Luận văn Kiểm tra chất lượng, phát hiện khuyết tật cọc khoan nhồi- nguyên nhân- giải pháp khắc phục


Kiểm tra chất lượng cọc sau thi công



tải về 4.8 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu05.12.2017
Kích4.8 Mb.
#3890
1   2   3   4   5   6   7

Kiểm tra chất lượng cọc sau thi công :

  1. Giới thiệu chung :

Chất lượng cọc sau khi thi công thường thể hiện bằng những chỉ tiêu chất lượng sau :

  • Độ nguyên vẹn (tính toàn khối của cọc);

  • Sự tiếp xúc giữa đáy cọc và đất nền;

  • Sự tiếp xúc giữa thân cọc và đất đá xung quanh.

Hiện nay, có rất nhiều phương pháp kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi. Dưới đây trình bày một số phương pháp kiểm tra chất lượng cọc sau thi công đã được sử dụng trên thế giới và ở Việt Nam. Các phương pháp phổ biến như phương pháp thử động biến dạng nhỏ, phương pháp siêu âm truyền qua sẽ được giới thiệu kỹ. Một số phương pháp khác ít phổ biến hơn sẽ chỉ trình bày về nguyên lý và cách thức kiểm tra chứ không đi sâu về các quy trình kiểm tra cụ thể.

      1. Phương pháp thử động biến dạng nhỏ :

        1. Nguyên lý phương pháp :

Phương pháp thử động biến dạng nhỏ dựa trên nguyên lý phản xạ khi gặp trở kháng thay đổi của sóng ứng suất, gây ra bởi tác động của lực xung tại đầu cọc, khi truyền dọc theo thân cọc.

Tùy theo việc đo đạc và phân tích số liệu thu dược mà có thể chia ra thành 2 phương pháp như sau :



  • Phương pháp phản hồi âm thanh (Sonic Echo Test-SET) :

Phương pháp phản hồi âm thanh được phát triển ở Trung tâm thí nghiệm Động lực học ở Delft, Hà Lan. Ưu điểm của phương pháp này là việc kiểm tra được tiến hành nhanh, ít tốn kém và không phải can thiệp vào bên trong cọc. Những nghiên cứu của Finno năm 1995 cho thấy rằng ngay cả khi đầu cọc được bọc lại thì phương pháp này vẫn tỏ ra có hiệu quả.



Mô hình phương pháp phản hồi âm thanh

Về lý thuyết phương pháp này khá đơn giản. Dùng búa gõ vào đầu cọc sẽ tạo ra sóng âm thanh truyền dọc theo chiều dài cọc xuống phía dưới. Sóng này khi gặp đáy cọc hoặc một khuyết tật trong cọc sẽ phản xạ trở lại và được thu bởi một máy đo gia tốc hoặc một bộ chuyển đổi khác phù hợp. Thời gian hành trình của sóng xuống đến khuyết tật trên cùng hoặc đáy cọc và phản hồi lại lên đến đầu cọc được đọc từ tín hiệu hiển thị trên màn hình của máy đo dao động hoặc máy tính.

Nếu biết được vận tốc của sóng âm thanh trong bê tông thì chiều dài cọc (hoặc khoảng cách từ đầu cọc đến một khuyết tật) sẽ được xác định theo công thức sau :


;




Trong đó :

t - thời gian hành trình của sóng âm, giây;




L - chiều dài cọc hoặc khoảng cách từ đầu cọc đến khuyết tật, m;




C - Vận tốc của sóng âm trong bê tông, m/giây.

Nếu có một khuyết tật trong cọc, giá trị L nhận được từ sự phản hồi đầu tiên sẽ nhỏ hơn chiều dài của cọc và sẽ là chiều sâu thực tế của khuyết tật. Trong hầu hết các thiết bị người ta thường lập trình để hiển thị số liệu chiều sâu này bằng việc nhân giá trị thời gian nhận được với C/2.

  • Phương pháp ứng xử nhanh (Transient Response Method-TRM) :

Phương pháp này cũng dùng để kiểm tra độ nguyên vẹn của cọc khoan nhồi tương tự như phương pháp phản hồi âm thanh, tuy nhiên việc xử lý số liệu của phương pháp này công phu hơn và do đó có thể cho kết quả tốt hơn.

Dùng búa tác động một lực va đập vào đầu cọc, dao động đầu cọc và lực va đập tác dụng được ghi lại theo thời gian. Hai tín hiệu này được xử lý trong máy tính bằng phần mềm phân tích sử dụng phương pháp biến đổi nhanh Fourier. Số liệu xử lý được xuất ra dưới dạng biểu đồ quan hệ giữa tỷ lệ vận tốc đầu cọc (V0) / lực đầu cọc (F0) và tần số giao động xung (f). Trên hình dưới thể hiện một dữ liệu đầu ra lý tưởng của phương pháp này.



Số liệu xuất ra này được giải thích như sau :

  • Thứ nhất, đoạn dốc đầu tiên của đường cong có quan hệ với độ cứng dọc trục của cọc. Nếu độ dốc đoạn này bé hơn so với các cọc khác cùng kích thước đã được kiểm tra đạt chất lượng tốt, thì trong cọc này có thể đã xuất hiện khuyết tật. Từ số liệu này có thể xác định được độ cứng động mũi cọc theo công thức :






  • Giá trị độ cứng động mũi cọc tăng theo độ phản xạ mũi cọc. Phản xạ mũi cọc thấp thường là do sức kháng của đất cao. Tuy nhiên, cũng có thể là các đặc trưng của cọc thay đổi lớn hoặc do sức cản động vật liệu cọc và nó chỉ liên quan gián tiếp đến sức chịu tải của cọc. Do đó giá trị E được tính toán để cung cấp một kết quả mang tính định lượng để đánh giá chất lượng cọc như :

  • Tình trạng mũi cọc;

  • Các vết nứt ngang;

  • Độ cứng ngang của cọc;

  • Các tính chất về độ ẩm, ma sát của đất.





Đầu ra lý tưởng của phương pháp ứng xử nhanh

  • Thứ hai, số gia tần số f giữa hai điểm lồi của đồ thị liên hệ với khoảng cách L từ đầu cọc tới điểm mà năng lượng sóng bị phản xạ trở lại (các khuyết tật lớn hoặc đáy cọc) theo công thức :

;




Trong đó :

f - thời gian hành trình của sóng âm, giây;




L - chiều dài cọc hoặc khoảng cách từ đầu cọc đến khuyết tật, m;




C - Vận tốc của xung trong bê tông, m/giây.

Từ công thức này dễ dàng xác định được, chiều dài cọc hoặc vị trí của khuyết tật trong cọc.

  • Thứ ba, giá trị giới hạn trung bình (đường nét đứt) của đường cong số liệu ra có thể liên quan đến diện tích tiết diện ngang trung bình của cọc nếu cho rằng môđun đàn hồi và tỷ trọng bê tông không thay đổi suốt chiều dài cọc.

        1. Các thiết bị sử dụng :

Nói chung phương pháp này khá đơn giản về cả nguyên lý cũng như các thiết bị cần thiết. Hiện nay, trên thế giới có một số nhà sản xuất các bộ thí nghiệm biến dạng nhỏ như Pile Dynamic Inc.(PDI)-Mỹ, TNO-Hà Lan... Nhưng bộ thiết bị được sử dụng rộng rãi nhất và đã được đưa vào trong tiêu chuẩn Mỹ ASTM D5882-96 là bộ thiết bị Pile Integrity Tester-PIT của hãng PDI Cleveland Ohio Mỹ.

Theo Tiêu chuẩn Mỹ ASTM D5882-96, yêu cầu một bộ thiết bị thí nghiệm có các đặc tính kỹ thuật như sau :





Thiết bị chủ yếu của phương pháp

  • Thiết bị tạo va chạm :

Thiết bị phải tạo ra một xung lực va chạm có độ dài nhỏ hơn 1 ms và không gây ra bất cứ hư hỏng cục bộ nào của cọc trong khi va chạm. Thường dùng búa có đầu là chất dẻo rất cứng. Trọng lượng búa được dùng tùy theo chiều dài và kích thước hình học của cọc. Va chạm phải được đặt dọc theo trục cọc.

  • Bộ chuyển đổi (máy đo gia tốc) :

Dùng một hoặc nhiều hơn các gia tốc kế để thu nhận số liệu tốc độ, các tín hiệu gia tốc nhận được sau đó được tích phân thành tốc độ trong các thiết bị xử lý số liệu. Có thể chọn dùng các đầu đo tốc độ hoặc chuyển vị để thu nhận tốc độ, chúng tương tự nhau để tạo thành gia tốc kế chuyên dụng.

  • Thiết bị ghi, xử lý và trình diễn số liệu :



Tín hiệu vận tốc âm thanh và mặt cắt dọc cọc

Các tín hiệu từ các gia tốc kế sẽ được chuyển đến thiết bị ghi, biến đổi và trình diễn số liệu theo một hàm của thời gian.

Với việc phân tích sâu hơn các số liệu thu được của các phương pháp trên, và cho rằng tỷ trọng và vận tốc sóng trong bê tông là không đổi, người ta có thể thể hiện được biểu đồ của diện tích mặt cắt ngang như là một hàm của độ sâu cọc. Kết quả của việc phân tích số liệu này sẽ đưa ra được các mặt cắt dọc cọc cho thấy được đường kính trung bình của cọc theo độ sâu. Trên hình thể hiện các mặt cắt dọc của cọc đo được theo phương pháp này.

Ngoài bộ thiết bị kiểm tra độ đồng nhất thân cọc PIT của Mỹ, ở hiện nay ở Việt Nam đã có hệ thống thiết bị MIMP-15 kiểm tra chất lượng cọc theo nguyên lý trở kháng cơ học (MIMP) của Pháp theo Tiêu chuẩn NF 94-160.4 Nền : Khảo sỏt và thử nghiệm - Phần 4 : Phương pháp dùng trở kháng

Ngoài các thông tin về khuyết tật của cọc như phương pháp PIT, phương pháp này còn cho phép xác định được độ cứng đàn hồi của hệ cọc-nền, tham số dùng để tính móng trên nền đàn hồi.



        1. Trình tự tiến hành :

  • Chuẩn bị đầu cọc :

Việc chuẩn bị phần trên đầu cọc nhằm mục đích :

  • Tiếp xúc thuận tiện với đầu cọc (tháo bỏ cốt đai);

  • Loại bỏ phần bê tông bị rỗ, xốp hoặc nứt, làm vệ sinh một mặt phẳng nằm ngang và không ngập nước;

  • Tạo được hai diện tích phẳng có đường kính từ 10 cm đến 15 cm, một ở tâm và một ở chu vi;

  • Thử nghiệm :

  • Đặt thiết bị thu trên đầu cọc có dính một chất làm tiếp xúc để đảm bảo tiếp nhận tốt các sóng truyền cơ học;

  • Kiểm tra ảnh hưởng của các nguồn dao động bên ngoài;

  • Tác dụng một lực va đập lên mặt phẳng giữa tâm cọc theo hướng song song với trục cọc;

  • Đo, xử lý và hiển thị các tín hiệu.

        1. Ưu nhược điểm và phạm vi áp dụng :

  • Các ưu điểm của phương pháp :

Phương pháp thử động biến dạng nhỏ có hai ưu điểm chính, đó là :

  • Thực hiện kiểm tra và xác định kết quả nhanh chóng, bình thường có thể thực hiện kiểm tra đến 20 cọc/ngày;

  • Không cần phải đặt các ống riêng trong cọc.

  • Hạn chế của phương pháp :

Phương pháp phản hồi âm thanh có một số hạn chế sau:

  • Thứ nhất, quãng đường truyền sóng càng dài thì năng lượng sóng sẽ càng giảm đi, do đó các khuyết tật hoặc đáy cọc nằm sâu sẽ khó được phát hiện. Đối với các thiết bị hiện đại thì chiều sâu giới hạn có hiệu quả của phương pháp này là khoảng 20 m (66 ft). Một số chuyên gia đã đưa ra mối liên hệ giữa chiều sâu giới hạn có hiệu với tỷ lệ chiều sâu/đường kính (L/D) và độ cứng của đất đá xung quanh cọc, với tỷ lệ L/D tối đa là 30;

  • Thứ hai, năng lượng sóng sẽ không có khả năng phản xạ từ các khuyết tật trừ khi khuyết tật có kích thước tương đối lớn hoặc nó kéo dài gần hết toàn bộ mặt cắt ngang cọc. Năm 1996, Schellingerhout và Muller đã chỉ ra rằng năng lượng sóng phản xạ giảm mạnh khi chiều dày của khuyết tật nhỏ hơn 1/4 bước sóng âm thanh. Đối với sự tác động búa trung bình, bước sóng tạo ra vào khoảng 1,6 m, có nghĩa là phương pháp này sẽ khó phát hiện ra được các khuyết tật có bề dày nhỏ hơn 0,4 m;

  • Thứ ba, trong hầu hết các trường hợp các khuyết tật hoặc đáy cọc nằm dưới khuyết tật trên cùng sẽ không tạo ra được các phản hồi để có thể phát hiện ra được;

  • Thứ tư, từ các nghiên cứu được thực hiện trên rất nhiều thí nghiệm, năm 1997 Samman và O’Neill đã đưa ra kết luận là ngay cả đối với các cọc ngắn thì phương pháp này cũng thường đưa ra các kết quả sai lệch;

  • Thứ năm, phương pháp này với các công nghệ hiện tại chỉ có thể đưa ra được độ sâu của khuyết tật mà không đưa ra được hướng của nó so với tim cọc. Đây chính là một hạn chế rất lớn của phương pháp này vì đối với cọc chịu cả lực ngang thì các vết nứt nhỏ ở vùng chịu nén sẽ bất lợi hơn trong vùng chịu kéo.

  • Phạm vi áp dụng :

Phương pháp thử động biến dạng nhỏ được xem như là một phương pháp thô chỉ có thể xác định được các khuyết tật lớn như là đất lẫn vào cọc nhiều hoặc đáy cọc khoan chưa đến độ sâu thiết kế. Trên hình dưới thể hiện hình ảnh của một khuyết tật mà phương pháp này có khả năng phát hiện ra được với độ tin cậy cao. Phương pháp này cũng chỉ thích hợp với các cọc có chiều dài nhỏ hơn 30 lần đường kính.

Baker sau nhiều thí nghiệm đã khuyến nghị rằng phương pháp thử động biến dạng nhỏ không nên sử dụng như là phương pháp đầu tiên để kiểm tra độ nguyên vẹn của các cọc khoan nhồi khi mà sức chịu tải đáy cọc chiếm khoảng 40% sức chịu tải của cọc.





Khuyết tật nghiêm trọng mà phương pháp

thử động biến dạng nhỏ có thể phát hiện được

Một biến thể của phương pháp này được được Olson phát triển năm 1993 gọi là phương pháp sóng uốn. Phương pháp này được sử dụng để phát hiện khuyết tật bằng việc tác động lên thành cọc hoặc kết cấu phía trên đầu cọc khi không thể tiếp cận được đầu cọc.



      1. Phương pháp chấn động song song (Parallel Seismic Test) :

Trong những trường hợp không tiếp cận được đầu cọc, hoặc cọc quá dài thì người ta phải sử dụng một phương pháp khác gọi là phương pháp chấn động song song. Mô hình thí nghiệm của phương pháp này được thể hiện trên hình



Mô hình phương pháp chấn động song song

Trong phương pháp này, người ta dùng búa tác động lên một điểm của kết cấu phía trên cọc, sóng tạo ra sẽ truyền dọc theo cọc xuống phía dưới. Một phần năng lượng của sóng trong cọc sẽ được truyền sang đất đá gần cọc. Thời gian truyền của năng lượng sóng trong đất sẽ được thu nhận bởi một đầu thu trong nước được đặt trong ống tại rất nhiều vị trí theo chiều sâu ống. Khi có sự thay đổi đột ngột của thời gian truyền (như trên hình) chứng tỏ đã có khuyết tật lớn trong cọc. Chiều sâu của đáy cọc cũng có thể được xác định theo cách này.




Thời gian truyền sóng


Một kết quả của thí nghiệm chấn động song song

      1. Phương pháp sóng ứng suất trong (Internal Stress Wave Test) :

Năm 1981, Hearne đã công bố một phương pháp kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi có nguyên lý giống như phương pháp phản hồi âm thanh. Điều khác biệt ở phương pháp này là các bộ thu nhận dữ liệu được bố trí ở các độ sâu khác nhau trong cọc. Các đầu thu là các máy dò âm thanh dưới đất gọn nhẹ, được gắn trên các khung thẳng đứng trong cọc và tách biệt với cốt thép. Các dây dẫn được bố trí dọc theo các thanh cốt thép và kéo tới cách đầu cọc 3 đến 4 m về phía dưới. Tại đó chúng được kết nối với thiết bị thu nhận số liệu. Các thiết bị trên rất dễ lắp đặt. Mục đích của phương pháp kiểm tra này là để dò tìm các sóng ứng suất trong bê tông. Ngoài các bộ thu được đặt phía trong ống thì có thể bố trí thêm một gia tốc kế ở đầu cọc để thu nhận thêm các dữ liệu khác.



Sơ đồ bố trí của phương pháp sóng ứng suất trong

Hai bộ thu như trên hình cùng với một gia tốc kế sẽ cung cấp một lượng thông tin có giá trị và cho phép xác nhận được bất kỳ một sự bất thường nào của tín hiệu thu được. Ví dụ trên hình dưới cho thấy biên độ của các tín hiệu máy dò âm thanh trong đất được vẽ trên đồ thị với tỷ lệ thời gian bình thường. Sự truyền sóng ứng suất tới cũng như sóng ứng suất phản xạ từ đáy cọc có thể được thấy ở mỗi vị trí của máy dò âm thanh. Trên đồ thị, trục ngang là trục thời gian, các đường thẳng nối các điểm trên các đường cong cắt nhau tại độ sâu từ đó sóng âm phản xạ, có thể xác định được mặt chiếu đứng của cọc. Nếu sóng phản xạ tới từ một cấp độ cao hơn hoặc các tín hiệu bị cản trở tại một hoặc nhiều cấp trước khi phản xạ tại đáy cọc thì cọc có thể đã có khuyết tật.

So với phương pháp phản hồi âm thanh thì các bộ thu nhận tín hiệu của phương pháp này có ưu điểm hơn do giảm được độ nhiễu tín hiệu, có thể cài đặt được nhiều các bộ thu và tất nhiên cũng có thể bố trí bộ thu ở đáy cọc. Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn chế như phương pháp phản hồi âm thanh. Ngoài ra giá thành của nó đắt hơn và việc sử dụng phương pháp này phải được quyết định trước khi thi công cọc.



Một kết quả điển hình của phương pháp


      1. Phương pháp khoan và lấy mẫu (Drilling and Coring) :

Một phương pháp nữa được dùng để kiểm tra chất lượng cọc khoan nhồi là phương pháp khoan và lấy mẫu. Các phương pháp này đưa ra được tương đối xác thực các đặc điểm của bê tông trong một thể tích tương đối nhỏ của cọc, tuy nhiên nó lại mất nhiều thời gian và tốn kém và đôi khi cũng có thể nhầm lẫn.

Một vấn đề của phương pháp này là việc điều chỉnh hướng mũi khoan. Lỗ khoan đôi khi đi trệch ra ngoài thành cọc hoặc gặp phải hoặc nhiều thanh cốt thép. Để thực hiện phương pháp một cách chính xác này cần phải có những người có kinh nghiệm và các thiết bị phù hợp .

Phương pháp khoan nhanh hơn so với phương pháp lấy mẫu nhưng các thông tin thu được lại ít hơn. Chất lượng bê tông được khoan đôi khi có thể suy luận ra từ mức độ khoan. Nếu khi khoan mà khoan bị tụt đột ngột xuống một quãng lớn chứng tỏ tại vị trí đó có khuyết tật. Sau khi khoan xong, người ta sử dụng một thiết bị để kiểm tra đường kính và lỗ khoan được quan sát nhờ một camera được hạ xuống lỗ.


Lõi khoan có khuyết tật


Lõi khoan có khuyết tật

Phương pháp lấy mẫu lâu hơn phương pháp khoan, nhưng lại thu được nhiều thông tin hơn. Bằng phương pháp này có thể phân tích được sự tiếp xúc giữa đáy cọc và đất nền, kiểm tra được thành phần đất và dung dịch vữa xâm nhập trong bê tông. Ngoài ra nếu cần có thể ép mẫu để xác định cường độ của bê tông. Lỗ lấy mẫu cũng như lỗ khoan có thể được kiểm tra bằng các thiết bị camera nhỏ đặt trong ống. Phương pháp này có lẽ là phương pháp tốt nhất trong các phương pháp kiểm tra độ nguyên vẹn của cọc để kiểm tra chất lượng bê tông đáy cọc cũng như sư tiếp xúc giữa đáy cọc và đất nền.



Phương pháp khoan và lấy mẫu đối với cọc khoan nhồi là phương pháp tốt nhất để phát hiện các khuyết tật có kích thước lớn. Trong trường hợp vách lỗ khoan bị sụp xuống lúc đổ bê tông và nếu bê tông bị thiếu hụt trong mặt cắt thì phương pháp này luôn có thể được xác định một cách chắc chắn.

      1. Phương pháp siêu âm truyền qua (Crosshole Acoustic Tests) :

        1. Nguyên lý cơ bản :

Siêu âm là dao động cơ học đàn hồi truyền đi trong môi trường vật chất với tần số dao đọng từ 20 KHz trở lên. Khi siêu âm truyền qua môi trường vật liệu bê tông được tạo thành từ nhiều thành phần như đá, sỏi, cát, xi măng... các hiện tượng phản xạ, khúc xạ, nhiễu xạ, khuyếch tán xẩy ra đồng thời và được đặc trưng bằng sự khuyếch tán của năng lượng và vận tốc truyền sóng phụ thuộc vào độ đồng nhất, mật độ... của vật liệu hay còn gọi chung là chất lượng của vật liệu bê tông. Vì vậy khi tiến hành thu nhận sóng siêu âm sau khi đã truyền qua một phạm vi nghiên cứu có thể đánh giá được chất lượng vật liệu bê tông trong phạm vi truyền sóng siêu âm đó.

        1. Cấu tạo thiết bị và phương pháp kiểm tra :

  • Cấu tạo thiết bị :

Sơ đồ bố trí của phương pháp như trên hình dưới. Các thiết bị cần thiết trong phương pháp siêu âm truyền qua bao gồm :

  • Một đầu dò phát sóng dao động đàn hồi (xung siêu âm);

  • Một đầu đo thu sóng có cáp dẫn;

  • Một thiết bị điều khiển các cáp được nối với các đầu đo cho phép tự động đo chiều sâu hạ đầu đo;

  • Một thiết bị điện tử ghi nhận và điều chỉnh tín hiệu thu được;

  • Một hệ thống hiển thị tín hiệu;

  • Một hệ thống ghi nhận và biến đổi tín hiệu thành những đại lượng vật lý đo được.



Sơ đồ bố trí phương pháp siêu âm truyền qua



Các thiết bị cần thiết trong

phương pháp siêu âm truyền qua



  • Các bước kiểm tra :

  • Các ống dẫn phải được đặt sẵn trước khi đổ bê tông cọc;

  • Hạ đầu phát và đầu thu xuống hai ống chứa đầy nước sao cho chúng luôn ở cùng độ sâu;

  • Phát xung siêu âm từ đầu phát và nhận tín hiệu từ đầu thu;

  • Đo thời gian truyền sóng giữa hai đầu đo trên suốt chiều cao của ống đặt sẵn. Đồng thời thiết bị sẽ tự động ghi lại độ sâu của các đầu đo.

  • Ghi lại biến thiên của tín hiệu thu được.

  • Bố trí ống đo :

Các ống thép hoặc nhựa được đặt dọc trong cọc nhờ việc gắn chúng với cốt thép dọc trước khi đổ bê tông. Trong phương pháp này nên đặt nhiều hơn 2 ống tuy nhiên không nên quá nhiều vì điều đó sẽ ngăn cản bê tông chảy xuống phía dưới trong quá trình thi công. Các hãng có kinh nghiệm thi công cho rằng nên đặt các ống đều đặn xung quanh lồng cốt thép, buộc vào phía trong lồng, cứ 0,3 m của đường kính cọc thì sử dụng một ống dò thẳng đứng. Theo các Tiêu chuẩn của Việt Nam cũng như các nước thì số lượng ống chủ yếu phụ thuộc vào đường kính cọc.

Theo TCXD 206:98 Cọc khoan nhồi-yêu cầu chất lượng thi công, điều 5.6 quy định như sau :



  • D  600 mm

:

2 ống (hoặc một ống nếu ở giữa cọc khi đầu phát và đầu thu nằm trên cùng một trục)

  • 600 < D < 1200

:

3 ống

  • D > 1200 mm

:

4 ống

Tiêu chuẩn Trung Quốc quy định :

  • D < 350 mm

:

2 ống

  • 350 < D < 800

:

3 ống

  • D > 800 mm

:

4 ống

Tiêu chuẩn Mỹ ASTM-D6760 quy định số ống tối thiểu như sau:

Bảng: Số lượng ống tối thiểu trong phương pháp

siêu âm theo ASTM-D6760



Đường kính cọc

Số lượng ống

Khoảng cách các ống

D  0.75 m

2 ống

180 độ

0.75 < D  1.0 m

3 ống

120 độ

1.0 < D  1.5 m

4 ống

90 độ

1.5 < D  2.5 m

6 ống

60 độ

D > 2.5 m

8 ống

45 độ

Каталог: file -> downloadfile8
downloadfile8 -> Giáo viên hướng dẫn : gs. Ts. Phan Hữu Tôn
downloadfile8 -> Nguyễn Ngọc Thùy Linh
downloadfile8 -> Khái niệM, phân loạI
downloadfile8 -> Phần mở ĐẦu lý do chọn đề tài
downloadfile8 -> ĐỒ Án tốt nghiệP
downloadfile8 -> Dân số, môi trường và môi trường trong những năm gần đây đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế
downloadfile8 -> Báo Cáo Thực Tế Môi Trường
downloadfile8 -> ChẩN ĐOÁn tâm lý Ths. Phạm Thị Xuân Cúc
downloadfile8 -> Câu 1: Phân tích khái niệm, đối tượng nghiên cứu và cơ cấu của xhh?Lấy ví dụ minh họa?
downloadfile8 -> Luận văn Ảnh hưởng của mô hình nuôi xen ghép nước lợ ở các vùng triều khác nhau lên tốc độ tăng trưởng của tôm sú (Penaeus monodon) và sự biến động của một số yếu tố môi trường phầN 1

tải về 4.8 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương