Lời Tinh k (n-s)



tải về 8.89 Mb.
trang77/230
Chuyển đổi dữ liệu11.11.2017
Kích8.89 Mb.
1   ...   73   74   75   76   77   78   79   80   ...   230

Nhạc Sĩ Ðỗ Kim Bảng


Đỗ Kim Bảng

Dân gốc Quảng Nam ra đời tại Huế (1932), nhưng trải suốt tuổi thơ ở Ðà Lạt cho đến năm 1945, sau khi Việt Minh cướp chính quyền, thì theo cha mẹ về lại quê.


Học lở dở lớp đệ thất ở trường Phan Chu Trinh (Hội An) thì phải tản cư về lại bản quán(làng Phú Phước, huyện Duy Xuyên). Cha mất cuối năm 1946. Theo mẹ về quê ngoại ở Huế. Suốt cấp trung học phổ thông, học ở trường Khải Ðịnh. Trong thời kỳ này học đàn với nhạc sĩ Lê Quang Nhạc, học lỏm nhạc lý tây phương với nhạc sĩ Văn Giảng và một ít nhạc cổ truyền với nhạc sĩ Nguyễn hữu Ba. Cũng trong thời kỳ này, hoạt động văn nghệ trong trường cũng như trong Gia Ðình Phật Tử với các bạn: Phạm mạnh Cương, Hoàng Nguyên, Hồ Đăng Tín (Nhạc), Lữ Hồ(Văn, họa), Kiêm Ðạt, Diên Nghị, Tạ Ký (thơ), Minh Tuyền (Nhiếp ảnh).... Sáng tác được dăm ba bài hát cho sinh hoạt học đường hay cho Phật giáo mà hai bài được biết đến nhiều là bài Mùa Thi (1951) đã được ban hợp ca Thăng Long chọn làm nhạc cảnh, từng được trình diễn ở Sàgiòn và đến năm 1954 lại được vinh dự theo chân ban Gió Nam (chủ chốt là ban Thăng Long và quái kiệt Trần văn Trạch) ra mắt khán giả Hà Nội; và bài Mục Kiền Liên (1949), bản nhạc Phật vẫn được trình bày trong mùa Vu Lan. Ra Hà Nội đầu thu 1953. Học tại trường Văn khoa và Cao đẳng sư phạm. Trong thời gian này học thêm nhạc với nhạc sĩ Hùng Lân. Cuối năm 1954 theo đoàn sinh viên Bắc Việt di cư vào Sàgiòn, tiếp tục học tại hai trường nói trên cho đến năm 1955, tốt nghiệp Sư Phạm. Sau đó được Bộ Giáo Dục biệt phái qua Bộ Quốc Phòng, phụ trách văn hoá tại trường Võ bị Quốc gia Ðàlạt từ khóa 12 cho đến khoá 14 (1955 -1960). Trong thời kỳ này viết được một ít bản tình ca và hùng ca, trong đó có bài Khúc Hát Ngày Mai - một tiểu khúc liên khúc - đã được Ban Thăng Long trình bày một ít lần trên đài Sàgiòn và đài Quân Ðội.
Năm 1960 trở lại về Bộ Giáo Dục, dạy tại trường Trần Lục rồi Nguyễn Du cho đến năm 1965 thì nhận giấy nhập ngũ khóa 21 trường Võ bị Thủ Ðức. Sau khi mãn khóa Võ bị với cấp bậc Chuẩn Úy được chọn về phục vụ tại phòng Văn Nghệ cục Tâm lý Chiến. Cùng với các bạn nhạc sĩ khác như Trầm tử Thiêng, Duy Khánh, Lam Phương, Song Ngọc, Anh Việt Thu, Phạm Minh Cảnh, Trương Hoàng Xuân... làm việc dưới quyền thi sĩ Tô Kiều Ngân (Ðại úy trưởng phòng) và thi sĩ Tô Thùy Yên(Trung úy phụ tá trưởng phòng). Tại đây biết và quen thêm một số văn nghệ sĩ cùng Cục như: Trần Thiện Thanh, Trần Trịnh (nhạc sĩ), Du Tử Lê, Mai Trung Tĩnh, Tường Linh, Chinh Yên, Phạm Lê Phan, Huy Phương (thơ). Mai Chững (họa). Ðặng Trần Huân, Lâm Tường Dũ, Băng Ðình, Trần Xuân Thành, Nguyễn Nhơn Phúc (văn), và Tạ Tỵ. Viết rất nhiều nhưng đáng kể nhất là bản trường ca độc nhất trong đời là bản "Những người đi giữ quê hương". Bản nầy dài gần một tiếng đồng hồ, đã được ban hợp ca Quân Ðội dưới quyền điều khiển của Nhạc sĩ Vũ Minh Tuynh và Ngô Mạnh Thu tra mắt khán giả tại rạp Thống Nhất, nhân ngày Quân Lực 1969.
Năm 1969 được biệt phái về Bộ Giáo Dục. Tiếp tục dạy học cho đến tháng 4/75 thì... mất dạy. Sau đó cùng với hàng trăm sĩ quan VNCH khác nổi trôi nhục nhằn từ trại tù nầy qua trại tù khác để "học tập", nhưng mãi vẫn chưa "tốt nghiệp"! Mãi đến cuối năm 1978 mới được thả từ chuồng nhỏ ra chuồng lớn nhờ... học tập tốt!
Năm 1980, vì tương lai các con, cả gia đình vượt biển và định cư tại Mỹ cùng năm. Ði học lại và trở về nghề cũ. Hiện nay (1999), đang "thảnh thơi thơ túi rượu bầu" sau 16 năm "gõ đầu trẻ" ở Boston.
Suốt thời kỳ ở Mỹ sáng tác chậm. Có được một ít bài hát về quê hương, một số bài về cuộc sống riêng tư và một ít bài thơ phổ nhạc mà bài tác giả thích nhất và cũng mới nhất là bài "Tháng ba đi hàng quân" thơ của Trần Hoài Thư.
Thời gian sống tại Sài Gòn (1960 - 1975) học hỏi được nhiều nhờ quen biết với các nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Lê Trọng Nguyễn, Lan Ðài, Nguyễn Hiền, Mạnh Phát, Châu Kỳ và cũng sáng tác nhiều nhờ sự hợp tác và khuyến khích của các nhạc sĩ đồng lứa như Y Vân, Hoàng Nguyên, Trầm Tử Thiêng, Trúc Phương. Có một số bài đã được trình bày trên các đài phát thanh, được thu dĩa và các nhà xuất bản nhạc ấn hành. Trong số các bài đó được biết đến nhiều hơn là các bài: "Mưa đêm ngoại ô" (1960), và "Bước chân chiều chủ nhật" (1963)
Tham Khảo: Chép từ xuquang.com

Alex.T.G.

Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn & Sự ra đời của "Biệt ly"


Dzoãn Mẫn


Cuộc đời là âm nhạc
Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn sinh ngày 15/10/1919 tại Hà Nội. Cha ông là người mê nhạc cổ truyền dân tộc, chơi đàn bầu và thích nghe hát ả đào, chèo, ca Huế. Từ nhỏ, Dzoãn Mẫn đã được thân phụ "truyền" cái tình yêu đối với âm nhạc, chơi được đàn tứ và một vài nhạc cụ truyền thống khác. Lớn lên, Dzoãn Mẫn dần bị cuốn hút vào dòng nhạc phương Tây, mà chủ yếu là nhạc Pháp đang thịnh hành ở Việt nam bấy giờ.
Từ một nhạc công, Dzoãn Mẫn trở thành nhạc sĩ thuở sơ khai của nền âm nhạc Việt nam hiện đại.
Nhạc sĩ với "Biệt ly"
Chưa đến tuổi 20, Dzoãn Mẫn đã lần lượt cho ra đời nhiều tình khúc lãng mạn như Gió thu (1937), Tiếng hát đêm thu (1938), Một buổi chiều thu (1939) và đặc biệt là Biệt ly (1939):
Biệt ly, nhớ nhung từ đây

Chiếc lá rơi theo heo may

Người về có hay?

Biệt ly, sóng trên dòng sông

Ôi còi tàu như xé đôi lòng

Và mây trôi, nước trôi, ngày tháng trôi cùng nước trôi


Một tình khúc buồn đến nao lòng và cũng đẹp đến nao lòng, da diết trên từng lời ca nốt nhạc. Dù bị cuốn theo những biến động của lịch sử, Biệt ly vẫn đứng vững trong lòng khán - thính giả ái mộ sau 60 năm đầy thăng trầm thử thách. Nhạc sĩ Dzoãn Mẫn nhớ lại: "Tôi viết Biệt ly năm tôi vừa 20 tuổi. Hồi đó, cha tôi làm việc ở ga Hàng cỏ, Hà Nội. Nhà ở gần ga nên tôi thường hay ra ga chơi, chứng kiến nhiều cuộc chia tay đầy nước mắt trên sân ga, nhất là những đôi trai gái yêu nhau nhưng vì hoàn cảnh phải ly biệt. Ðiều đó khơi dậy trong lòng tôi nhiều cảm xúc và tôi có ý định sáng tác một bài hát về đề tài chia ly. Tôi nghĩ rằng tôi sáng tác bài Biệt Ly với rất nhiều kỷ niệm. Qua những cuộc chia ly mà tôi được chứng kiến ở sân ga Hà Nội, ở bến cảng Hải Phòng đã cho tôi rất nhiều xúc động. Tôi đã dự kiến làm bài Biệt Ly này từ năm 1937, tức là năm tôi bắt đầu sáng tác. Nhưng mà rồi có nhiều trường hợp khác cho nên tôi lại viết về chủ đề khác, cho đến năm 39, có mấy việc dồn dập đến, tôi trở lại cái đề tài này. Có những buổi biểu diễn ở các rạp, một phần nữa do các anh em ở trường Bưởi làm ca cảnh, cho nên cái bài đó (Biệt Ly) mới được phổ biến.
Trao đổi với tác giả
Thưa nhạc sĩ, có người cho rằng ông viết Biệt ly xuất phát từ một mối tình lãng mạn thời trai trẻ, đúng không?
Không phải Biệt ly xuất phát từ một tình cảm cá nhân đâu. Tôi không ly biệt tiễn đưa một mối tình nào cả. Có thể dựa vào nội dung bài hát mà nhiều người suy đoán thôi. Tôi viết Biệt ly trong hoàn cảnh chính quyền thực dân Pháp tuyển mộ rất nhiều người VN sang làm thợ hoặc lính đánh thuê cho các thuộc địa khác của Pháp. Sân ga Hàng cỏ bấy giờ sôi động hơn bao giờ hết, liên tục đưa đón tàu đi, tàu về chuyên chở những chàng trai Việt lên đường tha hương. Người đi - kẻ ở. Buồn lắm. Ðau xót lắm. Cái không khí tiễn đưa "không hẹn ngày về" ấy đã tác động mạnh đến tâm cảm vốn day dứt của tôi. Và ca khúc Biệt ly đã nhanh chóng ra đời.
Chắc ông còn nhớ ấn tượng lần đầu tiên tình khúc Biệt ly được biểu diễn chính thức? Ca sĩ nào đã thể hiện bài hát này?
Lần đầu Biệt ly được công bố trước đám đông khán giả là vào năm 1940 ở Hà Nội. chị Phụng, một ca sĩ ở ngõ chợ Khâm Thiên là người đầu tiên hát. Không còn nhớ rõ nghệ danh, tôi chỉ nhớ tên gọi thân mật chị Phụng - một giọng hát được nhiều người Hà thành yêu mến.
Kể từ lần đầu tiên ấy cho tới nay, ông thấy những ca sĩ nài hát Biệt ly có hồn nhất, hay nhất?
Từ năm 1945 trở về sau, do hoàn cảnh đất nước chìm trong chiến tranh, Biệt ly tạm ngưng không biểu diễn nữa. Mãi đến năm 1988 nó mới chính thức được hát trở lại trên các sân khấu trong Nam ngoài Bắc, được đưa vào chương trình "Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam" công diễn ở Nhà hát TP. Hà Nội. Cùng với Biệt ly, nhiều ca khúc tiền chiến của các nhạc sĩ khác như Văn Cao, Ðặng Thế Phong, Ðoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Hoàng Quý cũng được biểu diễn trở lại. Tôi nghe khá nhiều ca sĩ hát Biệt ly, nhưng có lẽ Lan Ngọc ở trong Nam và Thùy Dung ở ngoài Bắc này là thể hiện được cái ý, cái tình mà tôi muốn gửi gắm.
Thưa nhạc sĩ, trước khi sáng tác nhạc, ông đã đến với âm nhạc như thế nào? Ông có chịu ảnh hưởng khuynh hướng sáng tác nào không?
Có thể nói rằng, thế hệ những người làm âm nhạc chúng tôi là thế hệ tự học, tự mày mò, tự tìm kiếm. Chúng tôi không may mắn được học hành chính quy như các anh chị em sau này. Thời ấy chúng tôi chủ yếu học và tham khảo văn hóa, âm nhạc Pháp. Nên có thể nói, cả thế hệ nhạc sĩ tiền chiến đều chịu ảnh hưởng âm nhạc Pháp, âm nhạc phương Tây. Giống như Ðặng Thế Phong hay Ðoàn Chuẩn, trước khi sáng tác nhạc tôi là một nhạc công biểu diễn nhiều nơi ở miền Bắc.
Nghĩa là ông hoàn toàn tự học âm nhạc, không trực tiếp "thọ giáo" một ông thầy nào?
Ồ, có chứ. Tôi có theo học một ông thầy dạy nhạc người Pháp tên Banal, nguyên chỉ huy một dàn nhạc Quân đội Pháp. Thời gian tôi theo học khoảng 4 tháng. Kiến thức đa phần là về phối âm, phối khí. Tôi nhớ sau một thời gian dạy nhạc và nghe một vài tác phẩm đầu tay của anh em chúng tôi, thầy Banal có nhận xét đại ý rằng: " Các anh làm nhạc theo khúc thức phương Tây, nhưng có cảm giác như đó không phải là phương Tây mà vẫn là của các anh! "
Theo ông, những nhạc sĩ nào thời tiền chiến có sáng tác sâu đậm hồn dân tộc nhất?
Hai anh Lê Thương và Ðặng Thế Phong. Nhạc sĩ Lê Thương với ba bản Hòn vọng phu mà người Việt nào cũng yêu mến. Còn Ðặng thế Phong là người hết sức tài hoa. Anh chơi được rất nhiều nhạc cụ. Anh sáng tác Giọt mưa thu, Con thuyền không bến từ khi còn rất trẻ. Ðáng tiếc, anh mất quá sớm. Có thể nói sự ra đi của anh là một tổn thất lớn đối với bạn bè và cho cả những người yêu mến âm nhạc VN.
Bây giờ, khi đã vượt qua tuổi "cổ lai hy" từ lâu, không còn sức vóc như ngày xưa nữa, nhưng tình yêu âm nhạc trong lòng nhạc sĩ Dzoãn Mẫn vẫn mãnh liệt như thời trai trẻ lãng mạn phóng túng, thời của:
Biệt ly, ước mong hoàng hôn

Êm đềm về ru ấm tâm hồn

Người yêu đương cách xa dành sống vui cùng gió sương.

Phan Hoàng

(Theo Báo Thanh Niên)
Tham khảo, trích dẫn:

* http://vietnhac.org/baivo/dzoanman.html

* http://www.digital-info.com/luanhoan/

* http://www.phapviet.com





Поделитесь с Вашими друзьями:
1   ...   73   74   75   76   77   78   79   80   ...   230


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương