LôØi noùI ÑAÀU


Dịch: KHÚC HÁT ĐIÊN QUÀNG



tải về 1.68 Mb.
trang10/19
Chuyển đổi dữ liệu27.11.2017
Kích1.68 Mb.
#3095
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   19

Dịch: KHÚC HÁT ĐIÊN QUÀNG

Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang

Chống gậy chơi rong chừ phương ngoài phương

Hoặc cao cao chừ mây đảnh núi

Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

Đói thì ăn chừ cơm mười phương góp

Mệt thì ngủ chừ nơi chẳng quê hương

Hứng lên chừ thổi sáo không lỗ

Lặng xuống chừ đốt giải thoát hương.

Mỏi nghỉ chút chừ đất hoan hỉ

Khát uống no chừ tiêu dao thang

Qui Sơn láng giềng chừ chăn con trâu nước

Tạ Tam đồng thuyền chừ thổi khúc thương lang.

Thăm Tào Khê chừ ra mắt Lư Thị

Viếng Thạch Đầu chừ sánh lão Bàng

Vui ta vui chừ Bố Đại vui sướng

Điên ta điên chừ Phổ Hóa điên gàn.

Chà chà, bóng ngày chừ qua khe cửa

Ối ối, mây nổi chừ mộng giàu sang

Chịu sao chừ thói đời ấm lạnh

Đi chi chừ gai góc đường quan.

Sâu xoắn áo chừ cạn nhón gót

Dùng phô ra chừ bỏ ẩn tàng.

Buông bốn đại chừ đừng nắm bắt

Tỉnh một đời chừ thôi chạy quàng.

Thỏa nguyện ta chừ được ngã sở

Sống chết bức nhau chừ ta vẫn như thường.

3. SANH TỬ NHÀN NHI DĨ

Tâm chi sanh hề sanh tử sanh

Tâm chi diệt hề sanh tử diệt

Sanh tử nguyên lai tự tánh không

Thử huyễn hóa thân diệc đương diệt.

Phiền não bồ-đề ám tiêu ma

Địa ngục thiên đường tự khô kiệt

Hoạch thang lô thán đốn thanh lương

Kiếm thọ đao sơn lập tồi chiết.

Thanh văn tọa thiền ngã vô tọa

Bồ-tát thuyết pháp ngã thực thuyết.

Sanh tự vọng sanh, tử vọng tử

Tứ đại bổn không tùng hà khởi.

Mạc vi khát lộc sấn dương diệm

Đông tẩu tây trì vô tạm dĩ

Pháp thân vô khứ diệc vô lai

Chân tánh vô phi diệc vô thị.

Đáo gia tu tri bãi vấn trình

Kiến nguyệt an năng khổ tầm chỉ

Ngu nhân điên đảo bố sanh tử

Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ.

Dịch : SỐNG CHẾT NHÀN MÀ THÔI

Tâm mà sanh chừ sanh tử sanh

Tâm mà diệt chừ sanh tử diệt

Sanh tử xưa nay vốn tánh không

Thân huyễn hóa này rồi cũng diệt.

Phiền não bồ-đề bỗng mất tiêu

Địa ngục thiên đường tự khô kiệt

Chảo dầu lò lửa chợt mát liền

Núi kiếm rừng đao chốc gãy hết.

Thanh văn ngồi thiền ta không ngồi

Bồ-tát nói pháp ta nói thiệt

Sanh dối sanh chết dối chết

Bốn đại vốn không nương đâu dấy.

Chớ như hươu khát đuổi bóng nắng

Nắm đông bắt tây không ngớt chạy

Pháp thân không lại cũng không qua

Chân tánh chẳng phải cũng chẳng quấy.

Đến nhà thôi chớ hỏi đường chi

Thấy nguyệt tìm gì ngón tay ấy

Kẻ ngu sống chết mãi lo âu

Người trí rõ không nhàn thôi vậy.

4. PHÀM THÁNH BẤT DỊ

Thân tùng vô tướng bản lai không

Huyễn hóa phân sai thành nhị kiến

Ngã nhân tợ lộ diệc tợ sương

Phàm thánh như lôi diệc như điện.

Công danh phú quí đẳng phù vân

Thân thế quang âm nhược phi tiễn

Miết khởi tinh nhi tắng ái tình

Tợ mịch man đầu nhi khí miến

Mi mao tiêm hoành tỷ khổng thùy

Phật dữ chúng sanh đô nhất diện

Thục thị phàm hề thục thị thánh

Quảng kiếp sưu tầm một căn tánh.

Phi tâm vô thị diệc vô phi

Vô kiến phi tà diệc phi chánh

Quảng Ngạch đồ nhi quả nguyện vương

Khánh Hỷ tỳ-kheo công đức thánh.

Giác tha giác tự bạt mê đồ

Biến giới thanh lương tô nhiệt bệnh.

Quân bất kiến

Tiền thất giả thị a thùy ?

Hậu đắc giả hựu thị thùy ?

Lưỡng giá ban tâm nhất ban mạng

Đáo đầu bát vạn tứ thiên đà-la-ni chi pháp môn

Đồng nhiếp nhập Như Lai quảng đại viên trí chi kính.

Đốt !.


Dịch: PHÀM THÁNH CHẲNG HAI

Thân từ vô tướng xưa nay không

Giả dối nên chia thành “nhị kiến”

Ta người như móc cũng như sương

Phàm thánh như sấm cũng như điện.

Giàu sang sự nghiệp đám mây trôi

Ngày tháng tên bay thân thế huyễn

Chút tình thương ghét thoáng xẹt qua

Khác nào bỏ bột đi tìm bánh.

Mày ngang mũi dọc cũng như nhau

Phật với chúng sanh đồng sắc mặt

Ai là phàm chừ ai là thánh

Muôn kiếp kiếm tìm mất căn tánh.

Không tâm thì không phải cùng không quấy

Chẳng kiến thì không tà cũng không chánh

Đồ tể Quảng Ngạch: tròn nguyện vương [Đồ tể Quảng Ngạch là anh chàng làm hàng thịt, khi nghe Phật nói kinh Đại Bát Niết-bàn liền ngộ đạo thành chánh quả. Trong kinh Đại Niết-bàn nói rõ.]

Tỳ-kheo Khánh Hỷ: công đức thánh [Khánh Hỷ là ngài A-nan đệ tử đa văn bậc nhất của Phật.]

Giác ta giác người khỏi đường mê

Mát rượi mười phương dứt tật bệnh.

Anh thấy chăng

Người mất trước đó là ai ?

Người được sau đó là ai ?

Hai tâm sai khác chung dòng mạng

Rốt cùng tám vạn bốn ngàn pháp môn đà-la-ni

Cùng nhiếp vào gương tròn đầy rộng lớn trí Như Lai.

Đốt !


5. THƯỢNG PHƯỚC ĐƯỜNG TIÊU DAO THIỀN SƯ

Cửu vi phong thể

Kiều ký hoang thôn

Thân tuy thiên ngoại chi sâm thương

Ý hữu kính trung chi loan phượng.

Nhàn xướng vô sanh chi khúc

Dụng thù pháp nhũ chi ân

Lạm trát già đà

Thượng trình tọa hạ.

Thân tuy phì độn ngụ hương quan

Tứ trọng ân thâm vị cảm hàn

Ý chuyết thiểu phùng thiêm ý khí

Tâm khôi cô thủ thốn tâm đan.

Xuân hồi hư đối khai đào nhụy

Phong khởi không văn kích trúc can

Đương nhựt đáo gia tham vấn bãi

Một huyền cầm tử thỉnh kim đàn.

Tạm lai tỉnh vấn cổ chùy thiền

Tướng mạo kỳ di tráng thả kiên

Huệ Khả thân tàm bì tủy ký

Triệu Châu thiên dữ hạc qui niên.

Tu tri thế hữu nhân trung Phật

Hưu quái lô khai hỏa lý liên

Trân trọng già-đà tùy hứng lễ

Kỷ đa mạn khước tử nhung thiền.

Dịch: LỄ THIỀN SƯ TIÊU DAO Ở TINH XÁ PHƯỚC ĐƯỜNG

Hèn lâu xa ánh sáng

Ở gởi chốn hoang thôn

Thân tuy ngoài cõi sâm thương

Ý vẫn trong gương loan và phượng.

Nhàn nhã ngâm khúc vô sanh

Hầu đáp ân Thầy mớm sữa

Trộm có lời thơ tụng

Cúi dâng lên pháp tòa.

Thân tuy cục mịch ngụ quê này

Bốn trọng ân nào dám lãng khuây

Ý vụng sớm nhờ thêm ý khí

Lòng tàn riêng giữ chút lòng ngay.

Xuân về ngắm lững hoa đào nở

Gió động nghe hờ khóm trúc lay

Ngày trước đến nhà thăm hỏi hết

Nay đàn chủ thỉnh khúc không dây.

Thoắt qua thăm hỏi cổ chùy thiền (Cổ chùy: Cái dùi xưa, tượng trưng hàng cổ lão đạo cao đức trọng.)

Tướng mạo mười mươi được khỏe bền

Tùng Thẩm tuổi theo rùa hạc thọ (Thiền sư Tùng Thẩm sống đến 120 tuổi.)

Thần Quang đạo rút tủy da truyền. (Tổ Đạt-ma muốn biết chỗ thâm ngộ của đệ tử, nên bảo mỗi người trình chỗ sở ngộ. Qua sự trình bày của mọi người, Tổ phê bình: Đạo Phó được phần da của ta, Ni Tổng Trì được phần thịt, Đạo Dục được phần xương, Huệ Khả được phần tủy.)

Vẫn hay Phật sẵn trong đời có

Đừng lạ sen bừng giữa lửa lên

Trân trọng dâng theo lời tụng hiến

Còn gì lễ mọn chút quà riêng. (Phần lớn những bài dịch về Tuệ Trung Thượng Sĩ đều nương theo bản của Trúc Thiên trong Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục.)

6. THỊ CHÚNG

Hưu tầm Thiếu Thất dữ Tào Khê,

Thể tính minh minh vị hữu mê.

Cổ nguyệt chiếu phi quan viễn cận,

Thiên phong xuy bất giản cao đê.

Thu quang hắc bạch tùy duyên sắc,

Liên nhụy hồng hương bất trước nê.

Diệu khúc bản lai tu cử xướng,

Mạc tầm nam bắc dữ đông tê (tây).

Dịch: BẢO CHÚNG

Thôi tìm Thiếu Thất với Tào Khê,

Thể tính sáng tròn chẳng từng mê.

Nào ngại xa gần trăng vẫn chiếu,

Thấp cao gió thổi chẳng ưa chê.

Ánh thu đen trắng tùy duyên hiện,

Sen nở hương nồng chẳng dính nhơ.

Khúc nhạc xưa nay nên gẩy hát,

Chớ tìm nam bắc với đông tây.

7. KHUYẾN THẾ TIẾN ĐẠO

Tứ tự tuần hoàn xuân phục thu,

Xâm xâm dĩ lão thiếu niên đầu.

Vinh hoa khẳng cố nhất trường mộng,

Tuế nguyệt không hoài vạn hộc sầu.

Khổ thú luân hồi như chuyển cốc,

Ái hà xuất một đẳng phù âu.

Phùng trường diệc bất mô lai tỹ,

Vô hạn lương duyên chỉ ma hưu.

Dịch: KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI TIẾN TU

Ngày tháng xoay vần xuân lại thu,

Xăm xăm tóc bạc đáp lên đầu.

Giàu sang, nhìn lại một trường mộng,

Năm tháng mang theo vạn hộc sầu.

Nẻo khổ luân hồi như chuyển bánh,

Sông yêu, chìm nổi tợ phù âu.

Gặp trường chẳng chịu sờ lên mũi,

Vô hạn duyên lành chỉ thế thôi.



SƠ TỔ PHÁI TRÚC LÂM TRẦN NHÂN TÔNG

(1258 - 1308)

Ngài tên húy là Khâm con trưởng vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh hoàng thái hậu. Ngài tuy ở vị sang cả mà tâm hâm mộ Thiền tông từ thuở nhỏ. Năm 16 tuổi được lập làm Hoàng thái tử, Ngài cố từ để nhường lại cho em, mà vua cha không chịu. Vua cưới trưởng nữ của Nguyên Từ quốc mẫu cho Ngài tức là Khâm Từ thái hậu sau này. Sống trong cảnh vui hòa hạnh phúc ấy mà tâm Ngài vẫn thích đi tu.

Một hôm vào lúc giữa đêm, Ngài trèo thành trốn đi, định vào núi Yên Tử. Đến chùa Tháp ở núi Đông Cứu thì trời vừa sáng, trong người mệt nhọc quá, Ngài bèn vào nằm nghỉ trong tháp. Vị Sư trụ trì ở đây thấy Ngài tướng mạo khác thường, liền làm cơm thết đãi. Vua cha hay tin, sai các quan đi tìm thấy, Ngài bất đắc dĩ phải trở về.

Năm 21 tuổi, Ngài lên ngôi Hoàng đế (1279). Tuy ở địa vị cửu trùng, mà Ngài vẫn giữ mình thanh tịnh để tu tập. Thường ngày, Ngài đến chùa Tư Phước trong đại nội tu tập. Một hôm nghỉ trưa, Ngài thấy trong rốn mọc lên một hoa sen vàng lớn bằng bánh xe, trên hoa sen có đức Phật vàng. Có người đứng bên cạnh chỉ Ngài nói: “Biết ông Phật này chăng? Là đức Phật Biến Chiếu.” Tỉnh giấc, Ngài đem việc đó tâu lên vua cha. Vua Thánh Tông khen là việc kỳ đặc.

Ngài thường ăn chay lạt thân thể gầy ốm. Thánh Tông thấy thế lấy làm lạ, nên hỏi nguyên do. Ngài trình thật với cha. Thánh Tông khóc bảo : “Nay ta đã già, chỉ trông cậy một mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác được sự nghiệp của Tổ tiên?” Ngài nghe dạy cũng rơi nước mắt.

Con người Ngài rất thông minh hiếu học, đọc hết các sách vở, suốt thông nội điển (kinh) và ngoại điển (sách đời). Những khi nhàn rỗi, Ngài mời các thiền khách bàn giải về tâm tông (thiền) tham học thiền với Thượng Sĩ Tuệ Trung, thâm đắc đến chỗ Thiền tủy. Đối với Thượng Sĩ, Ngài kính lễ làm thầy.

Những khi giặc Nguyên sang quấy rối, Ngài phải xếp việc kinh kệ để lo giữ gìn xã tắc. Nhờ tình đoàn kết quân dân, Ngài đã hai lần đuổi được quân Nguyên giữ gìn trọn vẹn đất nước.

Năm Quí Tỵ (1293), Ngài nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng. Ở ngôi Thái thượng hoàng để chỉ dạy cho con được sáu năm, Ngài sắp đặt việc xuất gia.

Đến tháng mười, năm Kỷ Hợi (1299) Ngài xuất gia vào tu ở núi Yên Tử. Ở đây, Ngài chuyên cần tu tập theo hạnh đầu-đà (khổ hạnh) lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu-đà. Sau đó Ngài lập chùa, cất tịnh xá, khai giảng để tiếp độ chúng tăng. Học chúng đua nhau đến rất đông. Sau, Ngài đến chùa Phổ Minh ở phủ Thiên Trường lập giảng đường, giảng dạy mấy năm. Ngài lại vân du đến trại Bố Chánh lập am Tri Kiến rồi ở đó.

Đến năm Giáp Thìn (1304), Ngài dạo đi khắp nơi khuyên dân dẹp bỏ những dâm từ (miếu thờ thần không chánh đáng), và dạy họ tu hành Thập thiện. Vào mùa đông năm ấy, vua Anh Tông dâng biểu thỉnh Ngài về đại nội để truyền giới Bồ-tát tại gia.

Sau đó, Ngài chống gậy đến chùa Sùng Nghiêm ở núi Linh Sơn để truyền bá Thiền tông.

Mở đầu pháp hội, Ngài niêm hương báo ân xong bước lên tòa. Vị Thượng thủ bạch chùy v.v... rồi Ngài nói:

- Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện giữa cõi đời này, suốt bốn mươi chín năm chuyển động đôi môi mà chưa từng nói một lời. Nay ta vì các ngươi lên ngồi tòa này, biết nói chuyện gì đây ?

Ngồi giây lâu, Ngài ngâm:

Thân như hơi thở ra vào mũi

Đời giống mây trôi đỉnh núi xa,

Tiếng quyên từng chập vầng trăng sáng,

Đâu phải tầm thường qua một xuân.

(Thân như hô hấp tỹ trung khí,

Thế tợ phong hành lãnh ngoại vân.

Đỗ quyên đề đoạn nguyệt như trú,

Bất thị tầm thường không quá xuân.)

Ngài vỗ bàn một cái, nói:- Không có gì sao ? Ra đây ! Ra đây !

*

* *



Có vị tăng hỏi:- Thế nào là Phật ?

Ngài đáp:

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Thế nào là Pháp ?

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Thế nào là Tăng ?

- Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.

- Cứu cánh thế nào?

- Chữ bát đã bày trao hết sạch

Đâu còn có việc nói cùng ngươi.

(Bát tự đả khai phân phó liễu

Cánh vô dư sự khả trình quân.)

Lại hỏi:- Thế nào là một việc hướng thượng ?

Ngài đáp:

- Đầu gậy khêu nhật nguyệt.

- Dùng công án cũ làm gì ?

- Một lần nhắc lại một lần mới.

- Thế nào là giáo ngoại biệt truyền ?

- Ễnh ương nhảy không khỏi đấu.

- Sau khi ra khỏi đấu thì thế nào ?

- Lại theo con ếch nhảy xuống bùn.

- Vẫn là nhảy chẳng khỏi.

Ngài bèn lớn tiếng nạt:

- Kẻ mù! Thấy cái gì ?

- Đại tôn đức lừa người làm gì ?

Ngài liền “hừ, hừ”.

Vị tăng suy nghĩ.

Ngài liền đánh. Vị tăng lại suy nghĩ để hỏi.

Ngài liền hét. Vị tăng cũng hét.

Ngài hỏi:

- Lão tăng bị một cái hét, hai cái hét của ngươi, rốt cuộc thế nào ? Nói mau ! Nói mau !

Vị tăng suy nghĩ.

Ngài lại hét một tiếng, nói:

- Con chồn hoang quỉ quái! Vừa rồi tinh lanh giờ ở chỗ nào ?

Vị tăng lễ bái lui ra.

Tăng hỏi:

- Đại tôn đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm, đối với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông ?

Ngài đáp:

- Cũng được sáu thông.

- Năm thông kia gác qua, thế nào là tha tâm thông ?

- Đầy cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như Lai đều thấy.

Vị tăng liền đưa nắm tay lên nói:

- Đã biết hết thấy hết, vậy biết cái này có vật gì ?

Ngài đáp:

- Như có như không, chẳng phải không chẳng phải sắc.

- Xưa tăng hỏi Hòa thượng Lang Gia: “Thanh tịnh bản nhiên, vì sao chợt sanh sơn hà đại địa?” ý chỉ thế nào?

- Thật giống thuyền chài ra biển.

- Ý này thế nào ?

- Ai biết nơi chốn khói sóng xa khơi kia, riêng có chỗ nên suy nghĩ.

*
* *

Hỏi:- Thế nào là gia phong Phật quá khứ ?

Đáp:


- Vườn rừng vắng vẻ ai chăm sóc

Lý trắng đào hồng hoa tự nhiên.

- Thế nào là gia phong Phật hiện tại ?

- Gia phong sóng bạc mê yến sớm

Tiên uyển đào hồng say gió xuân.

- Thế nào là gia phong Phật vị lai?

- Bãi biển chờ triều trời đợi nguyệt,

Xóm chài nghe sáo khách nhớ nhà.

- Gia phong Hòa thượng thế nào ?

- Áo rách che mây, sáng ăn cháo

Bình xưa tưới nguyệt, tối uống trà.

Lại hỏi:- Ngài Linh Vân khi xem hoa đào ngộ thì thế nào ?

Đáp:

- Tự nở tự tàn theo thời tiết



Đông quân bị hỏi cũng khôn lời.

- Khi giết người không nhìn lại thì sao ?

- Gan dạ cùng mình.

- Người đại tu hành lại rơi vào nhân quả hay không?

- Miệng dường chậu máu chê Phật Tổ

Răng như kiếm bén gặm rừng thiền.

Một mai chết đọa A-tỳ ngục

Cười ngất, Nam-mô Quán Thế Âm.

Hỏi:

- “Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết



Trên cây oanh đậu một cành hoa”, thì thế nào ?

Đáp:- Lầm!

- Theo Đại tôn đức thì thế nào ?

- Dưới ruộng bầy cò ngàn điểm tuyết

Trên cây oanh đậu một cành hoa.

- Đó là câu nói của tôi.

- Muốn biết thần tiên lò luyệïn thuốc

Linh đơn vốn thiệt tử châu sa.

Hỏi:- Thế nào là Thanh tịnh pháp thân ?

Đáp:


- Đục vàng rơi trong phân sư tử

Người đen đúa vác bó hương thơm.

- Học nhân không hiểu ?

- Chớ học thói hồ đồ trả giá

Cười người chân thật dối lầm nhau.

- Thế nào là Viên mãn báo thân ?

- Cánh bằng bay bổng dừng cơn gió

Ly châu lắng lạnh biển trong ngần.

Vị tăng lễ bái.

Ngài bảo:

- Nguyên lai đầy đủ nhiều công dụng

Bởi chú quàng xiên chẳng được thành.

Hỏi:- Thế nào là Thiên bách ức hóa thân ?

Đáp:


- Mây dồn sương phủ trời mù mịt

Tấc nước như xưa trước đỉnh đầu.

Tăng nói:- Đúng thế.

Ngài bảo:

- Cười ngất kẻ gom mây dưới đảnh

Bốn bề nuốt lấy hòn sắt tròn.

Vị tăng lễ bái lui ra.

*
* *

Pháp Loa hỏi:

- Nói huyền nói diệu, luận cổ bàn kim, đều thuộc thứ nói đùa, một câu không kẹt trong ngôn ngữ làm sao nói được ?

Ngài đáp:

- Gió đông dìu dịu ngàn hoa nở

Lách cách vành xe một tiếng vang.

Pháp Loa toan mở miệng nói, Ngài liền bảo:

- Chim hót máu tuôn vẫn vô dụng

Non tây như trước phủ mây chiều.

- Khi muôn dặm mây tạnh thì thế nào ?

- Mưa tầm tã.

- Khi muôn dặm mây che kín thì thế nào ?

- Trăng vằng vặc.

- Cứu cánh thế nào ?

- Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.

- Thế nào là bản lai diện mục ?

Ngài im lặng giây lâu hỏi: - Hiểu chăng ?

- Chẳng hiểu.

Ngài liền đánh.

Pháp Loa hỏi: - Thế nào là ba mươi hai tướng tốt tám mươi vẻ đẹp ?

Ngài đáp:

- Nếu dùng sắc thấy ta,

Dùng âm thanh cầu ta,

Người ấy hành đạo tà,

Không thể thấy Như Lai.

- Thế nào là Phật ?

- Tấm cám ở dưới cối.

- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn sang ?

- Bánh vẽ.

- Thế nào là đại ý Phật pháp ?

- Cùng hầm, đất không khác.

- Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu “con chó có Phật tánh không” Triệu Châu nói “không” ý chỉ thế nào ?

- Chất muối ở trong nước,

Keo xanh ở trong sắc.

- Hữu cú vô cú như bìm leo cây, khi ấy thế nào ?

Ngài bèn nói kệ:

Hữu cú vô cú

Bìm khô cây ngã

Mấy kẻ nạp tăng

U đầu sứt trán.

Hữu cú vô cú

Thể lộ gió thu

Hằng hà sa số

Va dao chạm bén.

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Đập ngói dùi rùa

Trèo non lội nước.

Hữu cú vô cú

Chẳng có chẳng không

Khắc thuyền tìm kiếm

Tìm ngựa cứ hình (bản đồ).

Hữu cú vô cú

Hồi hỗ, hay không

Nón tuyết giày hoa

Ôm cây đợi thỏ.

Hữu cú vô cú

Tự xưa tự nay

Chấp tay quên trăng

Đất bằng chết chìm.

Hữu cú vô cú

Như thế như thế

Chữ bát mở ra

Sao không nắm mũi ?

Hữu cú vô cú

Ngó tả ngó hữu

Lau chau mồm mép

Ồn ào náo động.

Hữu cú vô cú

Đau đáu lo sợ

Cắt đứt sắn bìm

Đó đây vui thích.

(Hữu cú vô cú

Đằng khô thọ đảo

Cơ cá nạp tăng

Hàng đầu khái não.

Hữu cú vô cú

Thể lộ kim phong

Hằng hà sa số

Phạm nhẫn thương phong.

Hữu cú vô cú

Lập tông lập chỉ

Đả ngỏa toản qui

Đăng sơn thiệp thủy.

Hữu cú vô cú

Phi hữu phi vô

Khắc chu cầu kiếm

Sách kị án đồ.

Hữu cú vô cú

Hỗ bất hồi hỗ

Lạp tuyết hài hoa

Thủ chu đãi thố.

Hữu cú vô cú

Tự cổ tự kim

Chấp chỉ vong nguyệt

Bình địa lục trầm.

Hữu cú vô cú

Như thị như thị

Bát tự đả khai

Toàn vô ba tỹ.

Hữu cú vô cú

Cố tả cố hữu

A thích thích địa

Náo quát quát địa.

Hữu cú vô cú

Đao đao phạ phạ

Tiệt đoạn cát đằng

Bỉ thử khoái hoạt.)

Ngài bèn bước xuống tòa.

*
* *

Ngày mùng một tháng giêng năm Mậu Thân (1308) Ngài sai Pháp Loa đến huyện Siêu Loại tại Báo Ân thiền tự khai giảng trụ trì. Tháng tư năm ấy, Ngài đến chùa Vĩnh Nghiêm ở Lượng Giang kiết hạ và sai Pháp Loa khai giảng trụ trì. Chính Ngài giảng Truyền Đăng Lục, bảo Quốc sư Đạo Nhất vì chúng giảng kinh Pháp Hoa. Bãi hạ, Ngài vào núi Yên Tử, đuổi hết những người cư sĩ theo hầu hạ và những kẻ nô dịch trong chùa, không được chực hầu như trước. Chỉ để lại mười vị thị giả thường theo Ngài. Ngài lên ở am Tử Tiêu, vì Pháp Loa giảng Truyền Đăng Lục. Thị giả xuống núi gần hết, duy có đệ tử thượng túc là Pháp Loa còn ở thôi.

Từ đây, Ngài leo khắp các núi, tìm kiếm các hang động, ở tại thạch thất. Pháp Loa thấy thế bạch:

- Tôn đức tuổi đã già yếu, mà xông pha trong sương tuyết, lỡ có bề gì thì mạng mạch Phật pháp trông cậy vào ai ?

Ngài bảo:

- Ta thời tiết đã đến, muốn tạo cái kế lâu dài vậy.

Ngày mùng năm tháng mười năm ấy, người nhà của công chúa Thiên Thụy lên núi bạch Ngài: “Công chúa Thiên Thụy bệnh nặng mong được thấy Tôn đức rồi chết.” Ngài bùi ngùi bảo: “Thời tiết đã đến vậy.” Ngài bèn chống gậy xuống núi, chỉ cho theo một người thị giả. Ngày mùng mười Ngài về đến kinh, dặn dò xong, ngày rằm Ngài trở về núi. Ngài dừng nghỉ ở chùa Siêu Loại. Hôm sau vừa rạng đông, Ngài đi bộ đến chùa làng Cổ Châu, tự đề bài kệ rằng:

Số đời một hơi thở

Lòng người hai biển vàng

Cung ma dồn quá lắm

Cõi Phật vui nào hơn.

(Thế số nhất tức mặc

Thời tình lưỡng hải ngân

Ma cung hồn quản thậm

Phật quốc bất thắng xuân.)

Đến ngày 17, Ngài dừng nghỉ ở chùa Sùng Nghiêm tại Linh Sơn, Tuyên Từ hoàng thái hậu thỉnh Ngài vào am Bình Dương cúng trai. Ngài vui vẻ nói: “Đây là bữa cúng dường rốt sau.”

Ngày 18, Ngài lại đi bộ đến chùa Tú Lâm ở ngọn An Kỳ Sanh. Nghe nhức đầu, Ngài gọi hai vị Tỳ-kheo trong chùa bảo:

- Ta muốn lên ngọn Ngọa Vân mà chân không thể leo nổi, phải làm sao ?

Hai vị Tỳ-kheo bạch:- Hai đệ tử có thể giúp được.

Đến am Ngọa Vân, Ngài tạ hai vị Tỳ-kheo rằng:

- Xuống núi tu hành đi, chớ xem thường việc sanh tử.

Ngày 19, Ngài sai thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu ở núi Yên Tử gọi Bảo Sát đến đây gấp.

Ngày 20, Bảo Sát quảy gói sang, đi đến Doanh Tuyền thấy một vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân bay qua Lỗi Sơn và hạ xuống Doanh Tuyền, nước đầây tràn lên cao mấy trượng, giây lát lại bình xuống. Lại thấy hai con rồng đầu bằng đầu ngựa ngóc cao hơn trượng, hai con mắt như sao, chốc lát lại lặn xuống. Đêm ấy Bảo Sát nghỉ trong quán trọ dưới núi, mộng thấy điềm chẳng lành.

Ngày 21, Bảo Sát đến am Ngọa Vân. Ngài trông thấy mỉm cười bảo:

- Ta sắp đi đây, nhà ngươi đến sao trễ vậy ? Đối với Phật pháp, ngươi có chỗ nào chưa rõ hãy hỏi mau.

Bảo Sát hỏi:

- Như khi Mã Tổ bệnh, Viện chủ hỏi: “Những ngày gần đây Tôn đức thế nào?” Mã Tổ bảo: “Nhật diện Phật, Nguyệt diện Phật.” Nói thế ý chỉ làm sao ?

Ngài lớn tiếng đáp: - Ngũ đế Tam hoàng là vật gì ?

Bảo Sát lại hỏi:

- Chỉ như “Hoa sum sê chừ gấm sum sê, tre đất nam chừ cây đất bắc”, lại là sao ?

Ngài đáp:- Làm mù mắt ngươi.

Bảo Sát bèn thôi.

Suốt mấy hôm trời đất u ám, chim vượn kêu hót rất bi thảm.

Đến ngày mùng 1 tháng 11, đêm nay trời trong sao sáng, Ngài hỏi Bảo Sát: - Hiện giờ là giờ gì ?

Bảo Sát bạch: - Giờ Tý.

Ngài lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem, nói: - Đến giờ ta đi.

Bảo Sát hỏi:- Tôn đức đi đến chỗ nào?

Ngài nói kệ đáp:

Tất cả pháp chẳng sanh

Tất cả pháp chẳng diệt

Nếu hay hiểu như thế

Chư Phật thường hiện tiền.

(Nhất thiết pháp bất sanh

Nhất thiết pháp bất diệt

Nhược năng như thị giải

Chư Phật thường hiện tiền .)

Nào có đến đi ấy vậy.

Bảo Sát hỏi:- Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt là thế nào ?

Ngài liền nhằm miệng Bảo Sát tát cho một cái, nói:- Chớ nói mớ.

Nói xong, Ngài bèn nằm như sư tử lặng lẽ mà tịch. Vào niên hiệu Hưng Long thứ mười sáu (1308), thọ 51 tuổi.

Pháp Loa theo lời di chúc của Ngài làm lễ hỏa táng, lượm ngọc cốt có năm màu để vào bình. Vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt về tôn thờ nơi Đức Lăng và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, để hiệu là Huệ Quang Kim Tháp và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu-đà Tĩnh Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật.

Ngài còn lưu lại những tác phẩm:

1) Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục

2) Đại Hương Hải Ấn thi tập

3) Tăng-già Toái Sự

4) Thạch Thất Mị Ngữ do Pháp Loa soạn lại lời của Ngài.

*

Phụ trích vài bài thơ của Điều Ngự Giác Hoàng:




tải về 1.68 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   19




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương