Lời nóI ĐẦU



tải về 436.46 Kb.
trang2/6
Chuyển đổi dữ liệu08.12.2017
Kích436.46 Kb.
#4218
1   2   3   4   5   6

Danh mục bảng:


Bảng 1: Số lượng trại chăn nuôi tính đến năm 2006 18

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hàng năm 19

Bảng 3: Chất lượng nước thải theo điều tra tại các trại chăn nuôi tập trung (Năm 2006) 21

Bảng 4: Phương pháp xử lí và sử dụng nước thải tại các cơ sở chăn nuôi 23

Bảng 5: Vai trò của các bộ phận của thực vật nước trong hệ thống xử lý (Chongrak Polparsert, 1997) 37

Bảng 6: Phân tích ưu điểm và nhược điểm của hai phương án 42

Bảng 7: Các thông số đầu vào và đầu ra của nước thải 44

Bảng 8: Các loại khí sinh ra trong bể: 47

Bảng 9: Các thông số thiết kế hầm biogas: 49

Bảng 10: Hiệu xuất xử lí của hầm biogas: 50

Bảng 11: Các thông số thiết kế hồ sinh học hiếu khí: 52

Bảng 12: Các thông số thiết kế hồ sinh học kị khí: 53

Bảng 13: Các thông số thiết kế ngăn xử lí khí biogas: 55


Danh mục hình:


Hình 1 : Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về số con 20

Hình 2: Mục đích sử dụng nước thải chăn nuôi trong quá trình điều tra tại một số huyện thuộc Tp.HCM 22

Hình 3: Mô hình quản lí chất thải rắn và nước thải trên thế giới 24

Hình 4: Sơ đồ công nghệ phương án 1: 40

Hình 5: Sơ đồ công nghệ phương án 2 41

Hình 6: Bơm nước thải APP DSK 56


Danh mục chữ viết tắt:


XLNT : Xử lý nước thải

QCVN : Quy chuẩn Việt Nam

BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường

VSV : Vi sinh vật

SBR : Sequencing Batch Reactor – Bể bùn hoạt tính từng mẻ

USAB : Upflow anearobic sludge blanket - bể xử lý sinh học dòng chảy ngược qua tầng bùn kỵ khí

PE : polyethylene hay polyethene - nhựa nhiệt dẻo

FAO: Tổ chức lương thực thế giới

BOD : Nhu cầu oxy sinh hoá

COD : Nhu cầu oxy hoá học

ABS :chất tẩy tổng hợp (Ankyl benzene sunfonat)

Chương 1:

TỔNG QUAN VỀ NƯỚC THẢI

1.1: Nước thải, thành phần và phân loại nước thải:


1.1.1: Các loại nước thải:

  • Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng. Có các loại nước thải dưới đây:

  • Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác.

  • Nước thải công nghiệp là nước thái sinh ra từ các nhà máy đang hoạt động.

  • Nước thấm qua là nước mưa thấm vào hệ thống cống bằng nhiều cách khác nhau qua các lớp khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành các hố ga hay hố người.

  • Nước thải tự nhiên là nước mưa ở những thành phố hiện đại, nước thải tự nhiên được thu gom theo một hệ thống thoát riêng.

  • Nước thải đô thị là thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố. Đó là hỗn hợp của các loại nước thải kể trên.

1.1.2: Thành phần và tính chất của nước thải:

1.1.2.1: Thành phần của nước thải:

a, Thành phần tổng quát của nước thải:



  • Các chất chứa trong nước thải bao gồm: các chất vô cơ, hữu cơ và vi sinh vật.

  • Các chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt chiếm khoảng 50% - 60% tổng các chất gồn các chất hữu cơ thực vật: cặn bã thực vật, rau, hoa, quả, giấy… và các chất hữu cơ động vật, chất thải bài tiết của người và động vật, xác động vật…Các chất hữu cơ trong nước thải theo đặc tính hoá học gồm chủ yếu là protein (chiếm 40% - 60%), hydratcacbon (25% - 50%), các chất béo, dầu mỡ (10%). Urê cũng là chất hữu cơ quan trọng trong nước thải sinh hoạt. Nồng độ các chất hữu cơ thường được xác định thông qua chỉ tiêu BOD và COD. Bên cạnh các chất trên, trong nước thải còn có chứa các lien kết hữu cơ tổng hợp, các chất hoạt tính bề mặt mà điển hình là chất tẩy tổng hợp (Ankyl benzene sunfonat – ABS) rất khó xử lí bằng phương pháp sinh học như đã trình bày ở phần trước và gây nên hiện tượng sủi bọt trong các trạm xử lí nước thải cũng như trên bề mặt các nguồn tiếp nhận nước thải.

  • Các chất vô cơ trong nước thải chiếm 40% - 42% gồm chủ yếu: cát, đất sét, các axit, bazơ vô cơ, dầu khoáng …

  • Trong nước thải có mặt nhiều dang vi sinh vật: vi khuẩn, virus, nấm, rong tảo, trứng, giun sán… Trong số các dang vi sinh vật đó có thể có cả các vi trùng gây bệnh, ví dụ: lỵ, thương hàn… có khả năng gây thành dich bệnh. Về thành phần hoá học thì các loại vi sinh vật thuộc nhóm hữu cơ.

  • Khi lựa chọn công nghệ, xử lí, bên cạnh việc căn cứ vào các thành phần tổng quát như đã nêu ở trên còn dựa vào những trang thái tương ứng của chúng: trạng thái vật lí, trạng thái hoá học và trạng thái sinh học. Theo đó sẽ tìm hiểu chi tiết về: thành phần vật lí, thành phần hoá học, thành phần sinh học của nước thải.

b, Thành phần vật lí:

Thành phần vật lí được xác định bằng độ phân tán của các hạt có trong nước thải. Theo đó các chất chứa trong nước thải được chia thành 4 nhóm phụ thuộc vào kích thước hạt của chúng.



  • Nhóm 1: gồm các tạp chất phân tán thô, không tan ở dạng lơ lửng, nhũ tương, bọt. Kích thước hạt của nhóm 1 nằm trong khoảng 10-1 – 10-4 mm. Chúng cũng có thể là các chất vô cơ, hữu cơ, vi sinh vật… và hợp cùng với nước thải thành hệ dị thể không bền và trong điều kiện xác định, chúng có thể tồn tại ở trạng thái lơ lửng trong khoảng thời gian nào đó. Các chất chứa trong nước thải ở nhóm 1, chính vì thế, có thể dễ dàng tách ra khỏi nước bằng phương pháp trọng lực.

  • Nhóm 2: gồm các chất phân tán dạng keo với kích thước hạt của nhóm này nằm trong khoảng 10-4 – 10-6 mm. Chúng gồm hai loại keo: keo ưa nước và keo kị nước.

Keo ưa nước được đặc trưng bằng khả năng lien kết giữa các hạt phân tán với nước. Chúng thường là những chất hữu cơ có trọng lượng phân tử lớn: hydrat cacbon (xenlulo, tinh bột), protit (anbumin, hemoglobin, keo động vật…), xà bông, thuốc nhuộm hữu cơ, các vi sinh vật…Keo kỵ nước (đất sét, hydroxyt sắt, nhôm silic…) không có khả năng liên kết như keo ưa nước.

Thành phần các chất keo chứa trong nước thải sinh hoạt chiếm 35 – 40% lượng các chất lơ lửng. Do kích thước nhỏ bé nên khả năng tự lắng của các hạt keo là khó khăn. Vì vậy, để các hạt keo có thể lắng được, cần phá vỡ độ bền của chúng và trong công nghệ xử lí nước và nước thải thường áp dụng quá trình keo tụ (hoá học hoặc sinh học).



  • Nhóm 3: gồm các chất hoà tan có kích thước hạt phân tử ≤ 10-7 mm. Chúng tạo thành hệ một pha còn gọi là dung dịch thật. Các chất trong nhóm 3 rất khác nhau về thành phần. Một số các chỉ tiêu đặc trưng cho tính chất nước thải: độ màu, mùi, nhu cầu oxi sinh hoá (BOD), nhu cầu oxi hoá học (COD), tổng hàm lượng nito, photpho…, được xác định thông qua sự có mặt các chất thuộc nhóm này và để xử lý chúng thường ứng dụng phương pháp sinh học và phương pháp hoá lý.

  • Nhóm 4: gồm các chất trong nước thải có kích thước hạt nhỏ hơn hoặc bằng 10-8 mm (phân tán ion). Các chất này chủ yếu là các axit, bazo và các muối của chúng. Một số trong đó như các muối ammonia, photphat được hình thành trong quá trình xử lí sinh học.

c, Thành phần hoá học:

Thành phần hoá học trong nước thải chủ yếu chứa các chất hữu cơ dễ bị phân huỷ sinh học: protein, hydratcacbon, các chất béo, xenlulo… và các chất hữu cơ khí bị phân huỷ sinh học: thuốc trừ sâu, diệt cỏ…Bên cạnh các chất hữu cơ, trong nước thải , đặc biệt là nước thải công nghiệp, có chứa các thành phần vô cơ khác nhau.

d,Thành phần sinh học:

Ở trạng thái sinh học, nước thải có chứa các sinh vật, vi sinh vật khác nhau. Các vi sinh vật chỉ thị ô nhiễm phân: E.coli, coliform…



1.1.2.2: Tính chất của nước thải:

a, Tính chất vật lí:

Tính chất vật lí của nước thải thể hiện khả năng lắng hoặc nổi của các chất có trong nước thải khi tỷ trọng của nó lớn hơn hoặc nhỏ hơn tỷ trọng của nước thải.

Nước thải có khả năng tạo mùi, tạo màu từ kết quả của quá trình phân huỷ các chất hữu cơ có trong nước thải.

b, Tính chất hoá học:

Tính chất hoá học của nước thải do khả năng phản ứng hoá học lẫn nhau giữa các chất có trong nước thải: nước thải có tính axit có thể trung hoà với thải có chứa kiềm, hay có khả năng phản ứng giữa chất có trong nước thải với hoá chất cho them vào, ví dụ choc lo để khử trùng nước thải, dùng phèn để khử độ màu và chất lơ lửng…

Các phương pháp xử lí hoá học thường được sử dụng trong xử lí nước thải là oxy hoá, keo tụ, trung hoà.

c,Tính chất sinh học:

Tính chất sinh học của nước thải biểu hiện qua quá trình phân huỷ sinh học các chất hữu cơ có trong nước thải ở điều kiện khác nhau: hiếu khí, kỵ khí, thiếu khí tuỳ nghi.

Sản phẩm của quá trình phân huỷ sinh học hiếu khí sinh học là CO2 và nước, còn sản phẩm của quá trình sinh học kỵ khí là sinh học ( CH4, CO2)…

Một số chất ô nhiễm chứa trong nước thải đáng được quan tâm nữa là: kim loại nặng, thuốc trừ sâu, các chất phóng xạ và một số chất gây độc hại khác. Dạng các chất gây ô nhiễm đặc biệt này có thể gây tác hại to lớn đến con người, sinh vật và môi trường. Mức độ tác hại phụ thuộc vào loại chất ô nhiễm, nồng độ của chúng và khả năng xử lí các chất đặc biệt này.

1.1.3: Phân loại nước thải:

Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng. Nguồn gốc của nước thải có thể liệt kê sơ bộ như sau:



  • Nước thải sinh hoạt từ: nhà ở, nhà công cộng, nhà sản xuất, bệnh viện, các trại nghiền chất thải rắn, phân rác, các trạm rửa xe ôtô, tưới đường, tưới cây, đài phun nước tạo cảnh, trạm lạnh, trạm điều hoà không khí.

  • Nước mưa từ: vùng công nghiệp bị nhiễm bẫn, nước mưa trong hệ thống chung không qua các hố ga, nước tách rác.

  • Nước sản xuất từ: trạm công nghiệp lạnh, làm lạnh máy móc thiết bị sản xuất, các trạm xử lí cục bộ nước thải của các xí nghiệp công nghiệp, nước thải sản xuất chưa qua xử lí cục bộ.

Theo quan điểm quản lí môi trường, các nguồn gây ô nhiễm nguồn nước còn được phân thành 2 loại, nguồn xác định và nguồn không xác định.

  • Nguồn xác định bao gồm nước thải đô thị và nước thải công nghiệp, các cửa cống xả nước mưa và tất cả nguồn thải vào nguồn tiếp nhận nước có tổ chức qua hệ thống cống và kênh thải.

  • Các nguồn không xác định bao gồm các nước thải trôi trên bề mặt đất, nước mưa và các nguồn nước phân tán khác. Sự phân loại này rất có ích khi đề cập tới các vấn đề kiểm soát ô nhiễm.

  • Các nguồn xác định thường có thể định hướng và kiểm tra trước khi thải, ngược lại các nguồn không xác định thường rất khó quản lí. Các nguồn ô nhiễm không xác định gây ra các vấn đề sau:

  • Xói mòn đất và vận chuyển sa lắng dẫn đến hậu quả là thay đổi chỗ ở và gây ảnh hưởng xấu đến các loài thuỷ sinh, lấp đầy các dòng song, vực chứa, gây nhiều khó khăn, tang chi phí cho việc xử lí nước và giảm chất lượng nước cho mục đích sử dụng.

  • Các chất dinh dưỡng như nito và photpho giải phóng từ phân bón và chất thải động vật kích thích sự phát triển của thực vật và vi khuẩn trong nước dẫn đến hiên tượng phú dưỡng.

  • Tích tụ các kim loại nặng như kẽm, đồng, thuỷ ngân… từ các chất được sử dụng trong bảo vệ thực vật, sơn, hàn chì và nhiều quá trình khác.

  • Các hoá chất độc hại, chủ yếu là các hoá chất bảo vệ thực vật.

  • Ngoài ra, nước chảy trôi bề mặt đất qua các khu vực chăn nuôi gia súc có thể chứa lượng lớn chất thải động vật sẽ đóng góp một lượng quan trọng các chất sử dụng oxi và chất rắn lơ lửng, gây ô nhiễm môi trường nước.

1.1.4: Các chỉ tiêu cơ bản của nước thải:

Bên cạnh những chỉ tiêu cơ bản về chất lượng nước mà chúng ta thường gặp trong lĩnh vực cấp nước, trong thành phần của nước thải còn có chứa thêm một số chất bẩn đặc trung khác do hậu quả của việc sử dụng nước cho các mục đích sinh hoạt, thương mji, công nghiệp…



1.1.4.1: Các chỉ tiêu lí học:

Các chỉ tiêu lí học quan trọng nhất của nước thải gồm : chất thải rắn tổng cộng, mùi, nhiệt độ, độ màu, độ đục…



  • Chất rắn tổng cộng: Trong nước thải đô thị , có khoảng 40 – 65% chất rắn nằm ở trạng thái lơ lửng . Các chất rắn này có thể nổi trên mặt nước hay lắng xuống dưới đáy và có thể hình thành nên các bãi bùn không mong muốn khi thải nước thải có chứa nhiều chất rắn vào một con sông. Một số chất rắn lơ lửng có khả năng lắng rất nhanh, tuy nhiều các chất lơ lửng ở kích thước hạt keo thì lắng rất chậm chặp hoặc hoàn toàn không thể lắng được. Các chất rắn có thể lắng được là những chất rắn mà chúng có thể được loại bỏ bởi quá trình lắng và thường được biểu diễn bằng đơn vị ml/l.

  • Mùi: mùi của nước thải mới thường không gây ra cảm giác khó chịu, nhưng một loạt hợp chất gây mùi khó chịu sẽ được toả ra khi nước thải bị phân huỷ sinh học dưới các điều kiện yếm khí. Hợp chất gây mùi đặc trưng nhất là hydrosulfua ( H2S – mùi trứng thối). Các hợp chất khác, chẳng hạn như indol, skatol, cadaverin và mercaptan, được tạo dưới các điều kiện yếm khí có thể gây ra những mùi khó chịu hơn cả H2S. Nước thải công nghiệp có thể có các mùi đặc trưng của từng loại hình sản xuất và sự phát sinh mùi mới trong trong quá trình xử lí nước thải công nghiệp. Điều đặc biệt quan tâm đối với việc thiết kế các công trình xử lí nước thải là tránh các điều kiện mà ở đó sẽ tạo ra các mùi khó chịu.

  • Nhiệt độ: Nhiệt độ của nước thải thường cao hơn nhiệt độ của nước cấp do việc các dòng nước nóng hoặc nước ấm từ các hoạt động sinh hoạt, thương mại hay công nghiệp và nhiệt độ của nước thải thường thấp hơn nhiệt độ của không khí.Nhiệt độ của nucớ thải là một trong những thông số quan trọng bởi vì phần lớn các sơ đồ công nghệ xử lí nước thải đều ứng dụng các quá trình xử lí sinh học mà các quá trình đó thường bị ảnh hưởng mạnh bởi nhiệt độ, Nhiệt độ của nước thải ảnh hưởng đến đời sống của thuỷ sinh vật, đến sự hoà tan của oxy trong nước. Nhiệt độ còn là một trong những thông số công nghệ quan trọng lien quan đến quá trình lắng các hạt cặn, do nhiệt độ có ảnh hưởng đến độ nhớt của chất lỏng và do đó có lien quan đến lực cản của quá trình lắng các hạt cặn trong nước thải. Nhiệt độ của nước thải thường thay đổi theo mùa và vị trí địa lí. Ở những vũng khí hậu lạnh, nhiệt độ của nước thải có thể thay đổi từ 7 – 18oC, trong khí đó ở nhũng vùng có khí hậu ấm áp hơn, nhiệt độ của nước thải có thể thay đổi trong khoảng từ 13 – 24oC. Ở Tp.HCM và các tỉnh phía Nam, nhiệt độ của nước thải đô thị thường dao dộng ở mức 24 – 29oC, đôi khi lên đến 30oC.

  • Độ màu: Màu của nước thải là do các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, thuốc nhuộm hoặc do các sản phẩm được tạo ra từ các quá trình phân huỷ các chất hữu cơ. Đơn vị đo độ màu thông dụng là Plantin – Coban( Pt – Co). Độ màu là một thông số thường mang tính chất định tính, có thể được sử dụng để đánh giá trạng thái chung của nước thải. Nước thải sinh hoạt để chưa quá 6 giờ thường có màu nâu nhạt. Màu xám nhạt đến trung bình là đặc trung của các loại nước thải đã bị phân huỷ một phần. Nếu xuất hiện màu xám sẫm hoặc đen, nước thải coi như đã phân huỷ hoàn toàn bởi các vi khuẩn trong điều kiện kỵ khí. Hiên tượng nước thải ngả màu đen thường là do sự tạo thành các sulfide khác nhau,đặc biệt là sulfide sắt. Điều này xảy ra khi hydro sulfua được sản sinh ra dưới các điều kiện kí khí kết hợp với một kim loại hoá trị hai có trong nước thải, chẳng hạn như sắt.

  • Độ đục: độ đục của nước thải là do các chất lơ lửng và các chất dạng keo chứa trong nước thải tạo nên. Đơn vị đo độ đục thông dụng là NTU. Giữa độ đục và hàm lượng chất lơ lửng trong nước thải ban đầu chưa có mối quan hệ đáng kể nào, tuy nhiên mối quan hệ này thể hiện rõ ở nước sau khi ra khỏi bể lắng đợt hai và được tính bằng công thức: Chất rắn lơ lửng, SS (mg/L) = (2,3 – 2,4)×độ đục (NTU).

1.1.4.2: Chỉ tiêu hoá học và sinh học:

  • pH: là chỉ tiêu đặc trưng cho tính axit hoặc tính bazo của nước và được tính bằng nồng độ của ion hydro (pH = -lg[H+]). pH là chỉ tiêu quan trọng nhất trong quá trình sinh hoá bởi tốc độ của quá trình này phụ thuộc đáng kể vào sự thay đổi của pH. Các công trình xử lí sinh học nước thải thường hoạt động tốt khi pH = 6,5 – 8,5. Đối với nước thải sinh hoạt, pH thường dao động trong khoảng 6,9 – 7,8. Nước thải của một số ngành công nghiệp có thể có nhũng giá trị pH khác nhau, ví dụ như nước thải công nghiệp sản xuất bột giấy thfương có pH khá cao (10 – 11) trong khi đó nước thải công nghiệp xi mạ thường có pH khá thấp ( 2,5 – 3,5), nước thải công nghiệp sơ chế mủ cao su có pH khoảng 4 – 4,5. Để xử lí các loại nước thải này cần thực hiện biện pháp trung hoà nước thải để nâng pH lên đến giá trị thích hợp.

  • Nhu cầu oxy hoá học (COD): là lượng oxy cần thiết để oxy hoá toàn bộ các chất hữu cơ có trong nước thải, kể cả các chất hữu cơ không bị phân huỷ sinh học và được xác định bằng phương pháp bicromat trong môi trường axit sunfuric có thêm chất xúc tác-sunfac bạc.Đơn vị đo NOH ( COD) là mgO2 /l hay đơn giản là mg/l.

  • Nhu cầu oxy sinh hoá –NOS(BOD) : là một trong những thông số cơ bản đặc trưng cho mức độ ô nhiễm nước thải bởi ác chất hữu cơ có thể bị oxy hoá sinh hoá ( các chất hữu có dễ phân huỷ sinh học ).NOS được các định bằng lượng oxy cần thiệt để oxy hoá các chất hữu cơ dạng hoà tan , dạng keo và một phần dạng lơ lửng với sự tham gia của các vi sinh vật trong điều kiện hiếu khí, được tính bằng mgO2 /l hay đơn giản là mg/l . Trong thực tế , thường dử dụng thông số NOS5 , BOD5 ( 5 ngày ủ ).

  • Đối với nước thải sinh hoạt , thông thường NOS =68% NOH, còn đối với nước thải công nghiệp thì quan hệ giữa NOS và NOH rất khác nhau , tuỳ theo từng ngành công nghiệp cụ thể.

  • Nitơ có trong nước thải ở dạng liên kết hữu cơ và vô cơ.Trong nước thải sinh hoạt , phần lớn các liên kết hữu cơ là các chất có nguồn gốc protit, thực phẩm dư thừa. Còn nitơ trong các liên kết vô cơ gồm các dạng khử NH4+ ,NH3 , và dạng oxy hoá : NO2-,NO3-. Tuy nhiên trong nước thải chưa xử lí, về nguyên tắc thường không có NO2-,NO3-.

  • Chất hoạt động bề mặt: Các chất hoạt động bề mặt là những chất hữu cơ gồm hai phần: kỵ nước và ưa nước tạo nên sự hoà tan của các chất đó trong dầu và nước. Nguồn tại ra các chất hoạt động bề mặt là do việc dử dụng các chất tẩy rửa trong sinh hoạt và trong công nghiệp. Sự có mặt của các chất hoạt động bề mặt trong nước thải cso ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn xử lí. Các chất này làm cản trở quá trình lắng của các hạt lơ lửng, tạo nên hiện tượng sủi bọt trong các công trình xử lí, kiềm hãm các quá trình xử lí sinh học.

  • Oxy hoà tan: Oxy hoà tan (DO) là một trong những chỉ tiêu quan trọng trong quá trình xử lí sinh học hiếu khí. Lượng oxy hoà tan trong nước thải ban đầu dẫn và trạm xử lí thường bằng không hoặc rất nhỏ. Trong khi đó, trong các công trình xử lí sinh học hiếu khí thì lượng oxy hoà tan cần thiết không nhỏ hơn 2mg/l. Trong nước thải sau xử lí, lượng oxy hoà tan không được nhỏ hơn 4mg/l đối với nguồn nước dung để cấp nước (loại A) và không nhỏ hơn 6mg/l đối với nguồn nước dùng để nuôi cá.

  • Kim loại nặng và các chất độc hại: Kim loại nặng trong nước thải có ảnh hưởng đáng kể đến các quá trình xử lí, nhất là xử li sinh học . Các kim loại nặng độc hại gồm: niken, đồng chì, coban, crom, thuỷ ngân, cadmi. Ngoài ra, có một số nguyên tố độc hại khác không phải kim loại nặng như: Xianua, stibi (Sb), Bo… Kim loại nặng thường có trong nước thải của một số ngành công nghiệp hoá chất, xi mạ, dệt nhuộm và một số ngành công nghiệp khác. Trong nước thải, chúng thường tồn tại dưới dạng cation và trong liên kết với các chất hữu cơ và vô cơ.

1.2: Tổng quan về nước thải ngành chăn nuôi:

1.2.1: Tổng quan về ngành chăn nuôi heo ở Việt Nam:

Theo đánh giá của tổ chức Nông Lương Thế Giới (FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dung các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất. Chăn nuôi Việt Nam , cũng như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dung trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu. Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi nước ta phát triển với tốc độ nhanh (bình quân giai đoạn 2001 – 2006 đạt 8,9%).



Bảng 1: Số lượng trại chăn nuôi tính đến năm 2006



Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp hàng năm

Đơn vị : %



Trong những năm gần đây,xu hướng chăn nuôi nhỏ lẻ đã giảm đi đáng kể. Tỉ lệ số hộ chăn nuôi 1 con heo giảm đi rõ rêt từ 45% ( 1994) xuống 30% (2001). Tuy nhiên, tỉ lệ số hộ chăn nuôi 2 con lợn năm 2001 vẫn chiếm 67% tổng số hộ so với năm năm 1994 là 84%. Qui mô phát triển chăn nuôi của các hộ đã lớn hơn nhưng vẫn còn nhỏ, tính chuyên môn hoá chưa cao.

Trong xu thế chuyên môn hoá sản xuất, hình thức chăn nuôi tập trung ngày càng phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Hiện nay, số lượng các trang trại chăn nuôi qui mô lớn ngày càng tăng, các trại chăn nuôi heo tập trung có khoảng 400 – 500 đầu con có mặt thường xuyên trong chuồng. Tính đến năm 2006, cả nước có 17 721 trang trại, trong đó có 7 475 trang trại ( miền Bắc 3 069 trang trại, miền Nam 4 406) với 2990 trang trại nuôi lợn nái.

Hình 1 : Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm về số con



1.2.2: Những đặc trưng cơ bản của nước thải ngành chăn nuôi:

Nước thải ngành chăn nuôi là một loại nước thải rất đặc trưng và có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao do có chứa hàm lượng cao chất hữu cơ, cặn lơ lửng, N, P VSV gây bệnh. Theo đánh giá kết quả hiện trạng môi trường của Viện chăn nuôi (2006) tại các cơ sở chăn nuôi có qui mô tập trung tại Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy đặc điểm của nước thải chăn nuôi:



  • Các chất hữu cơ: các hợp chất hữu cơ chiếm 70 – 80% cenllulose, protit, acid amin, chất béo, hidrat cacbon và các dẫn xuất của chúng, thức ăn thừa. Các chất vô cơ chiếm 20 – 30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO4-

  • N và P: khả năng hấp thụ N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém, nên khi thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài qua phân và nước tiểu. Trong nước thải chăn nuôi heo, thường chứa hàm lượng N và P rất cao. Hàm lượng N – tổng = 200 – 350mg/l trong đó N-NH4 chiếm khoảng 80 – 90%; P tổng = 60 – 100 mg/l.

  • Vi sinh vật gây bệnh: Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh.

Bảng 3: Chất lượng nước thải theo điều tra tại các trại chăn nuôi tập trung (Năm 2006)

Chất thải trong chăn nuôi (nước tiểu vật nuôi, nước tắm, nước rửa chuồng, vệ sinh dụng cụ…) ước tính khoảng vài chục nghìn tỷ m3/năm.



1.2.3: Tình hình quản lí nước thải chăn nuôi trong và ngoài nước:

a, Tình hình quản lí nước thải chăn nuôi trong nước:

Nước thải chăn nuôi heo là loại ít được sử dụng và khó quản lí nhất do:


  • Nước lượng nước thải lớn, lượng nước sử dụng cho nhu cầu uống, rửa chuồng và tắm cho lợn là 30 – 50 L/1con.ngđ.

  • Lượng nước thải quá lớn, không thể sử dụng hết cho diện tích đất canh tác xung quanh.

  • Nước thải có mùi hôi thối, khó vận chuyển đi xa để vận chuyển cho các mục đích nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản.

Hình 2: Mục đích sử dụng nước thải chăn nuôi trong quá trình điều tra tại một số huyện thuộc Tp.HCM

Theo kết quả điều tra đánh giá hiện trường môi trường của Viện chăn nuôi (2006) tại các cơ sở chăn nuôi lợn có qui mô tập trung tại Hà Nội, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy: nước thải của các cơ sở chăn nuôi lơn bao gồm nước tiểu, rửa chuồng. máng ăn, máng uống và nước tắm rửa cho lợn. Cả 10 cơ sở chăn nuôi được điều tra chỉ có hệ thống xử lí chất thải lỏng bằng công nghệ biogas. Kết quả điều tra cho thấy hệ thống xử lí nước thải tại các trại chăn nuôi: Nước thải  bể biogas  hồ sinh học  thải ra môi trường. Hầu hết các trại chăn nuôi lợn khác cũng có sơ đồ xử lí nước thải như trên.

Nhìn chung, việc quản lí chất thải nuôi lợn đang gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu sử dụng chất thải chăn nuôi lợn trong nông nghiệp còn rất thấp. Vì vậy cần có nhiều biện pháp tích cực kết hợp để giải quyết vấn đề quản lí và khắc phục sự ô nhiễm môi trường do một lượng chất thải rắn chăn nuôi gây ra.

Bảng 4: Phương pháp xử lí và sử dụng nước thải tại các cơ sở chăn nuôi

b, Tình hình quản lí nước thải chăn nuôi heo trên thế giới:

Việc xử lí nước thải chănn nuôi heo đã được nghiên cứu triển khai ở cách nước phát triển cách đây vài chục năm. Các nghiên cứu của các tổ chức và các tác giả như (Zhang và Fellman, 1997), (Boone và CS.., 1993), (Smith và Frank, 1988)… Các công nghệ áp dụng cho xử lí nước thải trên thế chủ yếu là phương pháp sinh học. Ở các nước phát triển, qui mô hang tram hecta, trong trang trại ngoài chăn nuôi lợn trên qui mô lớn (trên 10000 con lợn), phân lợn và chất thải lợn chủ yếu làm phân vi sinh và năng lượng Biogas cho máy phát điện, nước thải chăn nuôi được sử dụng cho các mục đích nông nghiệp.

Hình 3: Mô hình quản lí chất thải rắn và nước thải trên thế giới

Tại các nước phát triển việc ứng dụng các phương pháp sinh học trong xử lí nước thải chăn nuôi được nghiên cứu, ứng dụng và cải tiến trong nhiều năm qua.

Tại Hà Lan, nước thải chăn nuôi được xử lí bằng công nghệ SBR qua 2 giai đoạn: giai đoạn hiếu khí chuyển hoá thành phần hữu cơ thành CO2, nhiệt năng và nước, amoni được nitrat hoá thành nitrit và/hoặc khí nito, giai đoạn kị khí xảy ra quá trình nitrat hoá thành nito. Phốtphat được loại bỏ từ pha lỏng bằng định lượng vôi vào bể sục khí (Willers et al., 1994).

Tại Tây Ban Nha, nước thải chăn nuôi được xử lí bằng qui trình VALPUREN (được cấp bằng sáng chế Tây Ban Nha số P9900761). Đây là qui trình xử lí kết hợp phân huỷ kị khí tạo hơi nước và làm khô bùn bằng nhiệt năng được cấp bởi hộ trợ khí sinh học và khí tự nhiên.

Tại Thái Lan, công trình xử lí nước thải sau Biogas là UASB. Đây là công trình xử lí sinh học kị khí ngược dòng. Nước thải được đưa vào từ dưới lên, xuyên qua lớp bùn kị khí lơ lửng ở các dạng bông bùn mịn. Quá trình khoáng hoá các chất hữu cơ diễn ra khi nước thải tiếp xúc với bông bùn này. Một phần khsi sinh ra trong quá trình phân huỷ kị khí (CH4, CO2 và một số khí khác) sẽ kết dính với các bông bùn lên lơ lửng trong bùn, tạo sự khuấy trộn đều giữa bùn và nước. Khi lên đến đỉnh bể, các bọt khí được giải phóng với khí tự do và bùn sẽ rơi xuống. Để tăng tiếp xúc giữa nước thải và các bông bùn, lượng khí tự do sau khi thoát ra khỏi bề mặt được tuần hoàn trở lại hệ thống.



tải về 436.46 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương