Lời Tinh k (n-s)



tải về 8.89 Mb.
trang82/230
Chuyển đổi dữ liệu11.11.2017
Kích8.89 Mb.
1   ...   78   79   80   81   82   83   84   85   ...   230

Nhạc Sĩ Lê Mộng Nguyên


Lê Mộng Nguyên

Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên (LMN) dùng tên thật cho hầu hết những nhạc phẩm và bài viết của ông nhưng thỉnh thoảng ông cũng dùng một bút hiệu khác: Yên Hà.


LMN sinh năm 1930 tại Huế. Ông xuất thân từ một gia đình dòng dõi trí thức và có tâm hồn rất văn nghệ. Anh ruột của ông, Lê Mộng Hoàng (LMH), cuối thập niên 40 là một giọng ca nổi tiếng tại Huế. Trời phú cho LMH một giọng kim (tenor) rất mạnh, truyền cảm nhưng ông không thích làm ca sĩ mà chỉ muốn làm đạo diễn phim ảnh.
Lê Mộng Hoàng du học sang Pháp học trường IDHEC, sau này về nước trở thành một đạo diễn lừng danh ngay từ tác phẩm đầu tay của ông là “Bụi Đời” do chính Lê Mộng Nguyên viết nhạc phim (nhiều nhà báo ác miệng nói lái thành “Bợ Đùi”). Ông làm đạo diễn cho những phim hay trong thập niên 60 như “Bẽ Bàng” (Kim Cương đóng), “Nhạc Lòng Năm Cũ” (Kim Cương, Túy Phượng).
Nói đến NS Lê Mộng Nguyên người ta nghĩ ngay đến tác phẩm "Trăng Mờ Bên Suối" (TMBS) sáng tác năm ông chỉ 19 tuổi và đã được cố nhạc sĩ, danh ca Thu Hồ đưa vào lòng quần chúng cùng với những sáng tác của LMN sau này.
Nhiều người lầm tưởng TMBS là tác phẩm đầu tay của LMN. Thật ra, ông đã sáng tác từ thời niên thiếu những bài hát rất trữ tình mà nguồn cảm hứng là một cô gái Huế tên M.
Có lẽ ta phải chờ nhạc sĩ lên tiếng cho biết thêm những sáng tác của ông trước bài TMBS vì những tài liệu hiện được phổ biến chỉ ghi lại bài "Mừng Khánh Đản" sáng tác năm 1948 nhân dịp lễ khánh thành Chùa Từ Đàm, Huế (đăng trên "Phật Giáo Văn Tập", 1948), những bài hát dành cho Thanh Niên Phật Tử ở Huế và những bài có tính cách tranh đấu như "Vó Ngựa Giang Hồ" (1949), "Mùa Lúa Mới", "Trường Ca Quân Tiến" (đăng trên báo "Cách Mạng", 1956).
Đa số sáng tác của LMN hướng về tình cảm lãng mạn, tình quê hương của người xa xứ cũng như người ở lại.
Cũng như người anh Lê Mộng Hoàng và người em trai Lê Mộng Quán, LMN sang Pháp du học cuối năm 1950. Thành tích học vấn, biên khảo và dạy học của ông thật lẫy lừng. Là nhạc sĩ có tâm hồn lãng mạn, ướt át nhưng ông cũng là một "academic person" xuất chúng.
Ngành nghiên cứu và giảng dạy (cấp bậc Giáo Sư - Professor) tại Đại học Paris của ông là Luật Hiến Pháp (Constitutional Law), Khoa Học Chính Trị (Political Science) và Kinh Tế (Economy). (Một nhân vật "academic" xuất sắc kiêm... nhạc sĩ lãng mạn khác là... NS Cung Tiến).
Ngoài hàng trăm bài (paper) viết trong chức vụ tại trường đại học, giáo sư Lê Mộng Nguyên đã viết trên 15 tác phẩm nghiên cứu giá trị bằng Pháp ngữ. Sau khi về hưu năm 1996, giáo sư LMN được bầu vào Hàn Lâm Viện Khoa Học Hải Ngoại Pháp (Académie Francaise).
Sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ LMN như sau:
Năm 1948:"Mừng Khánh Đản" và có lẽ bài "Mùa Lúa Mới", "Trường Ca Quân Tiến" và một số tác phẩm khác của LMN phổ biến trong vòng thân hữu.
Năm 1949: "Trăng Mờ Bên Suối", "Một Chiều Thương Nhớ", "Trọng Thủy, Mỹ Châu", "Chiều Thu", "Mưa Huế ", "Vó Ngựa Giang Hồ".
Năm 1950: "Hoàng Hoa Thôn", "Nhớ Huế", "Bài Thơ Huế", "Cô Gái Huế", "Về Chơi Thôn Vỹ Dạ", "Ðôi Mắt Nhung", "Mơ Đà Lạt", "Ly Hương".
Những tác phẩm này đã được nhiều nhà xuất bản như Tinh Hoa, An Phú, Hương Mộc Lan, Ái Hoa, Á Châu v.v... xuất bản và tái bản nhiều lần và đã được cố nhạc sĩ, danh ca Thu Hồ "hát ra mắt" trên Đài Pháp Á không lâu sau khi sáng tác.
Những sáng tác sau khi sang Pháp với tâm trạng nhớ nhung thương tiếc cho quê hương:
"Xuân Tha Hương", "Lá Thư Cho Mẹ", "Trời Âu", "Bên Dòng Sông Seine" (1951), "Bụi Đời", "Người Đã Trở Về" (1957), "Tìm Lại Ngày Xưa", "Phiêu Bạt" (1958), "Thề Non Nước" (thơ Tản Đà) (1979), "Xuân Về Nhớ Mãi Quê Hương" (1980), "Sông Seine, Bao Giờ Ta Về Nước Nam ?", "Chiều Vàng Trên Chợ Ðông Ba" (1988), "Quê Tôi" (1991), "Kiếp Giang Hồ" (1992).
Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên hiện sống tại Paris, Pháp. Thỉnh thoảng độc giả có thể tìm thấy những bài viết, tùy bút, hồi ký của ông trên đặc san "Tiếng Sông Hương".Biển Nhớ14/7/2002

Tài liệu tham khảo:


1. Trần Quang Hải, 1997, bài đăng trong "Tuyển Tập Nghệ Sĩ 3", Trường Kỳ.

2. Hồ Trường An, 1998, "Theo Chân Những Tiếng Hát".

3. Hồ Trường An, 2000, "Chân Dung Những Tiếng Hát".

4. "Tiếng Sông Hương", số phát hành năm 1987, 1988, 1991, 1992.


Nhạc sĩ Ngô Ganh


Ngô Ganh

Tôn Thất Lan
Các bạn thân mến ,
Cách đây không lâu, bạn midup đã post một bài hát thiếu nhi mang tên “Đàn Chim Non” của nhạc sĩ người Huế Ngô Ganh trong thread "Xin Đăng BÀI HÁT MỚI Vào Đây-Phần 2" (Reply No. 171).
Cố nhạc sĩ Ngô Ganh là một thầy dạy nhạc nổi tiếng ở Huế. Nhiều học trò của nhạc sĩ này nay là những nhạc sĩ nổi tiếng. Nhạc sĩ Ngô Ganh còn là người có nhiều ảnh hưởng trong sinh hoạt văn nghệ tại Huế, đóng vai trò không nhỏ trong số phận và vận mệnh của những ca sĩ Huế trong thập niên 50. Cụ đã từng là Giám Đốc Đài Phát Thanh Huế.
Hôm nay BN xin được gửi đến các bạn bài báo của một học sinh cũ của cụ viết khoảng năm 1999 để chúng ta cùng chiêm ngưỡng một nhân vật tuy làm lớn nhưng lại rất bình dân và hòa đồng với mọi người.
Kính tặng bác Văn Giảng, người hàng xóm xa xưa của cố nhạc sĩ Ngô Ganh ở gần Hồ Tịnh Tâm, Huế.

Nhạc sĩ Ngô Ganh - Thầy dạy nhạc đầu tiên của tôi



Tôn Thất Lan
Tôi kẻ những dòng nhạc và viết lên đấy những nốt đen, trắng, tròn... đầu tiên lên bảng đen bằng phấn trắng vào năm 1950, lúc tôi theo học lớp Nhất (lớp Năm bây giờ) trường Thượng Tứ, Huế. Thầy dạy nhạc của chúng tôi bấy giờ là nhạc sĩ Ngô Ganh. Đầu thầy cắt ngắn, đã len lỏi nhiều đốm trắng, bạc. Thầy vui tươi, hoạt bát và rất hóm hỉnh. Đó là phong cách rất “lạ lùng” của thầy cô giáo thời đó. Dạy và học là hai việc làm song song tuyệt đối nghiêm chỉnh, không hề có chút đùa nghịch, hay dí dỏm nào. Thầy, trò nhìn ngắm nhau bằng những đôi mắt “đứng tròng” trong thế người thẳng đứng. Trong không khí khá nặng nề, u uất đó - ảnh hưởng còn vang vọng lại của một quan niệm phong kiến xa xưa, sự xuất hiện linh hoạt, đầy ấn tượng của thầy Ganh quả là một sự kiện lạ lùng làm tất cả những cậu bé phải “làm mặt nghiêm” chúng tôi ngỡ ngàng và vô cùng... sung sướng. Một vài chúng tôi mơ hồ cảm nhận rằng đời thật sự là hồn nhiên, là vui tươi mà sao chúng tôi lại bị bắt phải quên nụ cười !
Gần đây, mỗi lần đứng làm quản trò sinh hoạt tập thể, tôi thường nhớ và lấy hình ảnh của thầy Ngô Ganh làm mẫu, cố gắng vui tươi, hài hước, dí dỏm một cách thật tự nhiên để làm cho mọi người cùng tự nhiên như mình. Trên bục giảng, thầy Ganh không giảng mà hát, vừa đi vừa làm điệu bộ. Đến đoạn “Đừng ham chơi, thầy cô la !” thầy lại liếc mắt về phía cô giáo chủ nhiệm của chúng tôi hiện đang ngồi chấm bài chúng tôi ngay tại bàn. Cô vẫn ngồi đấy vì giản dị là không có nơi nào khác để ngồi. Thời đó, trường chưa có phòng giáo viên. Thầy cô giáo đến trường và đi ngay vào lớp, bàn của mình và ở đó cho đến lúc bãi trường ! Cái “liếc” của thầy Ganh sao nó nghịch ngợm và dễ thương đến thế ! Chúng tôi vừa sung sướng vừa ái ngại liếc nhìn qua thái độ của cô: cô cũng mĩm cười, đồng tình. Thế là sức thuyết phục của thầy quá mạnh và chúng tôi an tâm cười toe toét !
Sau thời gian “quen biết” ngắn ngủi, thầy trò xa nhau và chúng tôi cũng quên mất thầy. Rồi sau đó nghe thầy làm Quản đốc Đài phát thanh Huế. Ở đây thầy lại cũng rất dí dỏm, thầy dùng từ “deux couleurs” (hai màu) để phê bình một giọng ca không rõ ràng tự nhiên, khi khàn khàn khi the thé. Đặc biệt là thầy có minh họa rất tài tình và độc đáo “36 nụ cười”, trong đó có nụ cười “rửa đọi” (chén bát), nụ cười “mở nút chai”, nụ cười “xé áo”... thật là độc đáo mà ai nghe cũng phải cười.
Có nhiều giai thoại về thầy Ganh, hay đúng hơn về tính hay diễu cợt, châm biếm của thầy Ganh mà nhiều người không quên. Lối đặt tên của thầy thật ngẳng đời làm người nghe - những người trong cuộc - rất khó chịu, bị “chơi” mà không nói được. Thầy nuôi hai con chó, một con mang tên “ỷ thế”, một con “ba láp” (bậy bạ). Khi có những người khách là quan viên chức không được mời (nhất là trong thời gian thầy làm Quản đốc Đài phát thanh Huế), thầy thường kêu hai con chó ra la rầy “Đồ ỷ thế” (cậy quyền). “Đồ ba láp”.
Nhà thầy có hai người giúp việc đều mang tên rất đẹp, rất khuê các như Tuyết Mai, Kim Ngọc, hay đại loại như thế trong khi con gái của thầy thì lại mang những tên rất bình dị, dân dã như Xoài, Mít, Ổi... khách rất đỗi ngạc nhiên khi được giới thiệu con gái và người giúp việc của thầy Ganh, tình thế thật tréo cẳng ngỗng. Những người khách có suy nghĩ chắc cũng nhận thấy đấy là trường hợp cần phải suy nghĩ đắn đo. Những người thích trào phúng châm biếm thường không buông tha chính mình, mà xem mình như một đề tài, mục tiêu gần gũi và đáng quan tâm. Thầy vịnh chiếc xe đạp ngang của thầy (xe đàn ông) là "vứt ba ngày ngoài chợ Đông Ba chẳng có ma mô lấy” và thầy “dám” bỏ tiền ra đền cho ca sĩ Hà Thanh vì mất chiếc xe đạp đầm bằng một chiếc xe đạp mới toanh.
Một lần nọ thầy Ganh đang mặc quần xà lỏn đứng tưới cây trong vườn, có ba sinh viên đến muốn gặp thầy để tìm hiểu nghiên cứu gì đấy về âm nhạc. Họ nói với thầy: “Này chú, có thầy Ganh ở nhà không ? Chúng tôi muốn gặp”. Thầy Ganh làm vườn trả lời: “Có, mấy cậu vào trong ngồi chờ chút”.
Lát sau, ba sinh viên được gặp thầy Ganh nhạc sĩ cũng là chú làm vườn hồi nãy. Họ hoảng hốt xin lỗi thầy, nhưng thầy vẫn dí dỏm: “Có gì đâu. Mỗi người có nhiều tư cách khác nhau. Có gì là lạ đâu. Khi làm vườn, tôi trông giống ông làm vườn là điều tốt”.
Tôi bùi ngùi đứng trước căn nhà nhỏ có chiếc vườn nho nhỏ trong một hẻm nhỏ ăn thông giữa đường Mã Khái - Nhật Lệ. Căn nhà đã có chủ mới. Gia đình và thầy Ngô Ganh đã tan tác hết, người còn kẻ mất, ở nhiều nơi khác nhau. Nhiều người biết thầy, những học trò cũ của thầy cho biết là thầy đã mất từ lâu. Quãng thời gian cuối đời của thầy không lấy gì làm đầy đủ, vui vẻ cho lắm. Thầy quá nghèo sau khi về hưu. Các con cũng không làm gì khá giả để đưa nếp nhà lên. Chắc là đám tang thầy cũng lạnh lẽo vắng vẻ như những ngày cuối đời thầy. Tôi nhìn lại căn nhà và tưởng tượng ra hình dáng người thầy vui tươi, hay trào lộng và có nhiều sáng tạo trong nghề nghiệp.
Tác phẩm thầy để lại cho đời không nhiều, nhưng ngoài một số bài hát như Mưa dầm, Hương Bình, Hương Giang dưới trăng, Nhịp sống thanh niên, Chúng ta yêu đời... còn có các bài hát rất dễ thương cho thiếu nhi như Họp bạn, Nhảy lửa, Vui bước đến trường, Đường đời luyện bước... và nhạc tuyển Đàn chim non (tập 1) mà chúng ta còn biết được đến nay.
Món quà thầy Ngô Ganh biếu cho các thế hệ mai sau là một lối sống bình dị lạc quan, một phong cách tự nhiên hài hước giúp cho mọi người vào thập niên 40, 50 quên đi, bỏ đi một quan niệm sai lầm của xã hội phong kiến, trong đó người nghệ sĩ - người làm đẹp cuộc đời - là “xướng ca vô loại”. Đáng buồn và đáng giận thay.
Là kiếp tằm nhả tơ, phải chăng người nghệ sĩ đã rút tơ lòng mình làm những điểm tô cho đời, cho những ai muốn thưởng thức cái đẹp nhưng bản thân mình thì trống rỗng, chẳng được bù đắp gì, ngoại trừ niềm vui đã làm vui kẻ khác. Người nghệ sĩ luôn là kẻ hy sinh, nhưng là một hy sinh tự nguyện, thỏa mãn... Thầy Ngô Ganh đã sống và qua đời như thế trong thanh bạch, an nhiên với đôi chút thiếu thốn, nhưng chắc chắn rằng kỷ niệm thầy để lại cho những người đã biết thầy, học với thầy luôn luôn còn mới và đẹp.

Tôn Thất Lan

Tập San “Áo Dài Huế” (Nhớ Huế – tập 3)

Nhà Xuất Bản Trẻ 1999



Biển Nhớ



Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   78   79   80   81   82   83   84   85   ...   230


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương