LôØi noùI ÑAÀU



tải về 1.68 Mb.
trang14/19
Chuyển đổi dữ liệu27.11.2017
Kích1.68 Mb.
#3095
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19

Thiền Sư THANH NGUYÊN

(Đời thứ 41, tông Tào Động)

Thiền sư Thanh Nguyên hiệu Minh Nam, là người viết bài tựa cho sách Pháp Hoa Đề Cương của Thanh Đàm. Hai vị có lẽ cùng một bổn sư và một môn phái. Sau đây là bài kệ của Sư tán dương sách Pháp Hoa Đề Cương:

Hồ xanh trong biếc nảy sen thơm

Kinh mục nêu bày nghĩa đại cương

Minh Chánh nhất thừa đà quảng bá

Đạo trung tâm yếu lại hoằng dương.

Quần phương tỏ ngộ tâm viên tịnh

Đại chúng đồng tham lý vĩnh trường

Thanh tịnh sen kia ngời pháp giới

Tự tính Tỳ-lô khéo xiển dương.

( Bích thanh đàm xuất diệu liên hương

Hoa mục chi tiêu tổng pháp cương

Minh Chánh nhất thừa khai tố quảng

Đạo trung tâm yếu thị hoằng dương.

Quần phương hội ngộ viên tâm tịnh

Chúng đẳng đế quan nhập lý trường

Thanh tịnh liên hoa quang pháp giới

Tỳ-lư tính hải diễn chân thường.)

Bài tựa sách Pháp Hoa Đề Cương được viết vào tháng tám âm lịch năm 1820. Hai chữ Minh Chánh trong bài thơ là pháp hiệu của Thanh Đàm.



Thiền Sư THANH ĐÀM hiệu MINH CHÁNH

(Đời pháp thứ 42, tông Tào Động)

Thiền sư Thanh Đàm hiệu Minh Chánh là Trụ trì chùa Bích Động ở làng Đam Khê, phủ An Khánh, tỉnh Ninh Bình. Người khai sơn chùa Bích Động là hai vị sư Trí Kiên và Trí Thể đến đây năm 1700. Thiền sư Minh Chánh là vị Trụ trì sau này. Sư là đệ tử Thiền sư Đạo Nguyên lúc bấy giờ đang trụ trì thiền viện Nguyệt Quang, một tổ đình của môn phái Chân Nguyên. Sư xuất gia năm 1807, thọ giới cụ túc năm 1810. Khoảng này có lẽ Sư hai mươi hoặc trên hai mươi tuổi.

Sau khi xuất gia, một hôm Sư hỏi Thiền sư Đạo Nguyên:

- Tâm không phải ở trong thân, cũng không phải ở ngoài thân, cũng không phải ở chặng giữa, vậy rốt cuộc tâm ở chỗ nào ?

Đạo Nguyên cười xoa đầu Sư và nói bài kệ:

Theo thời ứng dụng,

Gặp vật thấy cơ,

Tánh vốn như như,

Nào ngại trong ngoài.

( Tùy thời ứng dụng,

Ngộ vật kiến cơ,

Tánh bản như như,

Hà quan nội ngoại.)

Ngày thọ giới cụ túc, Sư cũng được Đạo Nguyên cho một bài kệ:

Quang phóng giữa mày không phải Phật,

Dưới chân mây trắng chẳng là Tiên.

Bảo ông nuôi dưỡng trâu cường tráng,

Hôm sớm cày sâu mảnh ruộng nhà.

( Quang phóng mi gian vô đạo Phật,

Vân sinh túc hạ vị ngôn tiên.

Nhiêu quân bảo dưỡng ngưu nhi tráng,

Triêu tịch thục canh bỉ thốn điền.)

Đến năm 1819, Sư sáng tác sách Pháp Hoa Đề Cương tại viện Liêm Khê. Trong đây, Sư có đặt ra một số câu hỏi để giải thích về Diệu tâm như:

Hỏi: Tại sao không chỉ thẳng cái thứ nhất là Diệu Tâm xưa nay, mà lại chỉ cái thứ hai là căn tánh để làm phương tiện tu hành ?

Đáp: Tâm vốn vô hình, làm sao mà chỉ ? Trước kia tôi đã nói một lần rồi, ngôn thuyết và biểu thị, không nắm được tâm. Tuy vậy, dù tâm vô hình, nhưng sự ứng dụng của tâm lại có vết tích, vì có vết tích nên có thể chỉ bày khiến cho người tu học có thể nhìn vết tích của sự ứng dụng, do ánh sáng ấy mà về được tâm.

Hỏi: Dấu vết ấy ở đâu ?

Đáp: Ở trên đối tượng lục trần. Do sắc mà có cái thấy, do thanh mà có cái nghe, lục trần là dấu vết ứng dụng của lục căn. Nay muốn nắm được dấu vết của căn thì phải quan sát cái thấy cái nghe nơi đối tượng sắc thanh. Nên biết rằng công dụng của căn là công dụng của tâm, căn nhận biết là tâm nhận biết; cái khác nhau là căn có tới sáu công dụng, mà tâm chỉ có một bản thể tinh minh. Chư Phật truyền nhau là căn pháp này, các vị Tổ truyền nhau là tâm tông ấy. Đó là bí quyết mà các kinh điển chỉ bày để được căn bản trí. Pháp ấn truyền trao qua lại các thời đại cũng lấy cái ấy để phát giác sơ tâm. Chứng ngộ mau hay chậm là vì căn cơ rộng hay hẹp...

Hỏi: Tâm ấn làm sao mà truyền ?

Đáp: Đức Thế Tôn đưa lên một cành hoa, Ca-diếp mỉm cười, sau đó các Tổ truyền lại, gìn giữ, trường hợp khác nhau, chỉ có người giác ngộ mới tự biết.

Hỏi: Tu làm sao ?

Đáp: Thôi! Thôi! Đó là phương pháp, Thiền sư Đạo Xuyên nói:

Tri âm, tự khắc tùng theo gió,

Trăng trong gió mát đất trời nhàn.

Lại nói:


Nắm được ở tâm,

Ứng được nơi tay

Tuyết gió hoa trăng

Trời đất lâu dài.

Cứ hễ canh năm gà gáy sáng,

Xuân về hoa núi nở ngàn nơi.

Hỏi: Mục đích tối hậu là gì ?

Đáp: Hòa thượng Phổ Hóa nói: “Tìm chỗ đi tới không được...” Thôi xin chào, xin chào! Có bài kệ về pháp như sau:

Vạn pháp tuy nhiều không đếm xiết

Chung qui cũng chỉ thức căn trần.

Huyễn duyên dư ảnh dù không thực

Chân tri chánh kiến vẫn bao dung.

Gặp thầy chỉ dạy đường mê ngộ

Thấy Phật tìm ra lẽ sắc không

Nếu muốn lên mau bờ bến giác,

Con đường trước mặt chớ lần khân.

Năm 1843, Sư sáng tác sách Tâm Kinh Trực Giải. Sư có niêm tụng đề tài Thuần Đà như sau:

Niệâm:


Hay lắm, Thuần Đà !

Hay lắm, Thuần Đà !

Tụng:

Không nói ngắn chẳng nói dài,



Ngắn dài, tốt xấu thảy đều sai.

Tìm hay, lại hóa người chê vụng,

Bắn sẻ ai dè sói chực ngay.

Công danh cái thế màn sương sớm,

Phú quí kinh nhân giấc mộng dài.

Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật,

Công lao uổng phí một đời ai.

Bài thơ ngộ nghĩnh nhất của Sư là bài thơ Tìm Tâm, có âm hưởng tiếng trống đánh:

Ngang lưng đeo trống đối tri âm,

Duỗi thẳng hai tay, đánh trống tâm.

Tập tập tìm tâm, tâm tất tập,

Tìm tâm, tâm tập, tập tìm tâm.

*

Âm thanh hợp vận, âm trùng họa,



Tịch chiếu tâm tông, tức tập tâm.

Trăng sáng, gió thanh thường tự tại,

Tìm tâm chẳng được, nghỉ tìm tâm.

*

Thôi nhé, tâm ta chẳng thể tầm,



Tìm tâm dẫu được, chẳng chân tâm.

Mang đèn xin lửa thêm điên đảo,

Thà đứng bên song hát khúc ngâm.

( Kiên kình yêu cổ đối tri âm,

Thư thủ vô vi phách cổ tâm.

Tập tập tầm tâm tâm tắc tập,

Tầm tâm tâm tập, tập tầm tâm.

*

Cổ thanh hợp vận tùng thanh họa,



Tịch chiếu tâm tông tức tập tầm.

Minh nguyệt thanh phong trường tự tại,

Tầm tâm bất đắc, tức tầm tâm.

*

Chỉ chỉ ! ngộ tâm bất khả tầm,



Tầm tâm túng đắc tắc phi tâm.

Tương đăng cầu hỏa tư điên đảo,

Bất nhược song tiền thủ nhất ngâm.)

Sư cũng thuộc về phái Trúc Lâm. Không biết Sư tịch ở đâu và vào lúc nào.



Thiền Sư NHƯ NHƯ

(TỔ QUẠ)-(Đời thứ 45, tông Tào Động)

Ngài pháp húy Quang Lư, Thích Đường Đường, hiệu Như Như, không rõ năm sanh và năm tịch. Chỉ biết Ngài thuộc hệ phái chùa Hồng Phúc (Hòe Nhai) đời thứ 9 và thứ 45 tông Tào Động. Ngài lập chùa Thiên Trúc (Mễ Trì, Hà Nội) và trụ trì tại đây. Công hạnh của Ngài, chúng ta không thấy ghi trong sử, chỉ thấy trong bài ca của dân gian kể lại công đức của Ngài. Bài ca:

Thuở xưa có Nguyễn Thế Tôn (Trong bài ca câu đầu để “Lê Thế Tôn”, song xét kỹ là “Nguyễn Thế Tôn” đúng hơn. Có lẽ thời Ngài trụ trì vào đời Nguyễn Thánh Tổ (Minh Mạng 1820-1840) nên nói “Nguyễn Thế Tôn”.)

Trị vì Thiên tử dân an thái bình.

Làng ta có Tổ chứng minh,

Ở chùa Thiên Trúc dân tình vẻ vang.

Nam nữ tráng thọ vinh quang,

Giàu sang đức độ hiếu trung đôi đường.

Những khi con bé bận vương,

Đi ra ngoài đường cày cấy quanh năm.

Đem con gởi Tổ trông thăm,

Tổ vẽ một vòng mỗi cháu một ô.

Chẳng khóc, chẳng bậy, chẳng xô,

Tới giờ Tổ gọi môn đồ cho ăn.

Cơm ăn chẳng phải hồ đồ,

Tổ cho các cháu, quạ xô lại nhiều.

Tổ thường bố thí cho đều,

Hằng ngày quạ đến càng nhiều càng đông.

Tổ đặt tiêu quạ rất công,

Cơm nào con ấy, một lòng tuân theo.

Khi ăn Tổ gọi một lèo,

Xếp hàng răm rắp tuân theo lời Ngài.

Tổ đem ghi chép một loài,

Chia ra từng tổ không sai tí nào.

Mật thám dạo cảnh đi vào,

Hiên ngang cậy chức quyền cao đó là.

Hoạnh Tổ tại cớ làm sao,

Các tên danh sách ghi vào ở đây ?

Tổ rằng thực tế nói hay,

Bọn lũ quạ này có nghĩa có trung,

Vì vậy tôi chẳng phụ lòng,

Ghi tên để dạy theo lòng từ bi.

Mật thám tức giận bỏ đi,

Đem về báo cáo vua thì nghe theo.

Nghe lời xảo trá nói điêu,

Bảo Tổ lập điều phản trái nhà vua.

Sau về bắt Tổ ra tòa,

Quạ lớn quạ bé biết là bao nhiêu.

Kêu la ầm ĩ rất nhiều,

Nhà vua thấy thế khác điều lạ thay !

Hỏi Tổ, Tổ lại trình bày,

Nhà vua thấy thế tha ngay cho về.

Tổ rằng mọi việc đề huề,

Ai bắt tôi, về nói lại tôi hay.

Khi người nói lại trình bày,

Tổ về quạ hết chẳng bay con nào.

Thực là công đức biết bao,

Ơn sâu đức trọng kể sao cho bằng.

Vì vậy tên Tổ tiếng tăm,

Tên là Tổ Quạ nghìn năm vẫn còn.

Bút tích ghi rõ màu son,

Ngày nay kỷ niệm chúng con trình bày.

Nguyện xin Tổ chứng tâm này,

Có lầm, có lỗi, Tổ nay xá cùng.

Chúng con xin dốc một lòng,

Tu hành tới đạo báo ân cho người.

Đọc bài ca này, chúng ta thấy người dân vùng này kính mộ đức hạnh của Ngài đến độ nào. Ngài tịch ngày 20 tháng 7, tháp hiệu là Quỳnh Trân.



Thiền Sư AN THIỀN

Ông là tác giả Tam Giáo Thông Khảo. Sách cũng có tên Đạo Giáo Nguyên Lưu, được biên tập vào khoảng giữa thế kỷ thứ mười chín, trong thời gian vua Thiệu Trị còn tại vị. Thiền sư An Thiền trú trì tại chùa Đại Giác ở làng Bồ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Sách Tam Giáo Thông Khảo gồm ba quyển. Có lẽ sách được in năm 1845, bởi vì đầu sách có một bài tựa ký tên Nguyễn Đại Phương, viết vào năm 1845.

Quyển thứ nhất nói về đạo Phật, gồm có những mục sau đây:

1/ Phụng chiếu cầu pháp: Việc du học của Thiền sư Tính Tuyền Trạm Công.

2/ Bản Quốc Thiền Môn kinh bản: Các bản kinh khắc ở Việt Nam.

3/ Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi: Khởi thủy Thiền học Việt Nam.

4/ Đại Nam Phật Tháp: Các tháp Phật ở Việt Nam.

5/ Vô Ngôn Thông truyền pháp: Thiền phái Vô Ngôn Thông.

6/ Danh chấn triều đình: Các cao tăng nổi tiếng ở triều đình.

7/ Lê Triều Danh Đức: Các cao tăng đời Tiền Lê.

8/ Lý Triều Danh Đức: Các cao tăng đời Lý.

9/ Trần Triều Danh Đức: Các cao tăng đời Trần.

10/ Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền pháp: Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi.

11/ Tuyết Đậu truyền pháp: Thiền phái Thảo Đường.

12/ Những việc thần bí liên quan đến các Thiền sư Việt Nam qua các triều đại.

13/ Danh từ Phật học và các thần thoại Phật giáo ở Trung Hoa và Việt Nam.

Quyển thứ hai và quyển thứ ba nói về Khổng và Lão giáo.



TÔNG LÂM TẾ TRUYỀN SANG MIỀN BẮC VIỆT NAM



(ĐÀNG NGOÀI)

Hòa Thượng CHUYẾT CÔNG

(1590 - 1644)-(Đời pháp thứ 34, tông Lâm Tế)

Sư quê ở Tiệm Sơn tỉnh Phước Kiến, Trung Hoa. Mẹ Sư nằm mộng thấy từ rốn mọc lên một hoa sen, rồi có thai Sư. Sư ở trong thai mẹ đến ba năm mới sanh. Thuở bé, Sư thông minh dĩnh ngộ, học thông cả ngũ kinh tứ thơ. Kế đi xuất gia lão thông tam tạng giáo điển.

Ban đầu Sư đến tham vấn với Trưởng Lão ở Tiệm Sơn. Trưởng Lão hỏi:

- Ngươi tạo sự nghiệp gì ?

Sư thưa:- Giúp vua cứu dân.

Trưởng Lão khen:

- Lành thay ! Đây là chí xung thiên, song chẳng qua còn tham danh lợi. Lão sẽ cố gắng xem.

Sư do luận về công danh được tỉnh ngộ.

Sau Sư đến yết kiến Hòa thượng Tăng Đà Đà ở Nam Sơn. Hòa thượng thấy Sư thông minh mẫn tiệp bèn hứa nhận. Ngài bảo chúng rằng: “Ngày khác ta sẽ nhường chỗ cho kẻ này, y sẽ bước khỏûi đầu sào trăm trượng.” Ngài bèn đem yếu chỉ tâm tông dạy cho Sư.

Sau khi Sư đắc pháp vân du khắp nước, giáo hóa mười phương. Học giả đương thời đều quí kính Sư. Danh tiếng của Sư vang khắp tùng lâm.

Sư sang Việt Nam đến kinh thành Thăng Long năm 1633, thầy trò ở lại chùa Khán Sơn và bắt đầu giảng dạy Phật pháp. Người đến học gồm cả Hoa và Việt. Sau thời gian, Sư dời về chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, cách kinh thành khoảng ba mươi cây số. Trong thời gian giáo hóa ở đây, Sư được chúa Trịnh Tráng rất quí mến, xem như bậc thầy. Vua Lê Huyền Tông và các bậc công hầu cũng đều rất kính trọng. Thời gian sau, vì chúa Trịnh Tráng muốn có thêm kinh điển Phật giáo để lưu hành trong nước, cho nên Sư sai đệ tử là Minh Hành trở về Trung Hoa để thỉnh kinh. Những kinh điển thỉnh về được an trí tại chùa Phật Tích.

Sau khi Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc Diệu Viên hiệu Pháp Tánh và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên Diệu Tuệ xuất gia tại chùa Phật Tích, chúa Trịnh Tráng bắt đầu cho trùng tu lại chùa Ninh Phúc cũng gọi là chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Khi việc trùng tu hoàn tất, Sư được mời về trụ trì chùa Ninh Phúc cho đến khi viên tịch.

Ở Việt Nam, Sư giáo hóa được những đệ tử cốt cán như Thiền sư Minh Lương (người Việt), Minh Hành (người Hoa) v.v... xứng đáng hàng tiếp nối ngọn đèn chánh pháp.

Khi sắp tịch, Sư gọi chúng lại nói kệ dạy:

Tre gầy thông vót nước rơi thơm

Gió thoảng trăng non mát rờn rờn

Nguyên Tây ai ở người nào biết?

Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.

Sấu trúc trường tùng trích thúy hương

Lưu phong sơ nguyệt độ vi lương

Bất tri thùy trụ Nguyên Tây tự

Mỗi nhật chung thanh tống tịch dương). [Bài kệ này có thấy trong Kiến Văn Tiểu Lục của Lê Quí Đôn do Hương Hải Thiền Sư đọc dạy chúng. Hai bên chỉ khác nhau có ba chữ. Ở đây câu một chữ Thúy bên kia chữ Thủy, câu ba Nguyên Tây tự, Hư Thanh tự]

Nói kệ xong, Sư bảo đại chúng:

- Nếu ai động tâm khóc lóc không phải đệ tử của ta.

Sư ngồi yên thị tịch, mùi hương lạ đầy chùa cả tháng mới tan.

Sư tịch ngày rằm tháng 7 năm Giáp Thân (1644), thọ 55 tuổi. Vua Lê Chân Tông phong hiệu là Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư. Đệ tử là Thiền sư Minh Hành lập tháp Báo Nghiêm để an trí nhục thân Sư. Trên đỉnh tháp có hình cây bút do Minh Hành dựng.



Thiền Sư MINH HÀNH

(1596 - 1659)-(Đời pháp thứ 35, tông Lâm Tế)

Thiền sư Minh Hành pháp hiệu là Tại Tại, người phủ Kiến Xương, tỉnh Giang Tây. Sư theo thầy là Thiền sư Chuyết Chuyết sang Việt Nam, đến kinh thành Thăng Long năm 1633, là một cánh tay trợ giúp thầy giáo hóa.

Năm 1644, khi Thiền sư Chuyết Chuyết tịch, Sư thay thế trụ trì chùa Ninh Phúc. Đến năm 1659, Sư tịch, thọ 64 tuổi. Môn đồ xây tháp thờ tại chùa Ninh Phúc, tháp hiệu Tôn Đức.

Sư có hai vị đệ tử là Chân Trú và Diệu Tuệ. Chân Trú trụ trì chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, còn Diệu Tuệ trụ trì chùa Phật Tích. Sư có đề bài kệ truyền pháp như sau:

Minh chân như tánh hải

Kim tường phổ chiếu thông

Chí đạo thành chánh quả

Giác ngộ chứng chân không.



Thiền Sư MINH LƯƠNG

(Đời pháp thứ 35, tông Lâm Tế)

Sư ở núi Phù Lãng, nghe Hòa thượng Chuyết Công từ Trung Hoa sang, bác thông kinh sử, thấu triệt tâm tông, nên Sư tìm đến tham vấn. Sư hỏi:

- Khi sanh tử đến phải làm sao trốn tránh ?

Chuyết Công đáp:- Chọn lấy nơi không sanh tử trốn tránh.

Sư hỏi:- Thế nào là nơi không sanh tử ?

Chuyết Công đáp:- Ở trong sanh tử nhận lấy mới được.

Nghe nói thế Sư vẫn chưa ngộ.

Chuyết Công bảo:- Hãy lui đi, đợi chiều sẽ đến.

Sư giữ đúng hẹn, chiều lại vào phương trượng.

Chuyết Công bảo:- Đợi sáng mai chúng sẽ vì ngươi minh chứng.

Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, sụp xuống lạy. Chuyết Công hứa khả và truyền tâm ấn cho.

Sau khi đắc pháp, Sư trở về trụ trì chùa Vĩnh Phúc núi Côn Cương ở Phù Lãng để truyền bá chánh pháp.

Đến khi sắp tịch, Sư truyền pháp cho Thiền sư Chân Nguyên, nói kệ rằng:

Ngọc quí ẩn trong đá

Hoa sen mọc từ bùn

Nên biết chỗ sanh tử

Ngộ vốn thật Bồ-đề.

(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch

Liên hoa xuất ứ nê

Tu tri sanh tử xứ

Ngộ thị tức Bồ-đề.)

Trao kệ xong, Sư bảo đệ tử: “Nay ta trở về.” Nói dứt lời, Sư thị tịch. Đệ tử xây tháp ở núi Phù Lãng thờ Sư.



Thiền Sư CHÂN NGUYÊN pháp danh TUỆ ĐĂNG

(1647 - 1726)-(Đời pháp thứ 36, tông Lâm Tế)

Sư họ Nguyễn tên Nghiêm, tên chữ là Đình Lân, mẹ họ Phạm quê ở làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Một hôm, mẹ Sư nằm mộng thấy cụ già cho một hoa sen, sực tỉnh dậy, từ đây biết có mang. Năm Đinh Hợi (1647), tháng 9 ngày 11 giờ ngọ, mẹ sinh ra Sư. Lớn lên theo học với cậu là ông Giám Sinh. Sư rất thông minh, hạ bút là thành văn. Năm 16 tuổi, Sư đọc quyển Tam Tổ Thực Lục, đến Tổ thứ ba là Huyền Quang liền tỉnh ngộ nói: “Cổ nhân ngày xưa dọc ngang lừng lẫy mà còn chán sự công danh, huống ta là một chú học trò.” Sư liền phát nguyện đi tu.

Năm 19 tuổi, Sư lên chùa Hoa Yên vào yết kiến Thiền sư Tuệ Nguyệt (Chân Trú).

Thiền sư Tuệ Nguyệt hỏi:- Ngươi ở đâu đến đây ?

Sư thưa:- Vốn không đi lại.

Tuệ Nguyệt biết Sư là pháp khí sau này, bèn thế phát xuất gia cho pháp danh là Tuệ Đăng. Sau không bao lâu Tuệ Nguyệt tịch. Sư cùng bạn đồng liêu là Như Niệm phát nguyện tu hạnh đầu-đà đi du phương để tham vấn Phật pháp . Thời gian sau, Như Niệm đổi ý trở về trụ trì chùa Cô Tiên. Sư đi lên chùa Vĩnh Phúc ở núi Côn Cương tham vấn Thiền sư Minh Lương là đệ tử của Chuyết Chuyết.

Sư hỏi:

- “Bao năm dồn chứa ngọc trong đãy, hôm nay tận mặt thấy thế nào” là sao ?

Thiền sư Minh Lương đưa mắt nhìn thẳng vào Sư, Sư nhìn lại, liền cảm ngộ, sụp xuống lạy. Minh Lương bảo:

- Dòng thiền Lâm Tế trao cho ông, ông nên kế thừa làm thạnh ở đời.

Minh Lương đặt cho Sư pháp hiệu là Chân Nguyên và bài kệ phó pháp:

Ngọc quý ẩn trong đá

Hoa sen mọc từ bùn

Nên biết chỗ sinh tử

Ngộ vốn thậät Bồ-đề.

(Mỹ ngọc tàng ngoan thạch

Liên hoa xuất ứ nê

Tu tri sinh tử xứ

Ngộ thị tức Bồ-đề.)

Chính vì chỗ ngộ này, sau Sư soạn quyển “Trần Triều Thiền Tôn Chỉ Nam Truyền Tâm Quốc Ngữ Hành” có cả thảy bảy lần nói về “Tứ mục tương cố” (bốn mắt nhìn nhau). Những đoạn như sau:

Đoạn I:

Tứ mục tương cố nhãn đồng



Thầy tớ trao lòng, đăng chúc giao huy,

Bổng đầu cử nhãn ấn tri

Cơ quan thấu được thực thì tri âm.

Đoạn II:


Tam thế chư Phật Tổ sư

Tứ mục tương cố thị cừ thiền cơ.

Đoạn III:

Hiện ra nhãn nhĩ thanh âm

Tứ mục tương cố chẳng tâm thời gì ?

Tâm nguyên không tịch vô vi

Ngộ được tức thì quả chứng Như Lai.

Đoạn IV:


Bát tự đả khai bằng nay

Tứ mục tương cố lộ bày viên dung

Ấy là mật ấn tâm tông

Tổ đã truyền lòng chớ có hồ nghi.

Đoạn V:

Tam thế chư Phật Như Lai



Tứ mục tương cố muôn đời chứng thân.
Đoạn VI:

Bảo thực cứu cánh cho hay

Tứ mục tương cố thực rày ấn tâm.

Đoạn VII:

Hóa Phật thọ ký vô biên

Tứ mục tương cố mật truyền tâm tông.

Trong bài “Ngộ Đạo Nhân Duyên” có đoạn Sư viết:

Một ngọn đèn tâm mắt Phật sinh,

Truyền nhau “bốn mắt ngó” phân minh.

Ngọn đèn mãi nối sáng vô tận,

Trao gởi thiền lâm dạy hữu tình.

(Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sinh,

Tương truyền tứ mục cố phân minh.

Liên phương tục diệm quang vô tận,

Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình.)

Sau khi được tâm ấn rồi, Sư thọ giới Tỳ-kheo. Một năm sau, Sư lập đàn thỉnh ba đức Phật (Phật Thích-ca, Di-đà, Di-lặc) chứng đàn, thọ giới Bồ-tát và đốt hai ngón tay nguyện hành hạnh Bồ-tát. Về sau, Sư được truyền thừa y bát Trúc Lâm, làm Trụ trì chùa Long Động và chùa Quỳnh Lâm, là hai ngôi chùa lớn của phái Trúc Lâm.

Năm 1684, Sư dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa tại chùa Quỳnh Lâm theo kiểu mẫu đài Cửu Phẩm Liên Hoa mà Thiền sư Huyền Quang đã dựng trước kia ở chùa Ninh Phúc.

Năm 1692, lúc 46 tuổi, Sư được vua Lê Hy Tông triệu vào cung để tham vấn Phật pháp. Vua khâm phục tài đức Sư, ban cho Sư hiệu Vô Thượng Công và cúng dàng áo ca-sa cùng những pháp khí để thừa tự.

Năm 1722, lúc 76 tuổi, Sư được vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng Thống và ban hiệu Chánh Giác Hòa Thượng.

Đến năm 1726, Sư triệu tập đệ tử dặn dò và nói kệ truyền pháp, kệ rằng:

Bày hiện rõ ràng được suốt ngày,

Đây là tự tánh mặc phô bày.

Chân thường ứng dụng sáu căn thấy,

Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay.

(Hiển hách phân minh thập nhị thì,

Thử chi tự tánh nhậm thi vi.

Lục căn vận dụng chân thường kiến,

Vạn pháp tung hoành chánh biến tri.)

Nói kệ xong, Sư bảo chúng: “Ta đã 80 tuổi, sắp về cõi Phật.” Đến tháng mười, Sư nhuốm bệnh, đến sáng ngày 28 viên tịch, thọ 80 tuổi. Môn đồ làm lễ hỏa táng thu xá-lợi chia thờ hai tháp ở chùa Quỳnh Lâm và chùa Long Động, tháp hiệu Tịch Quang. Sư là người khôi phục lại thiền phái Trúc Lâm.

Tác phẩm của Sư có:

1/ Tôn Sư Pháp Sách Đăng Đàn Thọ Giới

2/ Nghênh Sư Duyệt Định Khoa

3/ Long Thư Tịnh Độ Văn

4/ Long Thư Tịnh Độ Luận Bạt Hậu Tự

5/ Tịnh Độ Yếu Nghĩa

6/ Ngộ Đạo Nhân Duyên

7/ Thiền Tông Bản Hạnh

8/ Nam Hải Quan Âm Bản Hạnh

9/ Thiền Tịch Phú

10/ Đạt Na Thái Tử Hạnh

11/ Hồng Mông Hạnh

12/ Kiến tánh thành Phật.



Phụ bản: THIỀN TỊCH PHÚ

Vui thay tu đạo Thích !

Vui thay tu đạo Thích !

Lọ phải thành đô,

Nào nề tuyền thạch.

Dù ngồi nơi cảnh trí danh lam,

Hoặc ở chốn chùa chiền cổ tích,

Đâu cũng dòng phước đức trang nghiêm.

Đây cũng vốn tu công thiền tịch.

Trước án tiền, đẳng kinh ba bức, tố khảm mã não, xa cừ;

Trên thượng điện, thánh tượng mấy tòa, vẽ vàng san-hô, hổ phách.

Thần Bát bộ Kim Cương đứng chấp, trấn phò vua ai thấy chẳng kinh;

Tượng tam thân bảo tướng ngồi bày, ủng hộ chúa cõi nào dám địch.

Tả A-nan đại sĩ vận sa hoa sặc sỡ vân vi;

Hữu Thổ địa Long thần, mặc áo gấm lổ lang xốc xếch.

Am thờ Tổ, ngói rập gỗ dăm,

Nhà trú tăng, vách vôi tường gạch.

Mấy bức kẻ chữ triện mặc rời,

Bốn bên nhiễu câu lan sóc sách.

Gác rộng thênh chuông đưa vài chập, niệm Nam-mô,nhẹ tiếng boong boong.

Lầu cao tót trống dậy mấy hồi, đọc thần chú khu tang cách cách.

Phướn tràng phan nhuộm vàng khè, lúc gió đưa phất phới nhởn nhơ;

Dù bóng boong dạng đen sì, khi trập mở nhập nhu thì thích.

Sư quân tử cấy trúc ngô đồng,

Đệ trượng phu trồng thông tùng bách.

Trăm thức hoa đua nở kề hiên,

Bảy giống báu chất đầy kẻ ngạch.

Ngào ngạt mùi xạ lan,

Thơm tho hương trầm bạch.

*

Sãi chưng nay



Mộ đạo tu hành

Xả đường kinh lịch.

Chí dốc nên Phật Tổ siêu thăng,

Lòng nguyện độ chúng sanh trầm nịch.

Đêm đông trường, khi mật niệm, gióng tiếng chuông thánh thót lênh kênh;

Ngày hạ tiết, lúc tụng kinh, nện dùi mõ khoan mau lịch kịch.

Chỉn chuộng một bề đạo đức,

Miệng chẳng hiềm ăn đắng ăn cay;

Vốn yêu hai chữ từ bi, thân nào quản mặc lành mặc rách.

Khi dưa giấm chua lòm,

Bữa canh suông lạt thếch.

Mũ viền sô nhuộm mực đen sì.

Quần áo vải nâu sòng cũ rích.

Tham tài ái sắc, chẳng bao màng thói tục kiêu ngoa;

Cầu đạo xả thân, vốn giữ nếp nhà thiền cục kịch.

Túi để đựng kinh chứa sách, túi nào dùng vóc cải móng rồng;

Dép đi đỡ bụi cách trần, dép chẳng chuộng da tàu hàm ếch.

Gậy nương chống đi dong dặm tuyết, gậy chẳng cầu khúc khuỷu cong queo;

Bầu để đựng chứa nước cam lồ, bầu lọ phải ngòng ngoèo ngốc nghếch.

Quảy bồ tre cầm quạt trúc, nào có hiềm nan cật to đề;

Ngồi chiếu lát tựa giường song, cũng chẳng quản dá ken thưa thếch.

Chơi rừng Nho len lỏi suối khe,

Dạo bể Thích luồn tuôn ngòi lạch.

Trà bát đức sẵn đà lưu loát, chẳng phải lo củi nấu kỳ cầm;

Bánh tam thừa vốn đã chứa chan, nào có nhọc bột đâm thì thịch.

Quả bồ-đề ăn ngọt sớt, muôn kiếp hằng no;

Hoa Ưu-bát ngửi thơm tho, ngàn đời chẳng dịch.

Sang Tây phương bệ ngọc đứng chơi,

Về Đông độ tòa vàng ngồi trịch.

Bè từ bi thênh thênh rộng rãi, mặc sức chở người;

Thuyền Bát-nhã thăm thẳm bao la, dầu lòng độ khách.

Sãi chưng nay

Khuyên đấng đại thừa,

Bảo loài tiểu chích.

May gặp được minh sư đạo đức, một phen liền biết, nào hề chi chữ nghĩa tìm đòi;

Phúc lại thấy tri thức bạn lành, mấy chốc mà nên, lọ là phải văn chương ngóc ngách.

Thích-ca Phật Tổ năng kiến tánh, ngồi Tuyết Sơn, khô khẳng gầy gò;

Di-lặc Tiên Quang bởi vô tâm, đi vân thủy đẫy đà phục phịch.

Đức Huệ Năng bát nguyệt thung phường,

Tổ Đạt-ma cửu niên diện bích,

Thần Quang đoạn tý, lúc còn mê, mặt ngó đăm đăm;

Ca-diếp nhãn đồng, thoắt chốc ngộ, miệng cười hệch hệch.

Dầu người quyết lòng học đạo, hỏi cho hay sừng thỏ lông rùa;

Hoặc kẻ dốc chí chân tu, xem cho biết đầu sò tai ếch.

Khuyên người ở đời đừng bắt chước sự đời, trước không, sau lại về không, nữa luống công nghĩ tiếc khuâng khuâng;

Bảo kẻ có chí phải theo đòi thánh chí, nhân đà tỏ, quả càng thêm tỏ, rồi đắc ý cười riêng khích khích.




tải về 1.68 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   11   12   13   14   15   16   17   18   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương