Lời Tình k (t-y)



tải về 11.38 Mb.
trang86/371
Chuyển đổi dữ liệu21.11.2017
Kích11.38 Mb.
#2439
1   ...   82   83   84   85   86   87   88   89   ...   371

Tiểu Sử Anh Bằng


Anh Bằng

Tên thật Trần An Bường. Sinh năm 1925 tại Hà Nội, sau 1954 sống tại Sài Gòn, hiện định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1965 - 1975 cùng hai nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ lập nhóm sáng tác ký tên chung là Lê Minh Bằng Những ca khúc thịnh hành của Anh Bằng : Nếu Vắng Anh Hẹn Anh Ðêm Nay Chuyện Giàn Thiên Lý (theo thơ Yên Thao) Bướm Trắng Nỗi Lòng Người Ði Anh Biết Em Ði Chẳng Trở Về (thơ Thái Can) Tango Dĩ Vãng Sài Gòn Thứ Bảy Nửa Ðêm Buốt Giá Tình Yêu Tuyệt Vời Lời Tình Băng Giá Trả Em Cay Ðắng Mộng Vàng Dù Nắng Có Mong Manh Nhớ Sài Gòn (cùng Trúc Giang) Tâm Hồn Cô Ðơn Cô Bé Môi Hồng Chuyện Người Con Gái Ao Sen Người Thợ Săn Và Ðàn Chim Nhỏ Mất Nhau Mùa Ðông Từ Ðộ Ánh Trăng Tan (thơ Ðặng Hiền) Khúc Thụy Du (thơ Du Tử Lê) ... Những ca khúc sáng tác chung dưới tên Lê Minh Bằng: Ðêm Ngoại Ô Ðêm Nguyện Cầu Nó Tình Là Sợi Tơ ...


www.digital-info.com/luanhoan

Tiểu Sử Ca Nhạc Sĩ Hoài Trung (Phạm Đình Viêm)


Hoài Trung

Nghệ sĩ Hoài Trung tên thật là Phạm Đình Viêm, sinh ngày 20-7-1920 tại Bạch Mai, Hà Nội. Xuất thân từ một gia đình nghệ sĩ, cụ ông chơi đàn bầu, cụ bà chơi đàn tranh. Ông lớn lên cùng các anh em trong đó có Phạm Đình Sỹ, Phạm Đình Viêm, Phạm Thị Thái Hằng, Phạm Đình Chương và Phạm Thị Thái Thanh. Những tính danh vừa kể là những tên tuổi đã gắn liền với ca nhạc, sân khấu, điện ảnh Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua. Phạm Đình Sỹ người anh cả trong gia đình là một tên tuổi lớn của kịch nghệ và điện ảnh, và là thân sinh của ca sĩ Mai Hương. Kế đó là Hoài Trung Phạm Đình Viêm một trong những giọng ca chính của ban Hợp Ca Thăng Long. Kế nữa tới Thái Hằng người phối ngẫu của nhạc sĩ Phạm Duy, và dưới mái nhà này đã sản xuất thêm Duy Quang, Duy Cường, Thái Hiền, Thái Thảo. Kế tiếp tới ca nhạc sĩ Hoài Bắc Phạm Đình Chương, một tên tuổi lớn trong cả hai lãnh vực sáng tác và trình diễn. Sau cùng là Thái Thanh, người đã sinh ra ca sĩ Ý Lan. Thật ra liên quan tới đại gia đình này, người ta còn có thể kể thêm vài tên tuổi nữa như Khánh Ngọc, Tuấn Ngọc...


Nghệ sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm có tài ca diễn từ nhỏ. Ông chuyên hát những bài Ta theo điệu Tây, và những bài cải cách (danh xưng đầu tiên của tân nhạc hiện tại). Vừa khi Phạm Đình Viêm trưởng thành, thì cuộc kháng chiến chống Pháp đã nổ bùng ra trên toàn quốc. Ông gia nhập đoàn văn nghệ Giải Phóng, do người anh họ rất gần là họa sĩ kiêm kịch sĩ Phạm Văn Đôn thành lập tại Sơn Tây, đi lưu diễn vùng trung du và thượng du Việt Bắc trong hai năm 1946-1948.
Ông là một ca sĩ thuộc giọng "Tenor", chuyên hát những bài nhạc hùng trong đoàn văn nghệ lúc đó là "Gươm Tráng Sĩ" của Phạm Duy, "Đợi Anh Về" của Văn Chung và những bài ca có đi kèm theo điệu bộ như "Thằng Bờm - Con Voi" của nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát. Ngoài giọng hát đặc biệt kể trên, ông lại còn có tài chọc cười quần chúng trong các tiết mục sân khấu hay kịch nghệ, và đã rất thành công trong cả hai lãnh vực âm nhạc và kịch nghệ.
Ông đã có công dẫn dắt các em mình là Thái Hằng, Phạm Đình Chương và Thái Thanh vào ngành ca diễn. Trong kháng chiến, ông đã từng phục vụ cho Trung Đoàn 304 tại Khu IV, Thanh Hóa vào những năm 1948, 1949. Khi đại gia đình ông di cư vào Sài Gòn vào năm 1951, ông cùng các em Phạm Thị Thái Hằng, Phạm Đình Chương, Phạm Thị Thái Thanh tiếp tục sinh hoạt trong lãnh vực âm nhạc. Hoài Trung Phạm Đình Viêm có một giọng ca mà những nhạc sĩ hàng đầu cùng thời với ông, trong đó có cả Phạm Đình Chương và Phạm Duy cho là "giọng ca tenor có một không hai" của âm nhạc Việt Nam. Ông đã cùng các em ruột và em rể là Phạm Duy thành lập ban Hợp Ca Thăng Long, và đưa tên tuổi của ban hợp ca này lên tột đỉnh danh vọng, và đồng thời góp sức vào việc phát triển tân nhạc tới chỗ cao nhất của nó.
Từ thập niên 50 trở đi, Hoài Trung luôn luôn là một giọng ca nam hàng đầu của âm nhạc Việt Nam. Ông lúc nào cũng là giọng nam chính của ban Hợp Ca Thăng Long, mà công chúng hằng thấy và được nghe trên các sân khấu Sài Gòn, trên các làn sóng điện của đài phát thanh Pháp Á, đài Tiếng Nói Tự Do, đài Phát Thanh Quốc Gia...
Trong những năm từ 67 đến 73, ông đã cùng các em Hoài Bắc và Thái Thanh trình diễn tại phòng trà nổi tiếng nhất Sài Gòn là Đêm Mầu Hồng. Ngoài những đóng góp cho nền âm nhạc Việt Nam, bản thân Hoài Trung Phạm Đình Viêm còn là một tài tử điện ảnh, và đã xuất hiện trong nhiều cuốn phim sản xuất từ Sài Gòn.
Sau năm 1975, ông đã cùng gia đình di tản sang Hoa Kỳ và cư ngụ tại Pasadena. Năm 1979, khi được đoàn tụ lại với em là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cháu gái là ca sĩ Mai Hương, ông lại tiếp tục ca hát trong ban Hợp Ca Thăng Long Hải Ngoại, và đã từng đi lưu diễn tại khắp các cộng động Việt Nam tại Hoa Kỳ cũng như tại Âu Châu.
Trong quá trình trình diễn, Hoài Trung Phạm Đình Viêm đã để lại tiếng của ông trong những bản nhạc mà sau này không thể có người thay thế, như tiếng ngựa hí trong bản "Ngựa Phi Đường Xa", tiếng ngân dài bất tuyệt trong bản "Ô Mê Ly". Trong suốt hơn 50 năm qua, tiếng hát sang sảng của Hoài Trung trong những ca khúc lừng danh của âm nhạc Việt Nam như "Tiếng Dân Chài - Hội Trùng Dương - Hò Leo Núi - Tình Hoài Hương - Ô Mê Ly - Ngựa Phi Đường Xa...", và nhất là trong thời gian gần đây, khi đài phát thanh Little Saigon chọn ca khúc "Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng" để làm nhạc hiệu cho đài, thì mỗi buổi sáng, tiếng hát của ông lại đến với mọi thính giả.
Ông mất vào ngày 27-7-2002, tại West Covina California, hưởng thọ 83 tuổi để lại vợ và 4 con đã trưởng thành. Đối với ngành âm nhạc Việt Nam, đối với bao nhiêu thế hệ đã từng yêu tiếng hát và phong cách trình diễn của ông nói riêng, và của ban Hợp Ca Thăng Long nói chung, sự ra đi của ca nhạc sĩ Hoài Trung Phạm Đình Viêm là mất mát không thể thay thế.

(Trích từ nhật báo Người Việt, số ngày 30 tháng 7 năm 2002)


Chilli

Tiểu Sử Cung Tiến


Cung Tiến

Cung Tiến


Sinh năm 1938 tại Hà Nội, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhà viết ca khúc nổi tiếng Việt Nam tại hai trường trung học Nguyễ­n Trãi và Chu Văn An: Thẩm Oánh và Chung Quân. Khi du học Úc Châu trong các năm 1957-1963, theo học ngành kinh tế, ông đã dự các lớp riêng về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại Âm nhạc viện Sydney. Trong các năm 1970-1973, với một học bổng cao học của British Council để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại Cambridge, Anh quốc, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó. Năm 1992, với một "đơn đặt hàng" của tổ chức ái nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại MN, ông đã hoàn tất tập Ta Về, thơ Tô Thùy Yên, viết, cho giọng hát/nói/ngâm và một đội nhạc cụ thính phòng. Năm 1993, với tài trợ của The Saint Paul Companies để nghiên cứu nhạc quan họ Bắc Ninh và các thể loại dân ca VN khác, ông đã soạn Tổ Khúc Bắc Ninh cho dàn nhạc giao hưởng. Năm 1997, ca đoàn Dale Warland Singers, MN, đã đặt ông một bản hợp ca nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập ca đoàn nổi tiếng quốc tế này. Từ năm 1992 tới nay Cung Tiến là thành viên của Ban Giám Đốc Di­ễn Đàn Soạn Nhạc Gia Mỹ.
Ngoài sáng tác, Cung Tiến còn đóng góp nhiều khảo luận và nhận định về nhạc dân gian Việt Nam và nhạc Hiện Đại Tây Phương trên các tạp chí Mỹ như Colors, và Việt Nam hải ngoại như Văn, Văn Học Nghệ Thuật, Người Việt, Thế Kỷ 21, và Quê Mẹ. Trong lãnh vực văn học, hồi thập niên 50 và 60, với bút hiệu Thạch Chương, ông cũng đã từng đóng góp những sáng tác, nhận định và phê bình văn học, cũng như dịch thuật, cho các tạp chí Sáng Tạo, Quan Điểm, và Văn. Hai trong số các truyện ngắn ông dịch và xuất bản ở Việt Nam là cuốn Hồi Ký Viết Dưới Hầm của Dostoievsky và cuốn Một Ngày trong đời Ivan Denisovitch của Solzhenitsyn. Từ hồi tị nạn cộng sản ở Hoa Kỳ ông viết cho các báo và tạp chí Việt Nam hải ngoại dưới bút hiệu Đăng Hoàng.




tải về 11.38 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   82   83   84   85   86   87   88   89   ...   371




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương