Lời Tình k (t-y)



tải về 11.38 Mb.
trang98/371
Chuyển đổi dữ liệu21.11.2017
Kích11.38 Mb.
#2439
1   ...   94   95   96   97   98   99   100   101   ...   371

Tiểu sử Ns Lưu Hữu Phước


Lưu Hữu Phước

(Thông tin sao chép từ internet và có nhiều sai sót, xin vui lòng góp ý vào Diễn Đàn)

Pen name: Huynh Minh Sieng, Anh Luu, Hong Chi.

Date of birth: September 12th 1921

Native place: Hau Giang

Some of his well-known songs:


- Bach Dang River

- The festival of children in the world

- The call for youth

- The age of twenty

- Liberate the south

- The youth in a state of preparedness


Raw data, not reviewed yet:
Dấu ấn Lưu Hữu Phước
Sinh trưởng trong một gia đình giáo học nghèo, lên 9 tuổi, Lưu Hữu Phước đã

học đàn nguyệt. Thời ấy, trong nhiều thị trấn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long

thường có sinh hoạt âm nhạc của nhóm nhạc tài tử.
Những "nghệ sĩ dân gian" ấy thỉnh thoảng tụ hội, đàn hát thâu đêm suốt sáng

và họ là những người truyền thụ, sớm thức tỉnh tâm hồn âm nhạc của Lưu Hữu

Phước.
Có năng khiếu đặc biệt, mới 16 tuổi, Lưu Hữu Phước đã soạn bản nhạc Non sông

gấm vóc cho đàn nguyệt. Kế đó là những ngày ngồi trên ghế Trường trung học ở

tỉnh Cần Thơ, sau đó là Sài Gòn, Lưu Hữu Phước được tiếp cận các loại nhạc

"tân kỳ" qua nhiều đĩa hát và qua phong trào hướng đạo. Điều may mắn là ông sớm

làm quen nhiều bài hát cách mạng quốc tế, khi ấy được lưu hành bí mật như Bài

ca Hoàng Phố, Nghĩa dũng quân tiến hành khúc, Đại lô ca (của Nhiếp Nhĩ)...


Sự nghiệp sáng tác ca khúc của Lưu Hữu Phước bắt đầu từ việc đặt lời mới

tiếng Việt theo những điệu dân ca Pháp hoặc theo những giai điệu quen thuộc trên

màn ảnh, đĩa hát đương thời để cùng với thanh niên, sinh viên sinh hoạt ca

hát, giải trí trong đoàn thể hướng đạo mà anh là thành viên. Hưởng ứng khẩu

hiệu “Đoàn kết và học tập” trong phong trào học sinh các trường trung học ở Sài

Gòn - Chợ Lớn, Lưu Hữu Phước viết ca khúc Bài hát câu lạc bộ học sinh (1939).


Mùa thu năm 1940, ông cùng một số bạn bè ra học tại Trường đại học Y khoa Hà

Nội và bắt đầu hoạt động trong tổ chức sinh viên, thanh niên yêu nước, trong

đó hạt nhân lãnh đạo là Dương Đức Hiền, Đặng Ngọc Tốt, Huỳnh Văn Tiểng, Mai

Văn Bộ, Nguyễn Ngọc Minh... Những buổi cắm trại, thăm các di tích, thắng cảnh

thời sinh viên gợi trong ông chủ đề sáng tác từ lịch sử dân tộc với những ca

khúc tiêu biểu như Người xa đâu tá (còn gọi là Kinh cầu nguyện 1940), Ải Chi

Lăng (1942), Hồn tử sĩ (1943), Hội nghị Diên Hồng, Hờn sông Gianh (1944).
Sau Đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nổ, trong nước dấy lên một cao trào

cách mạng sôi sục. Tiếng súng khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương... đã giục

giã lớp trẻ thời ấy lao vào nhiều hoạt động cứu nước. Những sự kiện chính trị

ấy đã hướng ngòi bút của Lưu Hữu Phước đến với hàng loạt bài hát mang nội

dung chính luận...
Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Trần Văn Giàu từng kể lại: Bài hát kêu gọi khởi

nghĩa (1941) Lưu Hữu Phước soạn thảo sau sự thất bại của hai cuộc khởi nghĩa

Bắc Sơn (27-9-1940) và Nam Kỳ (23-11-1940). Bài hát ra đời hầu như cùng một lúc

với cuộc chuẩn bị Hội nghị trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương

với sự thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh).
Lúc bấy giờ, Lưu Hữu Phước chưa biết gì về Hội nghị trung ương 8 của Đảng

cùng sự ra đời của Mặt trận Việt Minh, nhưng sau hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và

Nam Kỳ, có lẽ Lưu Hữu Phước linh cảm rằng cách mạng còn nổ ra nơi này, nơi

khác và cách mạng rất cần một bài hát kêu gọi khởi nghĩa. Trong một đêm, ông đã

viết xong Bài hát kêu gọi khởi nghĩa, tiền thân của Tiếng gọi sinh viên và

Tiếng gọi thanh niên.


Có thể thấy rõ thành tựu sáng tác của Lưu Hữu Phước trong giai đoạn trước

cách mạng thể hiện đậm nét nhất ở thể hành khúc. Ông là một trong những người

đặt viên gạch đầu tiên đối với thể loại này.
Bạch Đằng giang (1940) là thành công mở đầu của ông trong thể loại hành khúc,

ca khúc đã ngợi ca chiến công oanh liệt của cha ông ta thuở trước, hai lần

chiến thắng quân xâm lược phương Bắc trên dòng sông lịch sử này để từ đó nhắc

nhở mọi người noi gương tiền bối cùng suy nghĩ và hành động vì đất nước.


Trong hành khúc của Lưu Hữu Phước nổi bật chủ đề khích lệ cộng đồng cùng

"xuống đường" theo tiếng gọi yêu nước chiếm một vị trí đáng kể qua nhiều ca khúc

tiêu biểu như Ta cùng đi (1940), Thượng lộ tiểu khúc (1943), Xếp bút nghiên

(1943) và Lên đàng (1944).


Những bài hát yêu nước của Lưu Hữu Phước đã thể hiện khát vọng đấu tranh của

tuổi trẻ, là tiếng kèn thúc giục họ lên đường vị sự nghiệp giải phóng dân

tộc...
Trong đó, Lên đàng là đỉnh cao tiếp nối thể loại hành khúc trong sáng tác ca

khúc trước cách mạng của Lưu Hữu Phước. Ca khúc có kết cấu tinh giản (cấu

trúc hai đoạn), súc tích và tỏ rõ sự điêu luyện về bút pháp nghệ thuật. Nhà

nghiên cứu Trần Bạch Đằng trong bài Kỷ niệm với anh Lưu Hữu Phước cho biết: "Bài

Lên đàng - một bài hát được hàng triệu người đồng ca trên

Tiểu Sử Ns Mạnh Phát


Mạnh Phát


Mạnh Phát - Tiến Đạt - Thúc Đăng - Nguyên Thông là những bút hiệu của nhạc sĩ Văn Giảng

Tiểu Sử Ns Nguyễn Văn Thương


Nguyễn Văn Thương

Nguyễn Văn Thương sinh ngày 22/5/1919, quê ở Thừa Thiên Huế. Ông từng là Giám đốc Ðoàn ca múa nhạc Việt Nam, cố vấn Ðoàn ca múa Nhạc nhẹ Sài Gòn, Giáo sư cấp II, và được tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Hiện đã nghỉ hưu và cư trú tại quận Bình Thạnh, TP.HCM.


Ông là một trong những nhạc sĩ thế hệ đầu tiên về tân nhạc ở nước ta. Nguyễn Văn Thương sinh trưởng trong một gia đình yêu nghệ thuật, lên 9 tuổi đã học đàn nguyệt và tự học ký xướng âm qua sách Pháp. Năm 1936, sau khi tốt nghiệp Trung học tại Quốc học Huế đã viết Trên sông Hương là một trong những tác phẩm tân nhạc đầu tiên ở VN. Năm 1939, khi du học ở Hà Nội ông viết Đêm đông nổi tiếng. Năm 1942, khi làm việc ở Trung tâm Bưu điện Sài Gòn, ông viết Bướm hoa. Nguyễn Văn Thương là một trong những tác giả nổi tiếng thời tiền chiến.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông công tác ở mặt trận Bình Trị Thiên. Bài hát Bình Trị Thiên khói lửa của ông ra đời và gây được ấn tượng mạnh mẽ. Hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc và là một trong những nhạc sĩ đầu tiên soạn nhạc cho các điệu múa chuyên nghiệp như thơ múa Chim gâu, kịch múa Tấm cám, Múa ô, Chàm rông... Sau Bài ca trên núi viết cho phim Vợ chồng A Phủ .Nguyễn Văn Thương còn có những ca khúc, hợp xướng khác.
Ông còn nổi tiếng với những tác phẩm khí nhạc như: Lý hoài nam (độc tấu sáo trúc cộng tác với Ngọc Phan), Buôn làng vào hội, Quê hương (cộng tác với Hoàng Dương). Sau khi tu nghiệp ở CHDC Ðức, Nguyễn Văn Thương dường như bừng khởi trong khí nhạc. Ông đưa ra từ những tiểu phẩm nhỏ đến các tác phẩm lớn như: Ngày hội non sông (độc tấu sáo trúc và bộ gõ), Rhasodie số 2 cho đàn T'rưng và dàn nhạc giao hưởng, Trở về đất mẹ, cho violoncelle và piano... đặc biệt là thơ giao hưởng Ðồng khởi đã từng trình diễn lần đầu tại Leipzig (CHDC Ðức) năm 1971.
Từ sau năm 1975, ông vẫn tiếp tục sáng tác cho đến nay như Adagio Bên dòng sông Thương cho violoncelle và piano, ca khúc Thu Hà Nội- mùa thu tuyệt vời... Bên cạnh sáng tác, Nguyễn Văn Thương còn đóng góp lớn trong sự nghiệp đào tạo âm nhạc nước nhà.
Ông nguyên là Giám đốc Nhạc vịên Hà Nội, đưa hệ Trung cấp âm nhạc cổ truyền lên hệ Ðại học. Cũng tại nôi đào tạo âm nhạc, ông còn viết các tập sách giáo khoa âm nhạc như Tuyển tập piano (trung cấp), Tuyển tập 16 bài dân ca và dân vũ Việt Nam (soạn cho piano) do nhà xuất bản Peters (Ðức) ấn hành năm 1972. Ngòai ra, ông còn có một số tác phẩm sân khấu như Mệnh Lệnh, Cải Tô và sách dịch Beethoven (NXB Thanh Niên). Ðã có tuyển tập 10 bài hát với phần đệm piano, Tuyển tập ca khúc Nguyễn Văn Thương và Album Audio tác giả.
CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
- Đêm Đông

- Bướm Hoa

- Trên Sông Hương

- Bài Ca Trên Núi

- ....
Tham khảo: http://www.hue.vnn.vn

Hư Vô



tải về 11.38 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   94   95   96   97   98   99   100   101   ...   371




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương