14]

Bảng 3.2 cho thấy số lượng lợn tỉnh Thái Nguyên nhìn chung là tăng qua các năm với tổng số đầu lợn năm 2009 là 560.015 con tăng đến 577.52 con năm 2010, nhưng lại giảm xuống còn 516.64 con năm 2011, là do việc bùng phát dịch bệnh tai xanh, lở mồm long móng, và thị trường tiêu thụ gặp khó khăn do một số thị trường lớn như Trung Quốc ngừng nhập khẩu lợn… và tăng trở lại vào năm 2012 với 544.82 con. Trong ba huyện phía Nam thì Phú Bình có số lượng đàn lợn lớn nhất so với các huyện, thị xã trong tỉnh với tổng số đầu lợn tính đến năm 2012 là 135.82 con. Sau đó đến huyện Phổ Yên đứng thứ hai với số đầu lợn tính đến năm 2012 là 109.96 con. Cuối cùng là thị xã Sông Công với 14.82 con tính đến năm 2012. Có thể nói, ngành chăn nuôi tại ba huyện phía Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn từ quy mô tới số lượng và chất lượng các trang trại, chứng tỏ thị trường chăn nuôi đã được quan tâm, chú trọng nhiều hơn. Chính vì vậy, chăn nuôi lợn được coi là một trong những ngành thương phẩm phát triển kinh tế quan trọng ở ba huyện phía Nam cũng như toàn tỉnh Thái Nguyên.

Bảng 3.3: Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng của ba huyện phía Nam

(Đơn vị: tấn)


Khu vực

Năm

2009

2010

2011

2012

TX.Sông Công

1.873

1.813

1.661

1.882

Huyện Phổ Yên

10.752

11.723

11.232

12.698

Huyện Phú Bình

12.741

13.329

13.294

15.797

Toàn tỉnh

55.778

57.052

55.239

63.343

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2012)[14]

Qua bảng 3.3 cho thấy, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng của toàn tỉnh Thái Nguyên tăng và ổn định từ năm 2009 là 55.778 tấn lên 63.343 tấn năm 2012, riêng ba huyện phía Nam là cửa ngõ đi Hà Nội và các tỉnh phía Bắc là điều kiện thuận lợi để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Huyện Phú Bình dẫn đầu với sản lượng thịt lợn hơi cao nhất, tăng từ 12.741 tấn năm 2009 lên 15.797 tấn năm 2012, huyện Phổ Yên cũng có sản lượng tăng từ 10.752 tấn lên 12.698 tấn ( năm 2009 - 2012), thị xã Sông Công sản lượng thịt lợn hơi giảm nhẹ từ 1.873 tấn năm 2009 xuống 1.661 tấn năm 2011, và tăng vào năm 2012 với 1.882 tấn, là do một số trang trại làm ăn thua lỗ nên ngừng chăn nuôi, tới năm 2012 khi giá cả ổn định và dịch bệnh được khống chế thì sản lượng của thị xã có xu hướng tăng trở lại. Tuy sản lượng thịt lợn hơi tăng nhưng không nhiều là do trong các năm gần đây giá cả các loại thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y và vật tư phục vụ chăn nuôi giữ ở mức giá khá cao, trong khi giá sản phẩm chăn nuôi lại thấp và không ổn định đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả sản xuất chăn nuôi của không chỉ ba huyện phía Nam, mà còn ảnh hưởng tới kết quả chăn nuôi chung của toàn tỉnh.

3.2.3. Các kiểu hệ thống chăn nuôi lợn trong các trang trại

Bảng 3.4: Mô hình chăn nuôi lợn đang áp dụng tại một số trang trại



Mô hình

Theo huyện

Tổng số trang trại

Tỷ lệ (%)

Phú Bình

Phổ Yên

Sông Công

Vườn-Ao-Chuồng (VAC)

3

5

1

9

15

Vườn-Chuồng (VC)

7

1




8

13,33

Ao-Chuồng (AC)

14

4

1

19

31,67

Chuồng (C)

11

13




24

40

Tổng

35

23

2

60

100

(Nguồn: Kết quả điều tra nông hộ, 2013)

Bảng 3.4 cho thấy :

Còn rất ít các trang trại ứng dụng mô hình chăn nuôi khép kín vườn - ao - chuồng, chiếm tỷ lệ 15% và mô hình vườn - chuồng (chiếm tỷ lệ 13,33%), nhằm sử dụng một phần chất thải chăn nuôi. Có 31,67% các trang trại được hỏi chăn nuôi theo mô hình ao - chuồng, đây là loại mô hình nửa khép kín khá phổ biến tại khu vực phía Nam, tỉnh Thái Nguyên.

Mô hình chăn nuôi kết hợp vườn cây, ao cá đã được áp dụng từ rất lâu và mang lại hiệu quả kinh tế, xong không phải trang trại nào cũng có thể áp dụng do chủ yếu được xây dựng chung với khuôn viên nhà ở và diện tích đất đai chật hẹp. Có tới 24/60 trang trại được phỏng vấn, chỉ chăn nuôi theo mô hình chuồng trại mà không kết hợp với trồng cây, nuôi cá, chiếm tỷ lệ 40 %.

Phú Bình: Mô hình ao - chuồng chiếm tỉ lệ cao nhất tại huyện với 14 trang trại được khảo sát, mô hình vườn - ao - chuồng chiếm tỉ lệ ít nhất với 3 trang trại.

Phổ Yên: Chuồng (C) là mô hình được áp dụng nhiều nhất với 13 trang trại, vườn - chuồng là mô hình áp dụng ít nhất, với 1 trang trại.

Sông Công: có số lượng các trạng trại lợn thấp nhất, với 2 trang trại khảo sát thì có 1 trang trại áp dụng theo mô hình VAC và 1 trang trại áp dụng mô hình AC.

3.2.4. Cơ cấu đất đai trong các trang trại

Để thấy rõ hơn thực trạng của các hệ thống, chúng tôi tiến hành khảo sát tình hình sử dụng đất tại các hệ thống, kết quả được thể hiện ở bảng 3.5:

Bảng 3.5: Diện tích đất sử dụng tại các trang trại có mô hình

chăn nuôi khác nhau


Mục đích

sử dụng

Các hệ thống

VAC

AC

VC

C

Diện tích

(m2)



%

Diện tích

(m2)



%

Diện tích

(m2)



%

Diện tích

(m2)



%

Nhà ở

201±31,2

4,3

106±12,8

3,5

128±17.4

2,8

154±25.7

17,7

Chuồng nuôi

728±157

15,4

651±87,5

21,7

1002±46.3

21,7

657±36

75,3

Ao

1204±49

25,5

2246±37.2

74,8













Vườn

2431±33.6

51,5







3286±26.8

71,2







Khu xử lý chất thải

152±14.5

3,2







201±34.2

4,3

61±15.7

7

Tổng diện tích

4.716±39.5

100

3.003±34.7

100

4.617±22.8

100

872±21.2

100

(Nguồn: Kết quả điều tra nông hộ, 2013)

Tại khu vực phía Nam tỉnh Thái Nguyên, chủ yếu là các trang trại nằm trong khu vực dân cư do vậy quĩ đất nhỏ, lớn nhất ở hệ thống VAC trung bình là 4.716 m2, thấp nhất ở hệ thống C (872 m2).

Thông thường diện tích dành cho nhà ở đều nhỏ, nằm trong khoảng 106 m2 đến 201m2 , chiếm 2,8 - 17,7% tùy theo mô hình chăn nuôi của mỗi trang trại. Chuồng chăn nuôi thường được xây dựng rất gần với khu nhà ở và có diện tích bề mặt từ khoảng 651 m2 đến 1002 m2, chiếm 15,4% ở mô hình VAC và 75,3% với mô hình chăn nuôi đơn thuần.

Với mô hình VAC và AC, thì khu ao nuôi cá chiếm diện tích khá lớn trong quỹ đất, 1204 m2 trong tổng số 4716 m2, với mô hình VAC và 2246 m2 trong tổng 3003 m2 của mô hình AC. Với mô hình VAC diện tích vườn chiếm 2431m2/4716 m2 (51,5%), còn mô hình VC, vườn có diện tích 3286 m2/4617 m2 chiếm 71,2 % tổng diện tích sử dụng.

Với các trang trại có quỹ đất nhỏ hẹp, chỉ xây dựng được khu chuồng nuôi thì diện tích chiếm 75,3% tổng diện tích sử dụng, còn lại là nhà ở và công trình phụ của gia đình.

Các mô hình VAC, VC và C, đều được thiết kế có khu xử lý chất thải, chiếm từ 7% diện tích trở xuống và đều nằm ở một góc hoặc cuối đất, gần với khu vực chuồng trại để tiện xử lý chất thải. Với mô hình AC, hầu hết lượng chất thải được đưa xuống làm nguồn thức ăn cho cá nên các trang trại này thường không có khu xử lý chất thải.

3.2.5. Qui mô chăn nuôi của các trang trại

Bảng 3.6 : Qui mô chăn nuôi của các trang trại khảo sát



Loại lợn

Số lượng theo các hệ thống (con)

VAC

AC

VC

C

Lợn nái

0 - 15

0 - 17

0 - 21

0 - 19

Lợn thịt

87 - 193

101 - 254

177 - 261

91 - 148

Lợn con

0 - 123

0 - 158

0 - 231

0 - 167

Đực giống

0-3

0-3

0-3

0-2

Каталог: data -> file -> 2015 -> Thang03
Thang03 -> Đề 5: Phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”của Phạm Tiến Duật
Thang03 -> Đề 1: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: "Văn chương [ ] có loại đáng thờ. Có loại ko đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại ko đáng thờ là loại chuyên chú ở con người"
Thang03 -> Phân tích nghệ thuật tả cảnh, tả người của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Thang03 -> Đề thi thử thpt quốc gia môn Văn năm 2015 Trường thpt thống Nhất
Thang03 -> Phân tích đoạn trích trong tác phẩm số phận con người của A. Sô-lô-khốp
Thang03 -> Thực hiện: Nhóm 5 gvhd: ThS. Nguyễn Thị Hương
Thang03 -> Trường Tiểu học Sông Mây
Thang03 -> Đề tài: phân tích hoạT ĐỘng kinh doanh dịch vụ TẠi tậP ĐOÀn viễn thông quâN ĐỘi viettel tp. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2012
Thang03 -> ĐẠi học nông lâm tp
Thang03 -> 3/ Sự sinh sản và phát triển có biến thái ở ếch

tải về 0.73 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương