Lời Tình k (t-y)


Vài nét về Ns. Trịnh Hưng



tải về 11.38 Mb.
trang292/371
Chuyển đổi dữ liệu21.11.2017
Kích11.38 Mb.
#2439
1   ...   288   289   290   291   292   293   294   295   ...   371

Vài nét về Ns. Trịnh Hưng


Trịnh Hưng

Trịnh Hưng lấy tên thật làm bút hiệu, nhưng trong căn cước mang tên là Nguyễn Văn Hưng, sinh năm 1930 tại Hà Nội, quê quán Bắc Ninh.


1945-1953 theo kháng chiến chống thực dân Pháp, đội phó văn công Trung Đoàn Thăng Long.
1954 hồi cư về Hà Nội, sau đó di cư vào Nam và mở lớp dạy nhạc qua bộ môn: Đàn, luyện giọng và sáng tác.
Bắt đầu sáng tác từ năm 1950, nhưng mãi đến năm 1956 mới được công chúng đón nhận qua những ca khúc quê hương: Lối Về Xóm Nhỏ, Tôi Yêu, Lúa Mùa Duyên Thắm, Trăng Soi Duyên Lành, Tình Thắm Duyên Quê...
Sau năm 1975 bị kẹt lại, nhạc sị Trịnh Hưng đã bị cộng sản bắt đi tù hết 8 năm, vì sáng tác nhạc phẩm Ta Quyết Tâm Giết Lũ Hồ để phản đối chế độ CS.
Sau khi mãn tù 1990, Trịnh Hưng được gia đình bảo lãnh sang Pháp. Ra hải ngoại ông vẫn tiếp tục sáng tác nhạc và đã cộng tác với nhiều tạp chí văn học ở hải ngoại qua nhiều thể loại.
Tham khảo: DaiChung.com

Hư Vô

Vài nét về Phạm Trọng


Phạm Trọng

Phạm Trọng là một bút hiệu của nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu.


Lúc đầu sáng tác ông dùng bút hiệu Phạm Trọng như tập 10 Bài Ca Quen Thuộc Trên Đất Pháp (có những bản như Trường Làng Tôi, Mùa Thu Không Trở lại ...)
Về sau ông lấy bút hiệu lại như tên thật cho những bài mới hơn. Những bài hát của ông sáng tác sau 1975 đều ký tên là Phạm Trọng Cầu (ngay cả bài "Quê Hương" phỏng thơ Giang Nam vào 1972).

Phạm Anh Dũng, ÚtLém ...

Vài nét về Phạm Văn Kỳ Thanh


Phạm Văn Kỳ Thanh

Phạm Văn Kỳ Thanh tên thật Phạm Mỹ Lộc, sinh ngày 03 tháng 9 năm 1947 tại Sai Gòn.


Tốt nghiệp cử nhân luật khoa (ban kinh tế)

Ðại Học Sài gòn 1970.


Du học tại Hoa Kỳ năm 1971, tốt nghiệp cao học kinh tế, thuế vụ và tiến sĩ luật khoa tại San francisco USA, hiện hành nghề tại San Jose california
Tác phẩm :
Mười Bài Hát Cho Tình Yêu (Sàigòn 1968)

Hoa Thương Yêu (trường ca, USA 1973)

(phổ biến trên nhiều tạp chí Văn Học Hải Ngoại

nhiều bài biên khảo, tiểu luận, phê bình về âm nhạc)


Vài nét về Phan Ni Tấn


Phan Ni Tấn

Phan Ni Tấn sinh năm 1948, tại Ban Mê Thuột


Sinh Viên Đại Học Khoa Học Sài Gòn, 1969
Quan QLVNCH, 1971
Sinh hoạt với Du ca Ban Mê Thuột,1972.
Tù cải tạo tại Trại Cải Huấn BMT, 1975.
Vượt biên cuối tháng 11/1979 tới Thái Lan.
Hiện định cư cùng gia đình tại Toronto, Canada.
Đã cộng tác với báo chí tại hải ngoại: Văn, Văn Học, Nhân Văn, Làng Văn, Phố Văn, Hợp Lưu, Hồn Việt,Văn Nghệ, Văn Phong, Diễn Đàn Tự Do, Phụ Nữ Diễn Đàn,Saigon Times...
Tác Phẩm:- Dậy Lửa Trường Sơn (Nhạc, Lửa Việt, 1983)

- Em Hát, Em Vui (Nhạc Thiếu Nhi, Làng Văn, 1987)

- Hồi Kư Thơ (Thơ, Làng Văn, 1988)

- Câu Thơ Về Người (Thơ, Nhân Văn, 1996)

- Tuyển Tập Hai Mươi Ba Người Viết Sau 75 (Văn Nghệ, 1989)

- Tuyển tập Hai Mươi Người Viết Tại Canada (Năng Mới, 1995)

- Hai Mươi Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại 1975-1995 (Đại Nam, 1995) vân vân...

Liên lạc: taniphan@yahoo.com

Cao Luận

Trả lời Quỳnh My


Thập niên 60, thỉnh thoảng ba tôi vẫn hay tổ chức các buổi đờn ca với các nghệ sĩ cổ nhạc địa phương hoặc vài đào kép chính của đoàn cải lương miền Nam lưu diễn tại thị xã Banmêthuột. Thời đó bà mẹ hiền đảm đang của tôi lo phục dịch rượu chè và đồ nhắm; còn đám thiếu niên tụi tôi vẫn hay tò mò đứng lấp ló bên cửa lắng nghe. Có lẽ đó cũng là một cơ duyên để những bản nhạc của tôi được thành tựu sau này.
Kể cũng lạ, trước 75 ở bên nhà mỗi khi có dịp nhắc tới tên tôi người ta ai cũng đều nhắc đến cái danh nhạc sĩ. Ra hải ngoại tôi lại được đón nhận vai trò Thi Sĩ hơn là Nhạc Sĩ . Nhiều bạn bè trong nước ra hải ngoại sau tôi cũng lấy làm ngạc nhiên về sự thay đổi vị trí chức năng này.
Thay vì ảnh hưởng tới vọng cổ thì tôi lại hướng sang tân nhạc. Những ca khúc
đầu tay tôi viết về Mẹ và Quê Hương trong chiến tranh Việt Nam.
Nhạc của tôi thời đó (năm 1969 tới 1975) chỉ phổ biến bằng cách ôm đàn cùng bạn bè rong ca, về sau có một số thành nhạc truyền khẩu; còn lại đều rơi vào lãng quên. Bạn bè, anh em hay người nào khác quên đã đành, chính tác giả cũng quên luôn những đứa con tinh thần của mình một cách đáng tiếc .
Hồi đó ’’nghệ sĩ’’ đến độ viết xong bản nhạc nào tôi đều ‘’quăng’’ cho bạn bè
muốn giữ lấy mà hát không thì thôi không cần biết, dĩ nhiên là mất tất thôi.Thành ra sau này ra hải ngoại nhạc của tôi có nằm trên hay nằm dưới thi ca tôi cũng đều trân trọng hết .
Ngoài những ca khúc thuần túy, có dịp đọc thơ của các anh Bắc Phong, Nguyễn Nam An, Du Tử Lê,....tôi thấy hay thì phổ nhạc. Dĩ nhiên, bài thơ phải có hồn. Tượng thanh tượng hình trong ý tứ cộng thêm phần nhạc tính và sự cảm xúc của người đọc cũng là một trong những yếu tố quan trọng . Có điều, tôi mắc phải cái ’’bệnh’’ rất khó tánh khi chọn thơ để phổ, nên bài nào đã được soạn thành ca khúc hát lên tôi cũng đều... ưng ý ráo .Thí dụ như bài Hãy Em Là Thị Lộ thơ Bắc Phong...vv.. đã từng phổ biến ngoài đời chút đỉnh. Bài Ðất Nước thơ Nguyễn Nam An cũng vậy, dù mới phổ biến quanh bạn bè, lại thêm phần hòa âm của nhạc sĩ Trần Duy Ðức nên ai... lỡ nghe qua cũng lấy làm phấn chấn.
Với tôi làm thơ, viết nhạc đều rất khó. Tuy nhiên làm thơ dễ hơn viết nhạc nhiều. Nói trắng ra là viết nhạc khó hơn làm thơ gấp hai lần, vì lời nhạc cũng là một phương thức làm thơ vậy.
Viết nhạc là một trò chơi phức tạp của tinh thần. Ôm cây đàn hay ngồi vào máy để viết nhạc có khi hoàn tất trong vòng một tiếng đồng hồ, có khi cả năm không xong một câu. Phức tạp là ở cái chỗ đó.

Phan Ni Tấn (ND)


Tham khảo: *http://www.digital-info.com/luanhoan


tải về 11.38 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   288   289   290   291   292   293   294   295   ...   371




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương