Mục lục mở ĐẦU 1



tải về 0.73 Mb.
trang2/8
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích0.73 Mb.
#4292
1   2   3   4   5   6   7   8

* Nước phân


Nước phân chuồng là hỗn hợp phân, nước tiểu và nước rửa chuồng. Vì vậy nước phân chuồng rất giàu chất dinh dưỡng và có giá trị lớn về mặt phân bón. Nước phân chuồng là nghèo lân, giàu đạm và rất giàu kali. Đạm trong nước phân chuồng tồn tại theo 3 dạng chủ yếu là: urê, axit uric và axit hippuric, khi để tiếp xúc với không khí một thời gian hay bón vào đất thì bị vi sinh vật phân giải axit uric và axit hippuric thành urê và sau đó chuyển thành amoni carbonat.

* Nước thải


Nước thải chăn nuôi là một loại nước thải rất đặc trưng và có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao do có chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, cặn lơ lửng, N, P và VSV gây bệnh. Theo kết quả điều tra đánh giá hiện trạng môi trường của Viện chăn nuôi (2006) tại các cơ sở chăn nuôi lợn có quy mô tập trung thuộc Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy đặc điểm của nước thải chăn nuôi [28]:

  • Các chất hữu cơ: hợp chất hữu cơ chiếm 70-80% bao gồm cellulose, protit, acid amin, chất béo, hidrat carbon và các dẫn xuất của chúng, thức ăn thừa. Các chất vô cơ chiếm 20-30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO42-,…

  • N và P: khả năng hấp thụ N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém, nên khi ăn thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài theo phân và nước tiểu. Trong nước thải chăn nuôi heo thường chứa hàm lượng N và P rất cao. Hàm lượng N-tổng = 200 - 350 mg/l trong đó N-NH4 chiếm khoảng 80-90%; P-tổng = 60-100mg/l.

  • Sinh vật gây bệnh: Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh.

Chất thải lỏng trong chăn nuôi (nước tiểu vật nuôi, nước tắm, nước rửa chuồng, vệ sinh dụng cụ, ...) ước tính khoảng vài chục nghìn tỷ m3 /năm.

* Khí thải


Chất thải khí: Chăn nuôi phát thải nhiều loại khí thải (CO2, NH3, CH4, H2S,... thuộc các loại khí nhà kính chính ) do hoạt động hô hấp, tiêu hóa của vật nuôi, do ủ phân, chế biến thức ăn, ... ước khoảng vài trăm triệu tấn/ năm.

1.1.2.Các loại hình chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam



1.1.2.1. Tổng quan về ngành chăn nuôi trên thế giới

a) Chăn nuôi thế giới tầm nhìn 2020

Một cuộc cách mạng đang diễn ra đối với ngành nông nghiệp trên toàn cầu, mang những thông điệp rõ ràng về y tế cộng đồng, sinh kế và môi trường. Gia tăng dân số, đô thị hoá và thu nhập tăng ở các nước đang phát triển đã dẫn đến nhu cầu to lớn về thực phẩm có nguồn gốc động vật. Những thay đổi trong khẩu phần thức ăn của nhiều triệu người có thể cải thiện đáng kể cuộc sống của nhiều người nghèo ở nông thôn. Các chính phủ và ngành nông nghiệp phải chuẩn bị cho cuộc cách mạng này với các chính sách và đầu tư dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, nâng cao dinh dưỡng, tạo các cơ hội để tăng thu nhập trực tiếp cho những người có nhu cầu cao nhất về công ăn việc làm và để giảm bớt sức ép về môi trường và y tế công.

* Sự chuyển đổi tiêu dùng và sản xuất

Không giống như "Cách mạng xanh" được điều khiển bởi nguồn cung ứng", "Cách mạng chăn nuôi" được điều khiển bởi nhu cầu. Vào đầu những năm 1970 và giữa những năm 1990, khối lượng thịt được tiêu dùng ở các nước đang phát triển đã tăng lên gần ba lần, bằng lượng thịt tiêu thụ ở các nước đã phát triển. Tiêu thụ ở nhóm các nước đang phát triển nhanh hơn ở giai đoạn thứ hai của thời kỳ này, và châu á thực sự nổi lên là một thị trường dẫn đầu về tiêu thụ thịt trong khu vực.

Thịt được tiêu dùng gồm thịt bò, thịt lợn, thịt cừu, thịt dê và thịt gia cầm. ước lượng về sản lượng thịt ở Trung Quốc vào đầu những năm 1990 vượt quá con số thực tế, tiêu dùng thịt thực sự vào năm 1993 của Trung Quốc là 30 triệu tấn (tỉ lệ tăng trưởng hàng năm từ năm 1983 là 6,3%). Nếu con số trên là đúng thì mức độ tiêu thụ thịt trên thế giới cho năm 1993 đạt tới 4,3% và thấp hơn cho năm 2020, vì Tổ chức IMPACT (International Model for Policy Analysis of Agricultural Consumption = Mô hình quốc tế để phân tích chính sách trong tiêu thụ nông sản) đã kết hợp các dự tính bi quan đó nhưng không phù hợp với cách nhìn nhận bảo thủ cho năm 1993.[31]

Xuất phát điểm từ sơ sở chăn nuôi nhỏ phân tán, các nước đang phát triển đã bắt đầu nhích những bước đáng kể tới mức độ tiêu thụ thịt ở các nước đã phát triển, nhưng họ còn phải vượt qua một con đường khá dài nữa, chủ yếu vì các nước đang phát triển có mức thu nhập còn thấp. Người dân ở các nước đã phát triển nạp trung bình 27% lượng calo và 56% lượng prôtein từ thực phẩm. Tỉ lệ bình quân này của các nước đang phát triển tương ứng là 11% và 26%. Sự khác biệt về mức độ tiêu thụ là một chỉ định về những thay đổi nhanh chóng trong sản xuất thực phẩm trên toàn cầu, như thể một cuộc cách mạng trong chăn nuôi đang diễn ra.[31]

Sản lượng thực phẩm tăng nhanh nhất ở nơi nào tiêu thụ thực phẩm nhiều nhất. Tổng sản lượng thịt ở các nước đang phát triển tăng lên 4,3% mỗi năm vào đầu những năm 1980 và giữa những năm 1990, cao hơn năm lần so với tỉ lệ đó của các nước đã phát triển. Lượng thịt tính theo đầu người đáp ứng được nhu cầu của người dân ở các khu vực đang phát triển nhanh nhất, trừ tiểu vùng châu Phi thuộc sa mạc Sahara (về thịt) và Tây á/Bắc Phi (về sữa).

Xu hướng tiêu dùng này sẽ còn tiếp tục diễn ra trong tương lai là một câu hỏi có thể được trả lời thông qua mô hình lương thực thực phẩm toàn cầu của IFPRI. Mô hình này gồm số liệu của 37 nước và nhóm nước đối với 18 loại hàng hoá. Các phân tích cơ bản của mô hình IMPACT dự báo rằng tiêu thụ thịt và sữa ở các nước đang phát triển sẽ tăng lên tương ứng là 2,8 và 3,3 % mỗi năm trong giai đoạn vào đầu những năm 1990 đến 2020. Tỉ lệ tăng trưởng của thịt và sữa tương ứng của các nước đã phát triển là 0,6 và 0,2 % mỗi năm. Đến năm 2020, các nước đang phát triển sẽ tiêu thụ nhiều hơn năm 1993 là 100 triệu tấn thịt và 223 triệu tấn sữa, trong khi đó tiêu thụ của các nước đã phát triển chỉ tăng 18 triệu tấn đối với cả thịt và sữa.[26]

Qua năm 2020, tỉ lệ tăng trưởng đối với sản lượng thịt trong ngành chăn nuôi sẽ đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ thịt ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Sản lượng thịt sẽ tăng khoảng 4 lần ở các nước đang phát triển, sẽ tăng nhanh như ở các nước đã phát triển. Các nước đang phát triển vào năm 2020 sẽ sản xuất 60% lượng thịt và 52% lượng sữa trên thế Giới. Trung Quốc sẽ đứng đầu về sản xuất thịt và ấn Độ dẫn đầu về sản xuất sữa.

* Các chỉ dẫn về giá lương thực thực phẩm trên thế giới

Tăng sản lượng chăn nuôi sẽ đòi hỏi lượng tiêu thụ thức ăn chăn nuôi hàng năm đối với bột ngũ cốc tăng lên 292 triệu tấn vào giai đoạn từ 1993 đến 2020. Tiêu thụ nhiều ngũ cốc sẽ đẩy giá lên trong suốt giai đoạn này, giá được điều chỉnh do lạm phát đối với các sản phẩm chăn nuôi và thức ăn chăn nuôi có thể xẩy ra vào cuối năm 2020, nhưng nó sẽ không xẩy ra nhanh chóng như trong 20 năm qua. Trong trường hợp xấu nhất, nhu cầu về thức ăn chăn nuôi ở dạng ngũ cốc cho một đơn vị thịt sẽ tăng lên 1% năm cho đến hết năm 2020 vì sự gia tăng của nền sản xuất công nghiệp và thiếu sự tăng bù đắp từ việc sử dụng hiệu quả hơn thức ăn chăn nuôi. IMPACT dự đoán rằng giá ngô thực trong năm 2020 có thể sẽ tăng thêm 1 phần 5 giá hiện tại và sẽ duy trì ổn định ở mức dưới giá của những năm 1980. Thậm chí, nếu năng suất chăn nuôi tăng lên dưới mức dự định thì vẫn đủ thịt, sữa và thức ăn chăn nuôi vào năm 2020 mà không cần quan tâm tới giá ngũ cốc tăng trên mức của giai đoạn 1992-1994. Dù bất cứ yếu tố cơ bản nào ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưỏng nhanh chóng trong sản xuất và tiêu thụ của ngành chăn nuôi cũng sẽ phải quan tâm đến người nghèo, môi trường và sức khoẻ con người.[26]

* Chăn nuôi và người nghèo

Khi nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi tăng lên sẽ kéo theo sức mua của người nghèo cũng tăng. Có một thực tế là người nghèo ở nông thôn và nông dân không có đất, đặc biệt là phụ nữ, sẽ có mức thu nhập cao hơn từ chăn nuôi họ so với người dân bình thường. Ngoài ra, chăn nuôi cung cấp cho người nghèo phân bón và năng lượng nhỏ, đi cùng với cơ hội khai thác các khu chăn thả, xây dựng và tiết kiệm thêm, cũng như đa dạng hoá thu nhập. Cách mạng chăn nuôi có thể trở thành một phương tiện chủ yếu để giảm nghèo trong 20 năm tới. Công nghiệp hoá nhanh chóng trong ngành chăn nuôi bằng cách trợ giá rộng rãi hiện nay cho các khoản tín dụng qui mô lớn và sử dụng đất cho chăn thả có thể sẽ làm tổn hại đến cơ chế tạo thu nhập chính và sinh lợi từ chăn nuôi qui mô nhỏ cho người nghèo. Các nhà lập chính sách cần đảm bảo rằng chính sách mà họ xây dựng không đẩy người nghèo ra khỏi thị trường đang tăng trưởng trong tương lai, và người nghèo hiện vẫn có thể cạnh tranh được trong lĩnh vực chăn nuôi. Các sản phẩm chăn nuôi cũng mang lại lợi ích cho người nghèo vì chăn nuôi góp giảm thiểu sự thiếu hụt prôtein và suy dinh dưỡng ở các nuớc đang phát triển. Chỉ cần dùng một lượng nhỏ sữa và thịt cũng có thể cung cấp một lượng dinh dưỡng, prôtein và calo nhất định cho người nghèo, thay vì họ phải dùng một lượng lớn ngũ cốc và rau mới có thể đạt được.

* Môi trường bền vững và sức khoẻ cộng đồng

Các nhà lập chính sách nên quan tâm đến các mức độ thấp về calo mà người nghèo tiêu thụ; họ cũng khó tiếp cận được các sản phẩm chăn nuôi. Các rủi ro lớn hơn cho sức khoẻ con người xuất phát từ các sản phẩm chăn nuôi ở các nước đang phát triển bắt nguồn từ các bệnh có nguồn gốc động vật, như cúm gia cầm, khuẩn Salmonella, nhiễm khuẩn từ việc sử dụng không an toàn các loại thực phẩm, các loại thuốc trừ sâu và tồn dư thuốc kháng sinh ở chuỗi thức ăn trong quá trình sản xuất. ảnh hưởng của Cách mạng chăn nuôi đến môi trường cũng là những điều băn khoăn lo lắng. Chăn nuôi có đóng góp đặc biệt đến tính bền vững của môi trường, kết hợp cùng với các hệ thống canh tác tạo nên sự cân bằng phù hợp giữa thâm canh cây trồng và chăn nuôi. Trong các hệ thống này, chăn nuôi cung cấp phân bón và nước thải chăn nuôi để duy trì thâm canh trong sản xuất cây trồng. Chăn nuôi qui mô lớn ở các khu vực ngoại thành là cần thiết để đáp ứng nhu cầu thịt và sữa cho các thành phố, nhưng sẽ dẫn đến sự bạc màu của các cánh đồng trồng cỏ và các vấn đề về ô nhiễm môi trường. Các chính sách cũng khuyến khích chăn nuôi tập trung và giảm thiểu phá rừng để trồng trọt nhằm bảo vệ người sản xuất và tiêu dùng khỏi phải trả giá cho sự xuống cấp của môi trường. Trong hệ thống thâm canh cao trong nông nghiệp, một số lượng lớn các nhà kính, các khí ga và các chất thải ra trong quá trình chăn nuôi có thể gây nguy hiểm cho môi trường. Vấn đề ô nhiễm hiếm khi được được phản ánh qua các chi phí tài chính của các nhà sản xuất và tiêu dùng.

* Các kết luận về chính sách

Cuộc cách mạng trong chăn nuôi tất yếu sẽ xảy ra. Nhưng sự chuyển đổi nguồn dinh dưỡng trong tương lai ở các nước đang phát triển được thúc đẩy bởi sức ép của thu nhập, tăng dân số, phát triển đô thị sẽ để lại một không gian nhỏ hẹp cho xây dựng chính sách nhằm thay đổi nhu cầu về các sản phẩm có nguồn gốc động vật ngày càng cao. Tuy nhiên, chính sách có thể trợ giúp định hình cuộc cách mạng chăn nuôi mang lại càng nhiều lợi ích càng tốt cho một bộ phận lớn người nghèo trong xã hội. Để làm được như vậy, các nhà lập chính sách phải tập trung vào bốn vần đề chủ yếu sau đây:

- Chăn nuôi qui mô nhỏ phải liên kết chặt chẽ với các nhà giết mổ chế biến và các nhà tiếp thị đối với các thực phẩm dễ bị hư hỏng. Nhóm người nghèo khó có thể tiếp cận các nguồn vốn vay để sản xuất như tín dụng và các thiết bị làm lạnh, kiến thức và thông tin về cách thức ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Sự phối hợp giữa các nhà chăn nuôi nhỏ và các nhà chế biến qui mô lớn sẽ kết hợp được các lợi ích về môi trường và xoá đói giảm nghèo của sản xuất chăn nuôi qui mô nhỏ phù hợp lợi ích kinh tế và các lợi ích về sức khoẻ con người. Các qui trình chế biến qui mô lớn trong chăn nuôi góp phần bảo vệ sức khoẻ con người.

- Chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho sự sát nhập các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ để sản xuất hàng hoá bằng cách sửa đổi những bất cập trong chính sách phát sinh từ các mô hình kinh tế ảo, như các trợ cấp cho tín dụng và đất chăn thả qui mô lớn. Thiết lập mối quan hệ đối tác giữa khu vực chăn nuôi công và tư nhân để phát triển các công nghệ và tích lũy kinh nghiệm sản xuất nhằm giảm thiểu rủi ro sự lan truyền dịch bệnh từ vật nuôi sang người. Các rủi ro đó có thể xẩy ra khi một số lượng lớn vật nuôi của các nhà chăn nuôi qui mô nhỏ được giết mổ và chế biến trong cùng một cơ sỏ. Cần chú ý đặt biệt đến năng xuất chăn nuôi và các vấn đề sức khoẻ, bao gồm cả chế biến sau thu hoạch và tiếp thị.

- Cần phải phát triển các cơ chế điều chỉnh để giải quyết các vấn đề tồn tại về sức khỏe và môi trường phát sinh trong quá trình chăn nuôi. Phải có các qui định bắt buộc đối với các cơ sở chăn nuôi áp dụng các công nghệ để bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng. Trên hết, những người chăn nuôi qui mô nhỏ cần phải nắm bắt lấy cơ hội này. Thiếu sự thực thi trong chính sách sẽ không thể dừng được Cuộc cách mạng trong chăn nuôi, nhưng chính sách đó sẽ ít có lợi cho sự tăng trưởng, cho xoá đói giảm nghèo, và phát triển bền vững ở các nước đang phát triển.
b) Quản lý chất thải chăn nuôi lợn trên thế giới

Việc xử lý chất thải chăn nuôi lợn đã được nghiên cứu triển khai ở các nước phát triển từ cách đây vài chục năm. Các nghiên cứu của các tổ chức và các tác giả như (Zhang và Felmann, 1997), (Boone và cs, 1993; Smith & Frank, 1988), ( Chynoweth và Pullammanappallil, 1996; Legrand, 1993; Smith và cs, 1988; Smith và cs, 1992), (Chynoweth, 1987; Chynoweth & Isaacson, 1987)... Các công nghệ áp dụng cho xử lý nước thải trên thế giới chủ yếu là các phương pháp sinh học. Ở các nước phát triển, quy mô trang trại hàng trăm hecta, trong trang trại ngoài chăn nuôi lợn quy mô lớn (trên 10.000 con lợn), phân lợn và chất thải lợn chủ yếu làm phân vi sinh và năng lượng Biogas cho máy phát điện, nước thải chăn nuôi được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp.



Hình 1.1: Mô hình quản lý chất thải rắn chăn nuôi trên thế giới

Tại các nước phát triển việc ứng dụng phương pháp sinh học trong xử lý nước thải chăn nuôi đã được nghiên cứu, ứng dụng và cải tiến trong nhiều năm qua.

Tại Hà Lan, nước thải chăn nuôi được xử lý bằng công nghệ SBR qua 2 giai đoạn: giai đoạn hiếu khí chuyển hóa thành phần hữu cơ thành CO2, nhiệt năng và nước, amoni được nitrat hóa thành nitrit và/hoặc khí nitơ; giai đoạn kỵ khí xảy ra quá trình đề nitrat thành khí nitơ. Phốtphat được loại bỏ từ pha lỏng bằng định lượng vôi vào bể sục khí (Willers et al,1994).

Tại Tây Ban Nha, mước thải chăn nuôi được xử lý bằng quy trình VALPUREN (được cấp bằng sáng chế Tây Ban Nha số P9900761). Đây là quy trình xử lý kết hợp phân hủy kỵ khí tạo hơi nước và làm khô bùn bằng nhiệt năng được cấp bởi hỗ hợp khí sinh học và khí tự nhiên.

Tại Thái Lan, công trình xử lý nước thải sau Biogas là UASB. Đây là công trình xử lý sinh học kỵ khí ngược dòng. Nước thải được đưa vào từ dưới lên, xuyên qua lớp bùn kỵ khí lơ lửng ở dạng các bông bùn mịn. Quá trình khoáng hóa các chất hữu cơ diễn ra khi nước thải tiếp xúc với các bông bùn này. Một phần khí sinh ra trong quá trình phân hủy kỵ khí (CH4, CO2 và một số khí khác) sẽ kết dính với các bông bùn và kéo các bông bùn lên lơ lửng trong bùn, tạo sự khuấy trộn đều giữa bùn và nước. Khi lên đến đỉnh bể, các bọt khí được giải phóng với khí tự do và bùn sẽ rơi xuống. Để tăng tiếp xúc giữa nước thải với các bông bùn, lượng khí tự do sau khi thoát ra khỏi bể được tuần hoàn trở lại hệ thống.



1.1.2.2. Giới thiệu về ngành chăn nuôi lợn ở Việt Nam

Chăn nuôi thế giới đang từng bước chuyển dịch từ các nước đã phát triển sang các nước đang phát triển. Các nước đã phát triển xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển ngành chăn nuôi duy trì ở mức ổn định, nâng cao quá trình thâm canh, các biện pháp an toàn sinh học, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Các nước đang phát triển ở châu á và châu Nam Mỹ được nhận định sẽ trở thành khu vực chăn nuôi chính và cũng đồng thời là khu vực tiêu thụ nhiều các sản phẩm chăn nuôi. Các nước đã phát triển chỉ duy trì ổn định sản lượng chăn nuôi của họ để đảm bảo an toàn thực phẩm, phần thiếu hụt sẽ được nhập khẩu từ các nước xuất khẩu vượt qua được hàng rào kỹ thuật về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của họ. Đây là cách tiếp cận không ngoan để giảm thiểu rủi ro về dịch bệnh ở động vật, đặc biệt là các bệnh dịch có khả năng lây nhiễm sang người (như dịch cúm gia cầm, cúm lợn). Chăn nuôi công nghiệp ở các nước đã phát triển sản xuất ra các sản phẩm chăn nuôi có giá cạnh tranh nhưng đồng thời họ phải giải quyết triệt để được vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi công nghiệp tạo ra, vì chăn nuôi công nghiệp tạo ra một lượng chất thải quá lớn cho môi trường của họ. Chi phí cho giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường do chăn nuôi tính trên mỗi sản phẩm chăn nuôi sẽ ngày càng lớn, trong khi họ có thể nhập khẩu các sản phẩm này từ một nước khác có chất lượng tương tự và có giá cả thấp hơn trong nước.

Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO): ngành chăn nuôi đến năm 2020 vẫn tiếp tục phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm đảm bảo cho sức khỏe cộng đồng và gia tăng dân số. Sản xuất chăn nuôi đang có xu hướng chuyển dịch từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển, từ phương Tây sang các nước Châu Á Thái Bình Dương. Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất. Sự thay đổi về chăn nuôi ở khu vực này có ảnh hưởng quyết định đến “cuộc cách mạng” về chăn nuôi trên toàn cầu. Nhu cầu tiêu thụ thịt, sữa cho xã hội tăng nhanh ở các nước đang phát triển, ước tính tăng khoảng 7 - 8%/năm. Cũng như các nước trong khu vực, chăn nuôi Việt Nam đứng trước yêu cầu vừa phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu. Chăn nuôi phải phát triển bền vững gắn với nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, khả năng cạnh tranh và bảo vệ môi trường là xu hướng tất yếu hiện nay. Dự kiến mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2010 - 2015 đạt khoảng 6 - 7% và giai đoạn 2015 - 2020 đạt khoảng 5 - 6% năm [1].

Tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp. Để đảm bảo an ninh lương thực và thực phẩm, biện pháp duy nhất là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thành phần quan trọng trong định hướng phát triển.

Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển với tốc độ nhanh. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001 - 2006 đạt 8,9%. Tổng đàn trâu, bò từ 6,7 triệu con năm 2001 tăng lên 9,7 triệu con năm 2007 (tăng 7,4%/năm), trong đó đàn bò sữa tăng bình quân 15,0%/năm, đàn bò thịt tăng 9,7%/năm và đàn trâu tăng 1,1%/năm; Đàn lợn tăng từ từ 21,8 triệu con năm 2001 lên 26,6 triệu con năm 2007 (tăng 3,3%/năm); Đàn gia cầm trước khi có dịch cúm tăng mạnh, từ 218 triệu con năm 2001 lên 254 triệu con năm 2003 (tăng 8,4%/năm); hiện nay tổng đàn gia cầm là 266 triệu con. [9]

Quy mô chăn nuôi lợn của hộ. Tính đến thời điểm 01/7/2011 cả nước có trên 4,13 triệu hộ có chăn nuôi lợn, giảm 2,2 triệu hộ (gần 35%) so với năm 2006. Số hộ chăn nuôi lợn giảm chủ yếu ở nhóm hộ nuôi quy mô nhỏ - nuôi dưới 10 con: Cả nước có 3,6 triệu hộ nuôi dưới 10 con, giảm 2,2 triệu hộ (-38,5%) so với năm 2006. Số hộ nuôi từ 10 đến 49 con tăng 3,4%; đặc biệt đã có trên 32 nghìn hộ nuôi từ 50 con trở lên tăng gần 80% so với năm 2006. Tuy nhiên, đến năm 2011, số hộ nuôi nhỏ lẻ, quy mô nhỏ (từ 1- 5 con) còn chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số hộ có chăn nuôi lợn ở nước ta (77,5%).[21]

Chăn nuôi lợn nước ta đang có sự chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang quy mô lớn. So với năm 2006, mặc dù số hộ chăn nuôi lợn năm 2011 giảm gần 35% song chủ yếu là ở nhóm các hộ nuôi nhỏ lẻ. Do đó, tổng đàn lợn cả nước năm 2011 vẫn đạt xấp xỉ năm 2006 và sản lượng thịt lợn hơi tăng gần 24% trong 5 năm. Đó là xu hướng tiến bộ đáng ghi nhận vì phù hợp với yêu cầu chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật chăn nuôi, tăng số lứa xuất chuồng cũng như khả năng phòng trừ dịch bệnh.[21]

Sản phẩm chăn nuôi cũng tăng nhanh tương ứng trong thời gian qua và đáp ứng cơ bản cho nhu cầu thực phẩm tiêu dùng trong nước. Năm 2007, tổng khối lượng thịt hơi các loại sản xuất trong nước là 3,2 triệu tấn (tương đương 2,4 triệu tấn thịt xẻ) và bình quân 41,7 kg (28 kg thịt xẻ)/đầu người; trứng đạt 4,60 tỷ quả, bình quân 53 quả/người; sữa bò tươi 234 ngàn tấn, bình quân 2,7 lít người. [9]

Chăn nuôi nước ta thời gian qua chủ yếu vẫn là phân tán nhỏ lẻ, tập trung chủ yếu ở các hộ nông dân với 2 - 3 con trâu bò, 5 - 10 con lợn và 20 - 30 con gia cầm/hộ. Những năm gần đây, chăn nuôi phát triển theo xu hướng trang trại, tập trung sản xuất hàng hóa. Tính đến tháng 10/2006 cả nước có 17.720 trang trại và chủ yếu phát triển ở các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng. Các khu chăn nuôi phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch, chủ yếu trên đất vườn nhà, đất mua hoặc thuê tại địa phương. Nhiều trang trại xây dựng ngay trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường, nguy cơ dịch bệnh cho vật nuôi, con người và ảnh hưởng lớn đến sự phát triển bền vững của ngành chăn nuôi.[9]

Theo Bộ NN&PTNT, 6 tháng đầu năm 2011, tình hình chăn nuôi trên cả nước đang đi vào ổn định sau thiên tai và dịch bệnh. Xu hướng chăn nuôi quy mô lớn đang được quan tâm, chăn nuôi nông hộ giảm dần. Hiện ngành nông nghiệp đang chỉ đạo việc quy hoạch phát triển chăn nuôi theo các vùng sinh thái và theo sản phẩm chăn nuôi trên phạm vi cả nước, bảo đảm phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững. Bên cạnh đó, ngành chăn nuôi vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do tình hình thiên tai, dịch bệnh xảy ra. Trong các đợt rét đậm, rét hại kéo dài từ cuối năm 2010 đến tháng 2/2011 và một số đợt rét đậm bất thường sau đó cho đến cuối tháng 3/2011 đã làm chết gần 100 ngàn trâu, bò và gia súc ăn cỏ. Ngoài ra còn xuất hiện trở lại các loại dịch bệnh như dịch lở mồm long móng, dịch cúm gia cầm, dịch tai xanh. Theo số liệu thống kê sơ bộ về tình hình sản xuất chăn nuôi, tính đến nay, đàn lợn trên cả nước có khoảng 26,3 triệu con, giảm 3,71% so với cùng kỳ năm 2010; đàn trâu, bò có hơn 8,5 triệu con, giảm 4,6%; đàn gia cầm có 293,77 triệu con, tăng 5,87% so với cùng thời điểm năm trước.[6]

Heo (lợn) là con nuôi truyền thống và gắn bó với người nông dân, sản lượng đáp ứng 75 - 80% nhu cầu của xã hội. Chính vì vậy, đàn heo của nước ta không ngừng tăng lên qua các năm. Hiện nay, xu hướng chăn nuôi chuyển từ nhỏ lẻ, phân tán sang tập trung, trang trại đang được lựa chọn [27].

Chăn nuôi heo có 4 phương thức chính: Thứ nhất, chăn nuôi quy mô nhỏ với mức độ an toàn sinh học thấp. Thứ hai, chăn nuôi quy mô hàng hóa nhỏ với mức độ an toàn sinh học tối thiểu kết hợp nuôi cá. Thứ ba, chăn nuôi trang trại công nghiệp và chăn nuôi gia công với mức độ an toàn sinh học cao. Và cuối cùng là chăn nuôi trong các hợp tác xã hay nhóm tổ chăn nuôi với mức độ an toàn sinh học trung bình. Trong một báo cáo về tổ chức sản xuất chăn nuôi heo và trâu, bò ở cấp hộ gia đình/trang trại của Viện Chăn nuôi, các chuyên gia chỉ ra rằng, đang có xu hướng chuyển từ chăn nuôi tận dụng, nhỏ lẻ lên hàng hóa với quy mô 10 - 30 con lợn thịt để tận dụng lao động gia đình và chuồng trại chăn nuôi. Xu hướng này chuyển đổi mạnh mẽ hơn so với chuyển đổi từ chăn nuôi nhỏ lẻ lên chăn nuôi trang trại, vì chăn nuôi trang trại đòi hỏi nhiều vốn và đặc biệt là chuồng trại phải xa khu dân cư. Số hộ chăn nuôi kết hợp (thịt và nái) chiếm tỷ lệ cao hơn số hộ chăn nuôi chuyên thịt hoặc chuyên nái. Đối với hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, trung bình một năm bán 48,5 con heo với doanh thu 104 triệu đồng, trong khi đó, trang trại bán 225 con với doanh thu 549 triệu đồng, cao gấp 4,6 lần số con bán và 5,3 lần về doanh thu. Hầu hết số heo bán ở cả hai phương thức chăn nuôi đều được người thu gom đến tận cổng trang trại để mua. Tỷ lệ heo bán trực tiếp cho lò mổ thấp ở cả 3 phương thức chăn nuôi. Năm 2010, việc xuất, nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi vẫn còn nhiều bất cập và chưa kiểm soát được, đặc biệt là xuất - nhập khẩu tiểu ngạch qua biên giới Việt Nam với các nước láng giềng và qua đường biển. Việc nhập các sản phẩm chăn nuôi không kiểm soát được đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển chăn nuôi và tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi trong nước. Mặt khác, việc nhập lậu gia súc sống, nhập nội tạng và phụ phẩm chăn nuôi còn ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm, vệ sinh thú y và tiềm ẩn các nguy cơ về dịch bệnh cho vật nuôi và con người [27].

Chính vì vậy mà tình hình dịch bệnh trong ngành chăn nuôi lợn đã gây ra những thiệt hại kinh tế đáng kể. Dịch lở mồm long móng (LMLM): các triệu chứng điển hình như trâu, bò, lợn chảy nhiều nước bọt, loét niêm mạc lưỡi, lở mồm và tụt móng. Ở nước ta bệnh LMLM đã xuất hiện dai dẳng trong nhiều năm qua và khó tiêu trừ, biện pháp duy nhất là tiêu huỷ gia súc trong khu vực dịch bệnh. Đến tháng 2 năm 2007 dịch này vẫn xuất hiện ở nhiều tỉnh và phải thực hiện tiêu huỷ hàng ngàn con lợn, bò [24].

Dịch bệnh tai xanh của lợn (rối loạn hô hấp và sinh sản - hội chứng PRRS) triệu chứng: bỏ ăn, sốt, tai chuyển màu xanh và chết. bệnh tai xanh do virus lelytad tấn công và phá hủy đại thực bào (cơ quan có chức năng tiêu diệt vi khuẩn), nên lợn rất dễ chết vì bị bội nhiễm do vi khuẩn gây bệnh tả, tụ huyết trùng, hen suyễn…một số bệnh tích thường gặp: não sung huyết, phổi viêm xuất huyết, gan sưng... Ở Việt Nam, bệnh đã xuất hiện tại miền nam nhiều năm trước đây, vào tháng 3/2007 tại Hải Dương xuất hiện dịch bệnh tai xanh, sau đó đã có thêm gần 30.000 con lợn tại một số tỉnh đồng bằng Bắc bộ bị nhiễm bệnh. Vào tháng 3 - 4/2008 dịch bệnh tai xanh lại bùng phát ở 11 tỉnh thành ở cả 3 miền trong cả nước, số lợn mắc bệnh phải tiêu hủy là 26.300 con [29]. Để chữa trị bệnh tai xanh cho lợn có thể sử dụng thuốc kháng sinh cho lợn, tuy nhiên đã xảy ra hiện tượng nhờn thuốc. Biện pháp tối ưu nhất để ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh là khoanh vùng ổ dịch và tiêu hủy lợn bệnh.

Dịch bệnh đối với vật nuôi ở nước ta mấy năm gần đây liên tục bùng phát, hết dịch bệnh này đến dịch bệnh khác, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế và nhiều chủ trại chăn nuôi bị phá sản. Các dịch bệnh sau khi được ngăn chặn có nguy cơ bùng phát trở lại rất cao, mặc dù các cấp các ngành và nhân dân đã mất nhiều công sức và tiền của để phòng dịch và dập dịch. Tuy nhiên để đảm bảo phát triển bền vững lâu dài, cần phải đặt công tác môi trường chuồng trại chăn nuôi lên hàng đầu.



1.1.2.3. Những thuận lợi và khó khăn của ngành chăn nuôi ở Việt Nam

a) Thuận lợi

Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Ngoài Luật môi trường, nhiều văn bản của Chính phủ, các bộ ngành đã được ban hành phục vụ công tác bảo vệ môi trường. Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn đã quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động của ngành thú y.

Hệ thống thú y Trung ương và các tỉnh thành phố có mối quan hệ chặt chẽ với với các trường đại học, các viện nghiên cứu, các cơ quan trong và ngoài ngành trong các hoạt động chăn nuôi nói chung và bảo vệ môi trường nói riêng.

Dựa trên nguồn nguyên liệu là phụ phẩm của ngành thủy sản. Diện tích đất hoa màu cho chăn nuôi khá ổn định. Hàng năm có từ 13 - 14 nghìn tấn bột cá làm thức ăn cho chăn nuôi.

Nguồn thức ăn tổng hợp do ngành công nghiệp chế biến thức ăn gia súc sản xuất, tạo điều kiện cho chăn nuôi công nghiệp phát triển mạnh.

Áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trong công tác lai tạo giống, tạo ra nhiều giống mới cho năng suất, chất lượng tốt.

Thị trường tiêu thụ được mở rộng do chất lượng cuộc sống nâng cao.

b) Khó khăn

Việt Nam có thế mạnh về ngành trồng trọt, là một trong quốc gia hàng đầu xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều… nhưng cây trồng làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi như ngô đậu tương… lại rất thiếu, phải nhập khẩu với giá thành cao nên chi phí đầu vào cho chăn nuôi cao hơn rất nhiều lần so với khu vực và thế giới.

Nước thải chất thải nhiều nơi không được xử lý, gây ô nhiễm môi trường. Số lượng gia súc, gia cầm tăng nhanh song song với việc gia tăng lưu thông, vận chuyển gia súc, gia cầm và sản phẩm của chúng từ vùng này sang vùng khác khiến cho tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi trong khi ở nhiều địa phương, công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm thực sự.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật về công tác bảo vệ môi trường trong chăn nuôi, giết mổ, kinh doanh sản xuất thuốc tuy đã được bổ sung nhưng còn thiếu và bất cập. Việc tuyên truyền phổ biến các văn bản luật chưa kịp thời, sâu rộng và sự thực thi chưa được triệt để.

Chưa có tổ chức (phòng hoặc bộ phận) quản lý công tác bảo vệ môi trường của cục Thú y và các địa phương. Hoạt động bảo vệ môi trường từ trước đến nay được thực hiện dưới dạng các đề tài, dự án nghiên cứu theo đòi hỏi của thực tế. Trình độ chuyên môn về bảo vệ môi trường của cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu, chưa được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ nên họ gặp nhiều khó khăn khi thực thi công việc. Cơ sở vật chất và trang thiết bị tuy đã được đầu tư nhưng chưa đầy đủ, đặc biệt các địa phương [9].

1.1.2.4. Định hướng phát triển chăn nuôi tại Việt Nam

Trong số các nước thuộc khối ASEAN, Việt Nam là nước chịu áp lực về đất đai lớn nhất. Tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm giảm diện tích đất nông nghiệp. Để đảm bảo an toàn về lương thực và thực phẩm, biện pháp duy nhất là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một thành phần quan trọng trong định hướng phát triển.

Theo “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” thì:

- Phát triển ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từng bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

- Tổ chức lại sản xuất ngành chăn nuôi theo hướng gắn sản xuất với thị trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và cải thiện điều kiện an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Tập trung phát triển sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh như lợn, gia cầm, bò; đồng thời phát triển sản phẩm chăn nuôi đặc sản của vùng, địa phương.

- Khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, công nghiệp; đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện hộ chăn nuôi theo phương thức truyền thống chuyển dần sang phương thức chăn nuôi trang trại, công nghiệp.

Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16 tháng 1 năm 2008 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 thì mục tiêu của ngành chăn nuôi đến năm 2020 là:

- Đến năm 2020 ngành chăn nuôi cơ bản chuyển sang sản xuất phương thức trang trại, công nghiệp, đáp ứng phần lớn nhu cầu thực phẩm đảm bảo chất lượng cho tiêu dùng và xuất khẩu.

- Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2020 đạt trên 42%, trong đó năm 2010 đạt khoảng 32% và năm 2015 đạt 38%.

- Đảm bảo an toàn dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm, khống chế có hiệu quả các bệnh nguy hiểm trong chăn nuôi.

- Các cơ sở chăn nuôi, nhất là chăn nuôi theo phương thức trang trại, công nghiệp và cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm phải có hệ thống xử lý chất thải, bảo vệ và giảm ô nhiễm môi trường.

- Đối với ngành chăn nuôi lợn, định hướng phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng.

- Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đàn lợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp 37% [19]

1.2. Cơ sở pháp lý có liên quan

Công tác quản lý nhà nước về môi trường phải được dựa trên các văn bản pháp luật, pháp quy của cơ quan quản lý nhà nước. Từ năm 1993 đến nay đã có các văn bản chính về quản lý và bảo vệ môi trường, đó là:

- Luật Bảo vệ môi trường 2005.

- Nghị định 117/2009/NĐ-CP, ngày 31 tháng 12 năm 2009 về việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

- Nghị định 80/2006/NĐ-CP, ngày 09 tháng 08 năm 2006, về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

- Nghị định 21/2008/NĐ-CP, ngày 28 tháng 02 năm 2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP, ngày 09 tháng 08 năm 2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

- Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 26 tháng 3 năm 2000 của liên Bộ Nông nghiệp và Tổng Cục Thống kê. Quy định về tiêu chí đánh giá quy mô của một trang trại chăn nuôi.

- Nghị quyết 41/NQ-TU của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

- QCVN 24:2009-BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp.

- QCVN 01-14 -2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại chăn nuôi lợn an toàn sinh học

- QCVN 01-15 -2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học

- QCVN 01-79 -2011/BNN&PTNT: Quy trình đánh giá kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y

- Thông tư 04/2010/TT-BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi lợn, trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.


Каталог: data -> file -> 2015 -> Thang03
Thang03 -> Đề 5: Phân tích bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”của Phạm Tiến Duật
Thang03 -> Đề 1: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: "Văn chương [ ] có loại đáng thờ. Có loại ko đáng thờ. Loại đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại ko đáng thờ là loại chuyên chú ở con người"
Thang03 -> Phân tích nghệ thuật tả cảnh, tả người của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
Thang03 -> Đề thi thử thpt quốc gia môn Văn năm 2015 Trường thpt thống Nhất
Thang03 -> Phân tích đoạn trích trong tác phẩm số phận con người của A. Sô-lô-khốp
Thang03 -> Thực hiện: Nhóm 5 gvhd: ThS. Nguyễn Thị Hương
Thang03 -> Trường Tiểu học Sông Mây
Thang03 -> Đề tài: phân tích hoạT ĐỘng kinh doanh dịch vụ TẠi tậP ĐOÀn viễn thông quâN ĐỘi viettel tp. Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2012
Thang03 -> ĐẠi học nông lâm tp
Thang03 -> 3/ Sự sinh sản và phát triển có biến thái ở ếch

tải về 0.73 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương