Lời Tình k (t-y)



tải về 11.38 Mb.
trang281/371
Chuyển đổi dữ liệu21.11.2017
Kích11.38 Mb.
#2439
1   ...   277   278   279   280   281   282   283   284   ...   371

Vài Kỷ Niệm Với Duy Trác


Duy Trác

Phạm Anh Dũng
Duy Trác thuộc vào thế hệ đàn anh của tôi, độ hơn một thập niên. Ngày xưa và mãi đến lúc gần đây, mỗi lần nghĩ đến Duy Trác, tôi có những cảm nghĩ lẫn lộn về anh, vừa gần gũi và vừa xa vắng.
Giọng hát Duy Trác, tiếng hát tuyệt vời, bất diệt qua mấy thế hệ, đã đi vào lòng người từ bao nhiêu lâu, qua hàng trăm bản nhạc tình ca Việt Nam tuyệt diệu. Có thể nói trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, ít ra theo ý riêng tôi, anh là người hát tình ca nhiều nhất và hay nhất.
Hàng chục năm, hầu như ngày nào tôi cũng nghe Duy Trác hát, không qua những chương trình đài phát thanh như Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn, thì cũng qua rất nhiều băng nhạc phổ biến trước 1975 và còn được lưu lại mãi đến thời gian dài về sau.
Nghe Duy Trác hát mãi thành có cảm giác rất gần gũi, rất quen thuộc, cái cảm giác không rõ rệt và rồi một lúc nào đó chợt nhận thấy như vậỵ
Không giống như các ca sĩ Việt Nam nổi tiếng khác xuất hiện thường xuyên trên sân khấu hay đài truyền hình, Duy Trác không trình diễn trước khán giả cho mãi đến lúc gần đây sau khi anh đã định cư ở Hoa Kỳ. Hình như ngày xưa khi mới nổi tiếng, anh cũng có hát ở những Đại Nhạc Hội do Học Sinh Sinh Viên tổ chức. Nhưng từ ngày thế hệ tôi mới lớn, bắt đầu thích và biết nghe nhạc, không bao giờ thấy hình dáng của "Chàng Ca Sĩ Cấm Cung", tên của nhà văn Duyên Anh đặt cho Duy Trác.

Thành ra mỗi lần nghe Duy Trác hát, tôi cũng có cảm giác vừa gần gũi vừa xa vắng.


Duy Trác là một người thật đặc biệt, vừa là ca sĩ hạng nhất, vừa là luật sư chuyện nghiệp, còn là ký giả và lại còn là dịch giả nữa.
Tôi còn nhớ một chiều thu nắng nhẹ. Ngày đó đang học đệ ngũ hay đệ tứ trường trung học. Ba bốn đứa hứng tình rủ nhau "cúp cua" bỏ học, vào ngồi ở sân quán cà phê Thu Hương ở Tân Định, góc đường Hai Bà Trưng và Hiền Vương. Ngồi nhìn những giọt cà phê phin đen lóng lánh nhỏ xuống, vừa nghe nhạc qua máy phát thanh, vừa chuyện trò. Tình cờ, tất cả cùng tự nhiên yên lặng sửng sốt lắng nghe tiếng hát của một nam ca sĩ trình bày một bản nhạc thật hay:
Sao không thấy em lại

Để cùng anh thẩn thơ

Trước sân trăng vòi vọi

Để rồi cùng ước mơ

Nhưng chưa thấy em lại

Hàng dừa nghiêng thương nhớ

Và khúc ân tình biết đưa về đâu...

(Thuở Ban Đầu / nhạc và lời Phạm Đình Chương)


Tiếng hát sao mà truyền cảm, đầm ấm, tha thiết, nồng nàn, ân cần.... Thời gian như muốn ngừng lại trong giây phút đó. Bản nhạc chấm dứt, mấy đứa ngơ ngác nhìn nhau!

Đó là kỷ niệm lần đầu tiên nghe Duy Trác hát. Kể từ đó tôi say mê giọng hát này, và kể từ đó tôi đi tìm nghe cho bằng được những bài Duy Trác hát.


Duy Trác hát thật hay, không chỉ những loại nhạc đòi hỏi kỹ thuật trình diễn của người hát và trình độ thưởng thức của người nghe như Nguyệt Cầm (thơ Xuân Diệu, nhạc Cung Tiến), Đôi Mắt Người Sơn Tây (thơ Quang Dũng, nhạc Phạm Đình Chương), Đường Em Đi (nhạc và lời Phạm Duy)... mà ngay cả những bản nhạc giản dị, nhậy cảm như Người Em Nhỏ (thơ Thiệu Giang, nhạc Nguyễn Hiền), Tôi Sẽ Đưa Em Về (nhạc và lời Y Vân), Áo Lụa Hà Đông (thơ Nguyên Sa, nhạc Ngô Thụy Miên)... Duy Trác cũng làm người nghe rung động một cách kỳ lạ.
Kỷ niệm đáng nhớ thứ hai với Duy Trác là ngày đã định cư ở Hoa Kỳ khá lâu, bất ngờ đọc một tờ báo tiếng Việt thấy tin anh đã qua đời, tôi đã lặng người đi một lúc khá lâu. Tôi vẫn còn nhớ cái cảm giác xót xa, nhạt nhòa của mình, tưởng như vừa mất đi một cái gì quý giá nhất trong đời. Dĩ nhiên, về sau, tôi được biết đó là một tin không đúng sự thật.
Mùa Thu năm 1992, anh Duy Trác đến được Hoa Kỳ và ở Houston, Texas. Tôi nghĩ sau 17 năm cực khổ kể cả 6 năm trong các trại cải tạo và 4 năm lao tù, anh không còn giọng hát ngày xưa. Nhưng tôi đã lầm. Thật không còn gì hạnh phúc hơn được nghe lại tiếng hát Duy Trác, không có gì khác ngày trước, qua một băng nhạc anh gửi đến:
Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ

Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố

Ngục tù tăm tối nói với cuộc đời:

"Sài Gòn có vui, Sài Gòn có vui ?"

Em ngước mắt nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ:

"Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ

Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ

Sài Gòn chỉ vui khi các anh về"...

(Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về / nhạc và lời Duy Trác)
Những bài hát do chính anh sáng tác cả lời lẫn nhạc: "Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về", "Ở Lại", "Trả Lời Thư Em", "Còn Tiếng Hát Gửi Người", "Hãy Mời Tôi Bạn Nhé", "Tình Khúc Áo Dài", "Muôn Trùng Có Nhớ"... theo ý tôi đã diễn tả hoàn toàn được nỗi đắng cay, "loay hoay", gần như có thể nói là tuyệt vọng của những người còn ở lại Việt Nam sau cơn bão đen tối tháng Tư 1975, mà tôi chưa thấy nhạc sĩ nào ghi lại được như vậỵ
Gặp anh Duy Trác ở California, cảm động vì lần đầu trong đời gặp anh. Đưa anh đi phòng thu thanh hát:
Tôi xa người, như xa núi sông

Em bên kia suốỉ- Bên kia rừng

Em bên kia nắng?- Bên kia gió

Tôi một giòng: sương lên mênh mông

Tôi xa người, như xa biển Đông

Chiều dâng lênh láng, chiều giăng hàng

Những cây ghi dấu ngày em đến

Đã chết từ đêm mưa không sang...

(Tôi Xa Người / thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Anh Dũng)
Và vẫn tiếng hát ngày xưa, vẫn truyền cảm, đầm ấm, tha thiết, nồng nàn, ân cần...
1993

Santa Maria, California USA



Phạm Anh Dũng

Vài nét sinh hoạt VHNT...


Lê Mộng Nguyên

Vài nét sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật về Nhạc Sĩ Lê Mộng Nguyên



Lê Mộng Nguyên, PARIS, 15.06.2002
Lê Mộng Nguyên: Nhạc sĩ, Giáo Sư Hàn Lâm Viện Học Sĩ Khoa Học Hải Ngoại Pháp, Tiến Sĩ Quốc Gia Khoa Học Chính Trị (Đại Học Paris).
Sinh tại Phú Xuân (Huế), tỉnh Thừa Thiên, nước Việt Nam (cha tên là Lê Viết Mưu, mẹ là Hồ Thị Ngơ, cả hai đều tạ thế), trong một gia đình nho giáo, Phật giáo đi đơi với phụng thờ tổ tiên, cĩ 7 con (5 trai, 2 gái). Trưởng nam Lê Mộng Tùng mất năm 1981, trưởng nữ Lê Thị Tố Huệ năm 1966, cịn chồng là Ơng Lê Văn Hy hiện trú ngụ tại Montréal, Québec (Canada). Con út của gia đình là Lê Mộng Quán mất tại Lille năm 1968. Lê Mộng Nguyên hiện giờ chỉ cịn hai người anh ở Sài Gịn: Lê Mộng Đào và Lê Mộng Hồng (đạo diễn phim) và một người chị: bà Lê Thị Tố Vân ở Huế (chồng là Lê Đình Sum vừa tạ thế năm 2000).
Lê Mộng Nguyên qua Pháp du học từ ngày 05/10/1950, sau khi đỗ bằng Tú tài Sinh ngữ Triết lý niên học 1949-1950. Sau khi trúng tuyển Cử nhân Luật khoa Đại học Paris năm 1954 và làm tham vụ ngoại giao tại Đại sứ quán Việt Nam ở Pháp (từ 1955 đến 1958), đỗ bằng Luật sư năm 1959 (hành nghề Luật sư tại Tịa Thượng thẩm Paris từ 1960 tới 1967), LMN đỗ bằng Cao Học Cơng Pháp năm 1959, Cao Học Khoa học Chính trị năm 1960, Cao Học Tư Pháp năm 1962. Trình Luận án Tiến sĩ Quốc gia Khoa học Chính trị (Thèse de Doctorat d'Etat ès Sciences Politiques) ngày 08/02/1962, Ưu Hạng, với tất cả lời khen ngợi của Ban giám khảo Đại học Luật khoa Paris (và được Giải thưởng Luận án - Prix de Thèse của Đại học Paris ngày 25/06/1963). Từ niên học 1962-1963 cho tới niên học 1996-1997, với tư cách Giáo sư Tiến sĩ Quốc Gia, LMN đã giảng dạy luật Hiến pháp (và trở thành chuyên mơn lỗi lạc) đi song với Khoa học Chính trị (cùng Tài chánh, Hành chánh) liên tục tại Đại học Paris-Assas, Besanậon, Paris-Saint Denis và Paris-Sorbonne Nouvelle.
Lê Mộng Nguyên làm thơ nhạc và viết văn từ thuở nhỏ. Trúng tuyển Giải Thưởng Hồng Đế Bảo Đại (Prix S.M. Bảo Đại) trong một cuộc Thi Văn Chương Học Sinh Trường Trung Học, được đăng báo lúc mới cịn 15 tuổi (Phan Đình Phùng (biên khảo), Việt Nam Tân Báo 1945) và cĩ thẻ nhà báo ngay năm 18 tuổi. Đã cộng tác ở quốc nội với Phật Giáo Văn Tập (của Hịa thượng Minh Châu), Tập Văn Học Sinh (kỷ niệm niên khĩa 1948-1949 trường Trung học Khải Định), Quốc Gia (nhạc phẩm Xuân Tươi viết năm 15 tuổi, được đăng dưới biệt hiệu Lan Đào), Việt Nam Tân Báo (dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim) và hải ngoại, từ ngày đi du học Pháp: Việt Nam (của Tịa Đại sứ Việt Nam tại Paris), Kinh Tài Pháp (của Nguyễn Văn Bơng), Đường Mới (của GS Bùi Xuân Bào), Cách Mạng (thơ đăng thường xuyên với biệt hiệu "Yên Hà"), Quê Mẹ (của Võ Văn Ái), Tiếng Sơng Hương-Dallas (của sử gia Nguyễn Cúc), Tiếng Sơng Hương-Virginia, Việt Điểu-Giai Phẩm Mùa Thu 97 và 98 ( của Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại), Cụm Hoa Tình Yêu IV-1998, CHTY V-1999, CHTY VI-2000, CHTY VII-2002 (HTTTVN Hải Ngoại, Sacramento), Flowers of Love (Vietnamese International Poetry Society, 2000, Sacramento),Chúng Ta (của Bùi Xuân Quang và Lê Thị Bạch Nhựt), Le Médecin du Vietnam (của BS Trần Quang Lộc), Tiếng Gọi Dân Tộc (của Võ Long Triều), Tin Tức (của Nguyễn Đình Nhân), Á Châu (Đỗ Thành, Hồng Kim Thảo), Y Học Thường Thức (của BS Nguyễn Xuân Quang, Orange County), Ngày Mới (của Lê Trân - Diễm Thy, Antony, Pháp), Đối Lực & Khai Thác Thị Trường (của TS Nguyễn Bá Long, Toronto), Định Hướng (của GS Nguyễn Đăng Trúc & LM Lê Phú Hải), Biển Đơng (của nữ sĩ Dư Thị Diễm Buồn, Chicago), Đại Chúng (của ký giả Hồi Thanh, Maryland, USA), Dịng Việt (của Võ Long Tê & Lê Văn, Huntington Beach), Human Rights / Droits de lõHomme (của TS Lâm Lễ Trinh, Huntington Beach, California), Nhân Quyền DROITS DE LõHOMME (của LM Trần Thanh Giản, Paris), Hồn Quê, Multimedia Magazine (của ký giả Vương Huyền, trên mạng lưới), nguyệt san Nghệ Thuật - Montréal (của Nhạc sĩ Lê Dinh) một cách thường xuyên từ tháng 12-1998 trong mục phê bình văn nghệ và truyện, hồi ký, tùy bút, vân vân. Lê Mộng Nguyên đã cộng tác với "Nhĩm Khởi Hưng" trong Việt Sử Khảo Luận, Tập 16, của Luật sư Hồng Cơ Thụy (2001).
Đã sáng tác hơn một trăm nhạc phẩm, như Trăng Mờ Bên Suối (viết ngày 13.11.49), Vĩ Ngựa Giang Hồ (08.11.48), Đàn Chim Xuân (07/12/1948), Kỷ Niệm Chiều (22/05/1950) Mừng Khánh Đản (1948), Thành Đạo, Một Chiều Thương Nhớ (29.11.49), Hồng Hoa Thơn (22.01.50), Nhớ Huế (28.02.50), Bài Thơ Huế (1950), Về Chơi Thơn Vỹ (25.04.50), Xa Vời Bĩng Chim (26.02.50), Mỵ Châu Trọng Thủy (06/05/1950, cĩ lời băng tiếng Pháp, 2001), Xuân Tha Hương, Cơ Gái Huế (16.09.50), Dạ Lan Hương (1949), Ngàn Dặm Quan San (07.08.49), Đơi Mắt Nhung, Mơ Đà Lạt (21.03.50), Từ Giã Đế Đơ (08/05/1950), Ly Hương (1950)... Bụi Đời (06.09.57, nhạc phim), Lá Thư Cho Mẹ (1951), Xuân Tha Hương (20.03.51), Sơng Seine, Bao Giờ Ta Về Nước Nam? (tự bài "Bên Giịng Sơng Seine", 26.04.51) , Chiều Vàng Bên Chợ Đơng Ba (1988), Kiếp Giang Hồ (1992), Xuân Về Nhớ Mãi Quê Hương (1981) Quê Tơi (1991), Việt Nam Thắm Tươi (2000) ... và trong năm 2001- 2002 : Tìm Lại Ngày Xưa, Mưa Trên Phố Huế Ngày Em Đi, Thề Non Nước (Thơ Tản Đà), Giao Mùa (Thơ Phạm Ngọc), Thu Trên Sơng Seine (Thơ Vương Thu Thủy), Tình Vơ Vọng (Thơ Bích Thuận), Chiều Vàng Năm Xưa... phần lớn do Hương Mộc Lan, Tinh Hoa (nhạc và Sách Hồng: "Lá Thư Cứu Mệnh", là cuốn truyện đầu tiên được xuất bản, 1949), và Ái Hoa, Á Châu, An Phú... xuất bản và tái bản nhiều lần. Thu Hồ là nhạc sĩ danh ca đã ngay từ năm 1949 đặc biệt trình bày trên đài phát thanh Pháp Á (Radio France-Asie) hầu tất cả sáng tác đầu lịng của Lê Mộng Nguyên và từ đĩ đến lượt Mạnh Phát, Thanh Phong, Jo Marcel, Phương Bằng, Phạm Đăng... cùng các nữ danh ca như Hồng Oanh, Hà Thanh, Thanh Thúy, Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Thanh Lan, Kim Tước, Hương Thủy, Hương Lan, Kim Thu, Ánh Tuyết, Lê Dung, Huyền Châu, Thanh Trúc, Tuyết Dung... đã trình bày trên đài phát thanh, trên mạng lưới hoặc truyền hình hoặc thu vào băng nhạc hay CD (hoặc Vidéo) cho phổ biến ở nước nhà và hải ngoại. Trong thư riêng trả lời cho nhạc sĩ Trịnh Hưng (đề ngày 02/03/1998), tác giả Lê Mộng Nguyên đã giãi bày tâm sự như sau: Bài trăng mờ bên suối viết ngày 13 tháng 11 năm 1949 (tơi cịn giữ bản thảo), một buổi chiều khơng mưa ở nhà một mình tơi ở Huế (đường Gia Long), với cây lục huyền cầm Y Pha nho, vừa nhạc vừa lời song song với nhau, rất mau lẹ (từ 20 đến 30 phút là xong), trong một cuốn vở cĩ phân ly (papier millimétré) đầy ký chú những bài học Lý Hĩa ở trường Khải Định. Ai là nhạc thần trong sự sáng tác bài nhạc này đã làm cho ngay tác giả lúc nghe lại chiều ấy cũng rụng rời con tim? Tơi vừa viết xong thì anh Lê Mộng Hồng lúc ấy mới đi chơi về, hát thử ngay với giọng ténor léger của anh rất xúc cảm, tơi quyết định gửi cho Thu Hồ là một danh ca của Đài Phát thanh Pháp Á (Radio France Asie) hồi ấy ở Sài Gịn. Hai ba ngày sau, TMBS được Thu Hồ trình bày lần đầu tiên trên làn sĩng điện Việt Nam, và anh đốn biết thành tích của TMBS từ ngày ấy đến bây giờ. Hồi ấy, chiến tranh bắt đầu giữa Quốc Gia (dưới thời Chính phủ độc lập của cựu hồng Bảo Đại, Quốc trưởng kiêm Thủ tướng Chính phủ thành lập ngày 01/07/1949, với Nguyễn Văn Xuân, Phĩ Thủ tướng và Tổng trưởng Quốc phịng) và Cộng quân của Võ Nguyên Giáp (chính phủ Hồ Chí Minh). Khơng hiểu sao tơi cĩ linh tính sẽ chia tay một cách vĩnh viễn với cuộc tình rất tha thiết nhưng trong sạch thuở ban đầu? Linh tính một sự đau khổ trong tương lai vì phải rời quê cha đất tổ qua năm sau cùng với ĩc tưởng tượng dồi dào của một người thi nhạc sĩ đã làm cho tơi biến hĩa những cuộc gặp nhau bên bờ sơng Hương (sau Đài Kỷ Niệm Chiến Sĩ Trận Vong) và trên đường Nam Giao (nơi trú ngụ của cơ gái Huế người hồng tộc mới tuổi dậy thì), những buổi chiều vàng mặt trời sắp xuống, thành một gặp gỡ cuối cùng bên bờ suối dưới ánh trăng mờ, mà ngay hoa lá cũng động lịng nức nở khĩc nỗi chia ly (Ngày xưa cịn đĩ trăng nước mong chờ).
Ngồi luận án Tiến Sĩ Quốc Gia với chủ đề Classes sociales et mouvements politiques au Vietnam de 1919 à 1939 (Giai Cấp Xã Hội và Phong Trào Chính Trị ở Việt Nam từ 1919 đến 1939), được Giải Thưởng Luận Án Đại Học Paris năm 1963, Lê Mộng Nguyên đã cho in và phổ thơng (với tư cách Giáo sư Luật sư Tiến sĩ Quốc Gia chuyên mơn luật Hiến pháp và Chính trị học), khoảng 20 tác phẩm lược luận và nghiên cứu, tỷ dụ: La Constitution de la Ve République, de Charles de Gaulle à Franậois Mitterrand [Hiến Pháp Đệ Ngũ Cộng Hịa, từ Charles de Gaulle đến Franậois Mitterrand] (xb lần thứ tư, năm 1989, Ed. STH), Les systèmes politiques démocratiques contemporains [Những Chính Thể Dân Chủ Hiện Đại] (xb lần thứ tư, năm 1994, Ed. STH), Initiation au droit [Khai Tâm Luật Pháp] (1996, Ed. L'Hermès), La Constitution de 1958 [Hiến Pháp 1958] (1996, Ed. L'Hermès), Le budget de l'Etat [Ngân Sách Quốc Gia] (1997, Ed. L'Hermès), Finances publiques [Tài Chánh Cơng Hữu] (1997, Ed. L'Hermès) và trong nhiều sách tập hợp như: La loi nouvelle (résumé, analyse et commentaire), 1997 (L'hermès), La loi nouvelle (résumé, analyse et commentaire), 1998 (L'Hermès), Les agglomérations urbaines dans les Pays du Tiers Monde (Ed. de l'Institut de sociologie, Bruxelles 1971), Le Viêt-Nam au présent (1992, Đường Mới), Đảng Cộng Sản Trước Thực Trạng Việt-Nam (1994, Đường Mới) và Những Vấn Đề Cấp Thiết của Việt-Nam (Tiếng Gọi Dân Tộc xuất bản, 1995), vân vân...
Đã viết hơn 130 bài xã thuyết về Hiến pháp và Dân chủ cho nhiều tạp chí Âu châu lừng danh: như Revue du Droit Public, Civilisations, Approches-Asie hoặc Echos de l'Edition Juridique, Légis-France, Lois et décrets, Mondes et Cultures (tập san của Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại Pháp), Nhân Quyền, DROITS DE LõHOMME (Paris), vân vân và trên báo song ngữ Pháp Anh ở Hoa Kỳ Human Rights (của TS Lâm Lễ Trinh, Huntington Beach, California), Việt Pháp ở Paris như Quê Mẹ, Tin Tức, hoặc L'Appel de la Nation hay Le Médecin du Vietnam và ở Gia-Nã-Đại như Đối Lực và Khai Thác Thị Trường (đã nĩi trên)... Sẽ xuất bản một thi tập Đời Khơng Cĩ Em, một sách biên khảo Nhà Văn Hải Ngoại (Phê Bình Văn Nghệ) và bằng Pháp ngữ (Tùy bút): La Guerre Civile Vietnamienne, Chroniques politiques 1993-2002, (Việt Nam Nội Chiến, Chính Trị Ký Sự 1993-2002), Contes Asiatiques, une philosophie de la vie et du bonheur (Truyện Ngắn Á Đơng, một triết lý cuộc đời và hạnh phúc) và Poèmes dõAmour du Vietnam (Tình Thơ Việt Nam)...
Được bầu làm Viện Sĩ Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại của Pháp từ ngày 05/12/1997, thay thế Cựu Hồng Bảo Đại (Membre de l'Académie des Sciences d'Outre-Mer depuis le 5 décembre 1997, en remplacement de S.M. Bảo Đại), với kết quả: 81 phiếu thuận trên 90 người bầu (90 phần trăm). Đại diện cho Việt Nam hiện giờ trong bác học viện này chỉ cĩ nhà văn Hương Giang Thái Văn Kiểm (được chọn lựa năm 1990, với tư cách hội viên liên hợp-membre associé, TS Hà Vĩnh Phương được bầu ngày 03/12/1999 với tư cách hội viên thơng tín-membre correspondant và nhạc sĩ, Giáo sư Tiến sĩ Lê Mộng Nguyên (Hội viên thực sự, với quyền bỏ phiếu bầu hội viên mới cùng ứng cử bất cứ chức vụ nào trong Viện Hàn Lâm). Thi văn nhạc sĩ và luật gia LMN cũng là hội viên của Hội Thơ Tài Tử Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese International Poetry Society tại Sacramento, U.S.A.), SACEM (Société des Auteurs Compositeurs et Editeurs de Musique: Hội những người Nhạc Sĩ và Xuất Bản Âm Nhạc) và Hội Những Nhà Văn Pháp Ngữ (ADELF: Association des Ecrivains de Langue Franậaise) tại Paris, Hội Chuyên Gia Lập Hiến Pháp Quốc (AFC: Association Franậaise des Constitutionnalistes), vân vân... Được Thủ Tướng Chính phủ Pháp ban thưởng Huy Chương Văn Hĩa với trật Sĩ Quan (Officier dans l'Ordre des Palmes Académiques) từ năm 1984 và vinh danh trong vẻ vang dân việt (The Pride of The Vietnamese), Tuyển Tập IV - 1998, California.

Tham khảo: vietnest.com/Amnhac/lemongnguyen.asp



Hoài Thương


tải về 11.38 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   277   278   279   280   281   282   283   284   ...   371




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương