Lời Tình k (t-y)



tải về 11.38 Mb.
trang99/371
Chuyển đổi dữ liệu21.11.2017
Kích11.38 Mb.
#2439
1   ...   95   96   97   98   99   100   101   102   ...   371

Tiểu Sử Ns Thúc Đăng


Thúc Đăng


Mạnh Phát - Tiến Đạt - Thúc Đăng - Nguyên Thông là những bút hiệu của nhạc sĩ Văn Giảng

Tiểu Sử Ns Tiến Đạt


Tiến Đạt


Mạnh Phát - Tiến Đạt - Thúc Đăng - Nguyên Thông là những bút hiệu của nhạc sĩ Văn Giảng

Tiểu sử Phan Huỳnh Điểu


Phan Huỳnh Điểu


Phan Huỳnh Điểu sinh ngày 11/11/1924, quê ở Ðà Nẵng, còn có bút danh là Huy Quang.
Ông hoạt động âm nhạc từ những năm 40, trong nhóm tân nhạc.
Kháng chiến chống thực dân Pháp, ông gia nhập quân đội, công tác ở Liên khu V. Năm 1955 - Tập kết ra Bắc.
Tháng 12/1964 ông vào chiến trường Trung Trung Bộ, ở trong Ban văn nghệ Khu.
Sau năm 1975, ông chuyển về Hội âm nhạc thành phố HCM làm việc và sáng tác.
Hiện cư trú và làm việc tại TPHCM.
Những bài hát nổi tiếng:
-Năm 1940: Trầu cau

-Năm 1945: Ðoàn vệ quốc quân

-Kháng chiến chống Pháp: Quê tôi ở miền Nam, Mùa đông binh sĩ...

- Sau 1954: Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm, Bóng cây Kơnia, Anh ở đầu sông em cuối sông, Sợi nhớ sợi thương, Thuyền và biển....



Hư Vô

Tiểu Sử Thông Đạt


Thông Đạt

Thông Đạt là một bút hiệu khác của nhạc sĩ Văn Giảng


Xin xem thêm ở đây:
http://dactrung.com/nhac/loica.asp?id=5132

Tiểu Sử Trầm Tử Thiêng


Trầm Tử Thiêng


Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng tên thật là Nguyễn Văn Lợi, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1937(tuổi Đinh Sửu) tại Đại Lộc, Quảng Nam và lớn lên ở miền Nam .
-Bắt đầu ca hát từ thuở lên 10 ở các thôn quê miền Nam VN trong thời kỳ kháng chiến chống Phăp1945-1949)

-Lánh nạn lên Saigon tiếp tục đi học và sinh hoạt ca hát ở các học đường và các đoàn thể trẻ


-Tốt nghiệp Sư Phạm và bắt đầu dạy học từ năm 1958.
-Bắt đầu sáng tác nhạc từ năm 1958 cho đến cuối đời với trên 200 ca khúc bao gồm các đề tài về tình yêu, quê hương, chiến tranh và thân phận của dân tộc VN và hàng trăm ca khúc viết cho thiếu nhi . Ông sáng tác bản hát nổi tiếng "Bài Hương Ca vô Tận" trong thời kỳ đầu tiên.
- Nhập ngũ và phục vụ tại Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị QLVNCH từ năm 1966, và sáng tác những bài hát cho các chiến hữu miền Nam như "Quân trường vang tiếng gọi", "Đêm di hành", "Mưa trên poncho" vvv ...
-Sau Tết Mậu Thân 1968, Nhạc Sĩ đã sáng tác bài "Chuyện một chiếc cầu đã gẫy" để chia sẻ niềm đau với người dân xứ Huế, rất gần với quê hương ông, xứ Quảng Nam .
- Đến năm 1970 ông sáng tác bản "Tôn Nữ Còn Buồn", nói về trận bão lụt tàn phá miền Nam
- Biệt phái Bộ Giáo Dục từ năm 1970, tiếp tục làm việc trong ngành Phát Thanh Học Đường cho đến năm 30 tháng 4 năm 1975 .
Sau mấy lần trốn tránh vì bị kết án "nhạc sĩ phản động", Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng đã vượt biên, bị bắt tù, cuối cùng ông đã đến bến bờ Tự Do vào năm 1985 .
Sang Hoa Kỳ, Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng luôn sát cánh cùng các đoàn thể, tổ chức trong mục đích giữ gìn văn hóa dân tộc. Ông là cố vấn ban chấp hành Hội Ký Giả VN Hải Ngoại 2 nhiêm kỳ 1996-2000 .

- Vào cuối năm 1999, ông cùng các bạn văn nghệ sĩ sáng tác lập Thư Viện Việt Nam tại Little Saigon .


Từ khi lưu vong tị nạn, ông sống tại thủ đô tị nạn Little Saigon, tiểu bang California, hợp tác làm việc với Mây Productions, Hollywood Night và trung tâm Asia. Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng đã cùng với Nhạc sĩ trẻ Trúc Hồ sáng tác nhiều bản nhạc thích hợp cho thể loại nhạc đồng ca như "Bước Chân Việt Nam, Việt Nam niềm Nhớ, Một Ngày Việt Nam, Tình Đầu Thời Áo Trắng, Cám Ơn Anh, Hẹn Nhau năm 2000 .... ." .
Bài "Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng" sáng tác vào tháng Tám năm 1996, nhân ngày Đại Nhạc Hội "Góp Một Bàn Tay" là một bản hát lịch sử đánh dấu một làng VN được xây tại Phi Luật Tân cho những người VN lưu vong không còn tổ quốc, và không có quốc gia nào còn chấp nhận họ.
Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng còn được biết qua nhiều bản nhạc Tình sáng tác sau và trước thời điểm năm 1975, "Chợt Nghĩ Về Hai Nơi", Mười Năm Yêu Em, "Tình Ca Mùa Đông (1965), Mây Hạ (1967), Đêm Nhớ Về Sài Gòn (1987)"
Những tác phẩm của ông viết suốt hơn 40 năm đã được hầu hết các ca sĩ trong và ngoài nước trình diễn .
Ước nguyện cuối đời ông là được mang tình thương đến cho các trẻ em mồ côi. Qua nhạc sĩ Trúc Hồ và Việt Dzũng, Nhạc Sĩ Trầm Tử Thiêng đã ký thác ước nguyện thành lập một quỹ "Bên Em đang có Ta" (là tên một sáng tác của ông viết cho trẻ em mồ côi tị nạn), để giúp các trẻ mồ côi.

Ông mất vào ngày 25 tháng 01 năm 2000.


***Tài Liệu Tham Khảo: Diễm Xưa, ngày ra mắt "Hạnh Phúc Ta, Hạnh Phúc Người" . Nguyễn Ngọc Chấn.
tvmt

Tiểu Sử Văn Cao


Văn Cao

(1923-1995)



Tên thật là Nguyễn Văn Cao, gốc người Nam Định, sinh ngày 15-11-1923, tại Lạch Tray, Hải Phòng. Vì nhà nghèo nên học tới lớp Bảy thì nghỉ học, xin làm sở bưu điện.
Vào năm 1939 (16 tuổi) ông sáng tác bài “Buồn Tàn Thu”. Năm 1940, ông sáng tác bản “Thiên Thai”, sau khi du ngoạn một chuyến ở Nam về. Bản Thiên Thai là một giấc mơ của người nghệ sĩ vào chốn an bình, mà người Việt khó đạt được trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Năm 1941, ông gặp Phạm Duy, Phạm Duy đã khuyên ông lên Hà Nội sống đời nghệ sĩ. Trong thời gian này ông sáng tác nhiều nhạc phẩm danh tiếng như “Trương Chi”, “Thu cô liêu”, “Bến Xuân”, “Suối Mơ”.
Vì mối giây liên hệ Gia đình căm thù Pháp nên Văn Cao đã theo Việt Minh dưới sự hướng dẫn và tuyên truyền của Vũ Quí.Vũ Quí đã nhờ Văn Cao soạn một bản nhạc quân hành cho trường quân sự Việt Minh, nên Văn Cao đã cho ra đời bản “Tiến quân Ca”, vào năm 1944.
Vào cuối Xuân năm 1945, Văn Cao đã có mặt trực tiếp tham dự vụ ám sát nổi tiếng, đó là vụ giết ông Đỗ Đức Phin tại Hải Phòng, bị Việt Minh kết án là Việt Gian thân Nhật. Sau vụ ám sát, Văn Cao tạm lánh một thời gian để tránh mật thám Pháp và Nhật theo dõi. Sau này khi biết nạn nhân Đ.Đ.P là một nhà hoạt động yêu nước, thì Văn Cao lại ân hận và chỉ hoạt động cầm chừng cho Việt Minh thôi.
Trong cuộc biểu tình cướp chính quyền của Việt Minh ngày 19-8-1945 tại Hà Nội, Văn Cao đánh nhịp cho đoàn Thanh Niên Xung Phong hát bài "Tiến Quân ca" của ông trước nhà hát lớn. Về sau bài này được chọn là bản quốc ca của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN.
Sau khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1946, Văn Cao được lệnh lên chiến khu Việt Bắc và tại đây ông viết bản trường Ca "Sông Lô" năm 1947, và gia nhập đảng CS Đông Dương năm 1948. Năm 1949 ông được lệnh viê't bản lãnh tụ ca, nhưng bản này ít được nhắc đến (kể cả phía CS).
Theo tài liệu Hoàng Văn Chí, năm 1952 ông đươc gởi đi Liên Xô để nghiên cứu thêm về âm nhạc, và cuộc xuất ngoại này làm Văn Cao thất vọng về thiên đường CS.
Năm 1954, khi chiến tranh đến hồi khốc liệt và thay vì viết về đề tài Điện Biên Phủ như các văn công CS khác thì Văn Cao lại về bày tỏ ý tưởng của ông qua một bức tranh sơn dầu lập thể. Bức tranh đó được mô tả như sau:
Một cậu bé thổi sáo bằng 2 cái mồm, một cái được vẽ từ cách nhìn thẳng, và 1 cái được vẽ bằng cách nhìn nghiêng. Đằng sau cậu bé, trên cái nền đông nghịt những con người trong 1 tiết tấu đầy chuyển động của nhịp chiến tranh.
Ý nghĩa của bức tranh được giới phê bình lý luận như thế này: "Bư'c tranh thể hiện đứa trẻ với 2 cái mồm, phải chăng hàm ý Đảng CS Đông Dương có hai miệng? ". Ý nghĩa thật của bức tranh chỉ có Văn Cao biết mà thôi.
Sau hiệp định Genève 1954, Văn Cao hồi cư về Hà Nội, làm việc cho Đài Phát Thanh, nhưng rất ít sáng tác. Một nghệ sĩ tài danh, say mê âm nhạc và sống với âm nhạc từ thuở nhỏ mà phải giữ mình không sáng tác thật là một khổ tâm khó nói.
Theo lời tác giả Nguyễn Thụy Kha, năm 1955, Văn Cao đã quyết định cầm bút lại sau 10 năm vắng tiếng (từ sau bài “ngoại ô mùa đông sáng tác vào năm 1945”). Qua bài thơ “Anh có nghe không” đăng trong “Giai phẩm mùa Xuân”, phát hành tháng 2-1956, người ta nhận thấy thơ của Văn Cao có lời lẻ rất buồn và chán nản.
Đặc san Giai Phẩm và báo Nhân Văn, là 2 tờ báo ở Hà Nội theo chủ trương đòi hỏi tự do báo chí và tư tưởng. Đặc san Giai Phẩm ra được 5 số, số đầu Giai Phẩm Xuân (tháng 2, 1956), đến số thứ 6 đang in thì bị tịch thu và bị đình bản vào giữa tháng 12-1956.

Như những văn nghệ sĩ có bài đóng góp cho hai tờ báo Nhân Văn Giai Phẩm, Văn Cao bị kỷ luật, phải tham dự khoá học tập chính trị vào năm 1958, và bị XD chỉ tri’ch qua bài viết “Những tư tưởng nghệ thuật của Văn Cao”. Ông bị phê bình là “hai mặt, giả dối, dùng âm binh để chọi với Đảng”. Thế là Văn Cao bị loại trừ ra khỏi ban Chấp hành Hội Nhạc Sĩ sáng tác. Từ đó tên tuổi VC hầu như khg xuất hiện trên các tạp chí văn chương nghệ thuật ở Hà Nội. Ông sống âm thầm bằng đủ thứ nghề, như viết nhạc không lời cho các truyện phim và truyện kịch, trang trí sân khấu cho các đoàn kịch, và vẽ quảng cáo các báo.


Dầu rất ít sáng tác vào gần cuối đời ông, người nghệ sĩ tài hoa này cũng cho ra một bản nhạc vào cuối năm 1975, đó là bài “Mùa Xuân đầu tiên”, một bản hát rất nhẹ nhàng, êm đềm và rất tình người. Nhưng bản nhạc cũng bị phê bình là không đi đúng đường lối của Đảng, không phục vụ cho Cách Mạng, vì thế bản nhạc mới phát hành đã bị tịch thu. Tuy thế, các chương trình Việt Ngữ tại Moscow vẫn cho trình bày bài hát, nên bài hát đã không bị vào lãng quên.
Văn Cao còn là một họa sĩ. Ông đã dùng nghệ thuật này để nói lên tâm tư của ông mà không ai có thể đem ra phê bình chỉ trích gì được vì những bức họa của ông không được bày bán và lưu hành.
Văn Cao qua đời vào ngày 10-7-1995

(Theo tài liệu của Trần Gia Phụng)



tvmt


tải về 11.38 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   95   96   97   98   99   100   101   102   ...   371




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương