Lời nóI ĐẦU



tải về 499 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu12.11.2017
Kích499 Kb.
#1552
  1   2   3   4

LỜI NÓI ĐẦU
Từ một chi bộ thị trấn thuộc huyện An Hải trở thành Đảng bộ phường trực thuộc Quận ủy Hồng Bàng, Đảng bộ phường Quán Toan đã trải qua 30 năm (1979 - 2009) xây dựng và phát triển. Tuy thời gian không dài, nhưng những thành tích mà cán bộ, đảng viên và nhân dân phường đã đạt được là rất đáng tự hào, để lại những dấu ấn không thể nào quên.

Nhìn lại chặng đường hình thành, xây dựng, phát triển, Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng của phường đã có những bước phát triển toàn diện. Tổ chức Đảng và hệ thống chính trị được xây dựng hoàn chỉnh, tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng ổn định, cơ sở hạ tầng bước đầu được đầu tư. Phường Quán Toan đã có những bước tiến với tốc độ nhanh, trở thành một trong những phường khá của quận Hồng Bàng.

Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập đơn vị hành chính Quán Toan, Đảng uỷ phường chỉ đạo tiến hành biên soạn cuốn Lịch sử Đảng bộ phường Quán Toan nhằm ghi lại những trang lịch sử đáng tự hào của cán bộ, đảng viên và nhân dân Quán Toan, góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ hiện tại và mai sau. Trong quá trình sưu tầm, biên soạn, Đảng uỷ đã nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của cán bộ, đảng viên và lãnh đạo phường qua các thời kỳ. Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ của tập thể và cá nhân để hoàn thành công trình đáng trân trọng này.

Tuy đã có nhiều cố gắng, song do công tác lưu trữ tài liệu chưa thực sự tốt nên cuốn sách khó tránh khỏi hạn chế, thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong toàn phường và của những người con của Quán Toan đang công tác, sinh sống ở khắp mọi miền trong nước và nước ngoài để dịp biên soạn sau đạt chất lượng tốt hơn.





T/M ĐẢNG UỶ PHƯỜNG QUÁN TOAN

BÍ THƯ
Vũ Thị Hà


CHƯƠNG MỘT



SƠ LƯỢC VỀ VÙNG ĐẤT

VÀ CON NGƯỜI QUÁN TOAN
Phường Quán Toan nằm ở cửa ô phía tây - bắc thành phố Hải Phòng. Diện tích là 224 ha, dân số 9245 người (tính đến 31-12-2008).

Nơi đây là đầu mối giao thông lớn, có tầm chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, là nơi hội tụ hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, giao nhau của quốc lộ 5 - quốc lộ 10, nối Hải Phòng với Hà Nội và vùng đồng bằng duyên hải với vùng mỏ Quảng Ninh. Các cụm công nghiệp, với hàng chục nhà máy, xí nghiệp, cơ sở kinh doanh được hình thành, đóng góp quan trọng cho ngân sách của thành phố. Cơ sở hạ tầng được xây dựng với tốc độ nhanh. Giáo dục, văn hóa, y tế, thể dục, thể thao... khá phát triển. Quán Toan từng bước trưởng thành, đã và đang đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của quận Hồng Bàng và thành phố Hải Phòng.

Năm 1979, trước yêu cầu phát triển chung, thị trấn Quán Toan, thuộc huyện An Hải, được thành lập. Ngày 01/01/1994, phường Quán Toan được hình thành trên cơ sở thị trấn và một phần dân cư, đất đai của các xã Nam Sơn, An Hưng, thuộc huyện An Hải, nay là huyện An Dương.

Quán Toan hiện nay, trước đây thuộc các phần đất của làng Cống Mỹ, xã Nam Sơn; làng Do Nha xã An Hưng huyện An Hải. Đây là vùng đất được hình thành và có bề dày truyền thống và lịch sử văn hóa. Theo lịch sử xã Nam Sơn, đến giữa thế kỷ 16, khu vực xã có 12 dòng họ từ các địa phương Thái Bình, Hưng Yên hội tụ về khai phá đất hoang, xây dựng cộng đồng. Đình Cả làng Cống Mỹ hiện còn thờ Thành hoàng Phạm Hồng. Dân làng mở hội vào các ngày 11, 12 tháng hai âm lịch hàng năm. Cống Mỹ còn là quê hương của người thợ máy ở Ga Hải Phòng, Nguyễn Văn Tuý, tham gia tổ chức Quang phục hội, ném bom vào khách sạn Hà Nội, giết chết hai thiếu tá Pháp. Ngày 26/4/1913, ông bị thực dân Pháp kết án tử hình, sau đó trốn thoát, không rõ tung tích. Năm 1920, công ty Thuỷ tinh Viễn đông của tư bản Pháp xây dựng nhà máy tại Cống Mỹ, nhưng do khó khăn, cơ sở này không tồn tại được lâu.

Do Nha là một làng có thiết chế văn hóa cổ truyền khá đậm nét. Làng có chùa, đình và 3 miếu. Đình và miếu thờ 3 vị Thành hoàng: Đống Cúc (tên tục là Miếu Quốc); Bến Năng (tên tục là Bến Bưởi); Hội Cấn (tên tục là Cây Ngấn). Đây là 3 anh em họ Nguyễn, tên là Đống, Bến, Cây, người làng Do Nha. Họ sinh cùng năm Kiến Trung đời Trần Thái Tông và mất năm Trung Hưng đời Trần Nhân Tông. Ba anh em thông minh, toàn tài, giúp vua Trần đánh tan quân xâm lược Mông - Nguyên.

Theo truyền ngôn, trước đây khu vực này thưa thớt dân cư, thôn Do Nha chỉ có một quán bán nước chè xanh của ông Mai Ngọc Toan tại ngã ba đi bến Kiền. Dần dần, nơi đây trở thành điểm giao lưu, qua lại của nhân dân và nhiều chức sắc các làng xung quanh. Địa danh Quán Toan được hình thành từ đó.

Về tôn giáo, nhân dân trong vùng chủ yếu theo đạo Phật. Làng Cống Mỹ có chùa Bầu được xây dựng khá sớm. Tại địa bàn khu dân cư số 6, trên nền miếu Cả, năm 1941, nhân dân xây dựng lên đình Đống Hương và năm 1996 được trùng tu khang trang hơn. Từ thế kỷ 17 - 18, Thiên Chúa giáo được du nhập. Một bộ phận nhân dân làng Cống Mỹ lập họ Giáo, số lượng không đông. Năm 1924 nhà thờ được xây dựng, bị bom Mỹ phá năm 1967 và năm 1989 được xây dựng với quy mô nhỏ hơn. Từ năm 2006 xây dựng lại lớn như hiện nay.

Là đơn vị hành chính thành lập muộn nên nguồn gốc và thành phần dân cư của Quán Toan cũng rất đa dạng. Năm 1970, sau khi cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ tạm dừng, trước nhu cầu về nhà ở cho cán bộ, công nhân viên chức, thành phố chủ trương tiến hành xây dựng các khu chung cư cao tầng ở khu vực Quán Toan, Trại Chuối, cánh đồng làng Phụng Pháp, Vạn Mỹ... Cánh đồng của các làng Do Nha, Cống Mỹ nằm bên giao lộ 5 và đường từ Rế đi bến Kiền, cách nội thành khoảng 10km, được chọn để xây dựng khu tập thể, phân cho cán bộ, công nhân viên chức của hơn 20 cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, cảng đóng quanh địa bàn. Các cơ quan có số công nhân chiếm tỷ lệ cao là Đóng tàu Bến Kiền, nhà máy Dụng cụ, Cảng Vật Cách, nhà máy Cân Long Thành... Sau này, khi thành lập thị trấn và phường, một số khu dân cư xã Nam Sơn, An Hưng được sáp nhập vào Quán Toan. Do vậy, dân cư phường Quán Toan gồm một bộ phận đã định cư từ trước, phần đông là cán bộ, công nhân viên chức, những người đã và đang công tác, lao động ở nhiều cơ quan, đơn vị sản xuất, kinh doanh hoặc đã nhiều năm chiến đấu trên các chiến trường về hưu. Xuất phát từ nhiều miền quê, nhiều ngành nghề, vị trí công tác khác nhau nhưng mọi người đã đoàn kết, tương thân, tương ái, cùng nhau quyết tâm xây dựng, phát triển phường Quán Toan giàu mạnh.

Đến trước khi thành lập thị trấn, các phong trào đấu tranh cách mạng diễn ra trên địa bàn Quán Toan đều gắn liền với lịch sử của vùng đất Nam Sơn, An Hưng, huyện An Dương. Từ năm 1937, đồng chí Vũ Quý, người làng Cống Mỹ, tham gia ban lãnh đạo Thành ủy Hải Phòng, phụ trách phong trào thanh niên, học sinh. Đồng chí lập Đoàn hướng đạo sinh trong học sinh, tổ chức ra vùng nông thôn cắm trại, qua đó, tuyên truyền cách mạng và tinh thần yêu nước trong thanh niên. Những năm 1941 - 1943, đồng chí trở thành cán bộ chủ chốt của Thành ủy và phong trào cách mạng Hải Phòng - Kiến An. Cống Mỹ là nơi đặt cơ sở liên lạc bí mật của Đảng và hình thành tổ chức cứu quốc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền cách mạng các xã Nam Sơn, An Hưng ra đời.

Các tầng lớp nhân dân tăng gia sản xuất “cứu đói”; học bình dân học vụ, xoá nạn mù chữ, diệt “giặc dốt”; xây dựng lực lượng vũ trang chống “thù trong, giặc ngoài”, bảo vệ chính quyền cách mạng và xây dựng chế độ mới.

20/11/1946, Pháp nổ súng đánh chiếm thành phố Hải Phòng. Sau một tuần lễ chiến đấu quyết liệt, lực lượng vũ trang ta rút ra ngoại thành, lập các phòng tuyến ngăn chặn không cho địch mở rộng vùng chiếm đóng. Liên tỉnh Hải - Kiến lập 5 mặt trận, trong đó mặt trận An Dương - Cam Lộ có tầm quan trọng không cho quân Pháp mở thông đường 5 với Hà Nội. Mặt trận này có 2 tuyến phòng thủ. Tuyến 1 bố trí dọc theo đường 5, từ Cam Lộ đến Quán Toan. Nhân dân hai bên đường 5 tích cực đào đường, đắp ụ, phá huỷ đường sắt... Lực lượng tự vệ các xã phối hợp cùng Vệ quốc đoàn tổ chức trận địa ở Quán Toan sẵn sàng chiến đấu chặn địch. Ngày 21/12/1946, một ngày sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, hơn 1 trung đoàn lính Âu - Phi, có tàu chiến trên sông Cấm, sông Tam Bạc, xe tăng, máy bay hỗ trợ đổ bộ lên Cống Mỹ, tiến công vào các trận địa của ta, buộc ta phải rút lui. Phòng tuyến An Dương - Cam Lộ bị vỡ, nhân dân các xã quanh khu vực Quán Toan tản cư ra vùng tự do.

Sau khi chiếm Hải Phòng, Hà Nội, thực dân Pháp lập hệ thống đồn bốt bảo vệ tuyến đường 5, đường sắt Hải Phòng - Hà Nội, chiếm giữ một số nhà thờ Công giáo ở Cống Mỹ, Quỳnh Hoàng... Từ năm 1950, khu vực Quán Toan hình thành 2 dãy nhà bên đường 5 (một dãy từ ngã ba cây xăng đến gần cống Trắng; một dãy từ khu vực Trạm công an 26 đến khu Đống Bình). Quân Pháp chiếm toàn bộ khu chợ để xây đồn bốt, lô cốt phòng ngự.

Trong những năm kháng chiến, bộ đội, du kích và nhân dân dọc đường 5 liên tục tổ chức các trận phục kích, đặt mìn chặn đánh những đoàn tàu, xe vận tải của địch, gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng nề. Xe nhà binh Pháp tuần tiễu suốt ngày đêm cùng với hệ thống đồn bốt, boongke bảo vệ đường 5, nhưng vẫn không ngăn chặn được những đội quân “Xuất quỷ nhập thần”. Khu vực Quán Toan, một lực lượng lớn lính Âu - Phi chốt giữ bảo vệ nhưng vẫn thường xuyên bị tập kích. Tàu hoả vẫn bị lật, xe ôtô vẫn bị đánh cháy. Cho đến khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đường 5 - con đường huyết mạch - không bao giờ ngừng tiếng súng đánh địch của quân và dân ta. Quán Toan trở thành căn cứ quan trọng của địch bảo vệ thành phố Hải Phòng, tỉnh lỵ Kiến An, bảo đảm an toàn tuyến giao thông sắt, bộ Hải Phòng - Hà Nội và các tỉnh.

Theo Hiệp định Giơnevơ, Hải Phòng - Kiến An nằm trong khu tập kết 300 ngày chuyển quân của Pháp. Tại đây, chúng đẩy mạnh âm mưu dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam, phá hoại thiết bị, bắt lính... Cán bộ, bộ đội vào các làng Cống Mỹ, Quỳnh Hoàng, nơi có đông đồng bào theo đạo Thiên Chúa, vạch trần thủ đoạn của địch, vận động bà con không mắc mưu địch, yên tâm ở lại xây dựng quê hương. Cùng đó, hàng ngày, đông đảo nhân dân, chủ yếu là chị em phụ nữ kéo đến vị trí địch đấu tranh đòi chồng con, vận động anh em binh sĩ trở về với gia đình. Hơn 70 ngụy binh ở các bốt Quán Toan, Cống Sến, Quỳnh Hoàng mang theo vũ khí ra hàng.

Từ đầu tháng 5/1955, quân Pháp rút bỏ các vị trí đóng trên đường 5. Sáng sớm ngày 13/5/1955 bộ đội ta từ các hướng tiến về tiếp quản giải phóng thành phố. Hải Phòng được giải phóng. Miền Bắc Việt Nam được giải phóng hoàn toàn.

Bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, các địa phương tập trung vào thực hiện hợp tác hoá, thành lập hợp tác xã nông nghiệp, mua bán, tín dụng. Khu vực Quán Toan trở thành đầu mối giao thông quan trọng về đường bộ, đường sắt, đường sông. Các đơn vị, trạm công an, hạt quản lý giao thông và một số cơ sở sản xuất, kinh doanh được xây dựng, nhất là dọc đường 5 ven sông Cấm. Những cánh đồng được đưa vào hợp tác xã, chủ yếu trồng lúa và rau màu. Kinh tế - xã hội của xã An Hưng, Nam Sơn được nâng cao, đời sống nhân dân được cải thiện rõ nét. Các phong trào của địa phương được phát triển. Cơ sở hạ tầng, vật chất, kỹ thuật của các hợp tác xã, của xã; công trình trường học, nhà trẻ được xây dựng. Tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể hoạt động tích cực.

Ngày 5/8/1964, đế quốc Mỹ dùng không quân và hải quân ném bom bắn phá miền Bắc. Khu vực Quán Toan, ngã tư giao thông quốc lộ 5, tuyến Kiến An - Rế - bến Kiền, đường sắt, đường sông, gần bến phà Kiền, có các cơ sở sản xuất, bến cảng ven sông Cấm... trở thành mục tiêu bắn phá của máy bay Mỹ. Nhân dân các xã đẩy mạnh công tác phòng không nhân dân, đào hầm hố phòng tránh, đón tiếp, sắp xếp nơi ăn chốn ở cho đồng bào nội thành sơ tán về. Quán Toan trở thành khu tập kết, trung chuyển hàng hóa, xăng dầu từ cảng để vận chuyển đi các địa phương miền Bắc và chi viện cho tiền tuyến. Các trận địa pháo cao xạ bảo vệ các tuyến giao thông và thành phố được xây dựng. Máy bay Mỹ ngày đêm bắn phá vào khu vực Quán Toan, gây cho ta nhiều thiệt hại.

Ngày 29/ 6/1966, máy bay Mỹ ném bom vào Tổng kho xăng dầu Thượng Lý (Hải Phòng), Đức Giang (Hà Nội) - chính thức ném bom vào nội thành hai thành phố lớn nhất miền Bắc. Tình hình trở lên nghiêm trọng. Ngày 17/7/1966, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi, khẳng định quyết tâm của nhân dân ta đánh thắng giặc Mỹ xâm lược và không có gì quý hơn độc lập, tự do. Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, quân dân Hải Phòng đẩy mạnh các phong trào sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, đảm bảo giao thông vận tải là nhiệm vụ trung tâm đột xuất số 1. Hàng hóa viện trợ của các nước bè bạn trên thế giới đến cảng Hải Phòng được chuyển qua hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường sắt ra tuyền tuyến. Do vậy, cuộc chiến đấu của quân dân Hải Phòng bảo vệ hệ thống giao thông có vị trí sống còn.

Từ đầu năm 1967, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá đường 5 và các cơ sở kinh tế, quân sự của Hà Nội - Hải Phòng. Tuyến đường 5, các bến phà Kiền, phà Bính, các cảng ven sông Cấm, bị bom đạn suốt ngày đêm, Nhà thờ Cống Mỹ được xây dựng năm 1924, bị bom Mỹ tàn phá, chỉ còn lại phần móng. Ga Vật Cách, Dụ Nghĩa, đoạn đường sắt khu Cống Mỹ, cầu Cách Thượng bị bom đạn tàn phá. Nhân dân ở gần các trọng điểm, từ Quán Toan đến An Lạc, khẩn trương sơ tán người già, em nhỏ về các địa phương bạn. Những người khoẻ mạnh, có trách nhiệm ở lại bám trụ sản xuất, phục vụ chiến đấu và trực tiếp chiến đấu. Trận địa pháo ở khu vực Quán Toan bị bắn phá nhiều lần. Mỗi lần máy bay Mỹ đến, dân quân, tự vệ các làng xã lao đến trận địa tham gia tiếp đạn, tải thương, sẵn sàng thay thế các vị trí pháo thủ. Bất chấp bom đạn, những cánh đồng quanh trận địa phòng không, xã viên hợp tác xã nông nghiệp vẫn tranh thủ ngày đêm sản xuất. Các nhà máy, xí nghiệp ven đường 5, ven sông Cấm vẫn sản xuất, làm ra những sản phẩm phục vụ quốc phòng và đời sống nhân dân.

Bị thất bại nặng nề ở cả hai miền Nam - Bắc, ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ buộc phải tuyên bố ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra và từ ngày 1/11/1968, trên toàn miền Bắc. Quân dân miền Bắc tranh thủ thời gian tạm thời có hoà bình, tập trung khôi phục kinh tế, tăng cường công tác xây dựng Đảng, chính quyền và đoàn thể quần chúng, củng cố lực lượng, sẵn sàng chiến đấu, tích cực chi viện cho tiền tuyến. Công trường, nhà máy, xí nghiệp, nhân dân từ các nơi sơ tán trở về nhanh chóng ổn định và phát triển sản xuất. Nhu cầu việc làm, nhà ở của công nhân, viên chức là rất lớn. Do vậy năm 1970, Thành uỷ chủ trương xây dựng các khu nhà tập thể cao tầng ở Quán Toan, Trại Chuối, Vạn Mỹ, Cầu Tre, Phụng Pháp... để phục vụ cho cán bộ, công nhân viên chức. Năm 1971, những lô nhà cao tầng đầu tiên được xây dựng. Cán bộ, công nhân, viên chức của cơ quan, nhà máy, xí nghiệp trong khu vực Đóng tàu Bến Kiền, nhà máy Dụng cụ, Cân Long Thành,... được ưu tiên phân đến ở. Công việc xây dựng tạm dừng khi đế quốc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 (năm 1972) và chỉ được nối lại sau Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết.

Miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Trên đống đổ nát, bị bom địch cày xới, khu tập thể Quán Toan được xây dựng với tốc độ nhanh hơn. Tám lô nhà cao tầng được hoàn thành, được phân cho cán bộ, công nhân, viên chức của 13 cơ quan, xí nghiệp trung ương, thành phố và một số nhân dân ở nội thành. Đến năm 1978 - 1979, theo chỉ thị của Trung ương, Hải Phòng chọn khu tập thể Quán Toan làm nơi tập kết hàng trăm người Hoa chờ để về Trung Quốc. Đến thời điểm này, khu vực Quán Toan đã trở thành khu dân cư lớn, các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp được xây dựng khá nhiều, đảm bảo có đủ điều kiện hình thành một đơn vị hành chính. Trước yêu cầu của công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, theo đề nghị của thành phố, tháng 11/1979, Hội đồng Bộ trưởng (Chính Phủ) có quyết định thành lập thị trấn Quán Toan, thuộc huyện An Hải.

Từ khu tập thể chung cư nằm ở cửa ô Tây - Bắc thành phố, đơn vị hành chính được hình thành, mở ra một chương lịch sử mới cho quá trình phát triển và trưởng thành của thị trấn - phường Quán Toan - quận Hồng Bàng.

CHƯƠNG HAI

THÀNH LẬP THỊ TRẤN QUÁN TOAN,

CỦNG CỐ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ - XÃ HỘI

(1979 - 1993)
Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, ngày 1-11-1979, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định thành lập thị trấn Quán Toan, thuộc huyện An Hải. Thị trấn Quán Toan được thành lập trong điều kiện tình hình kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của đất nước, thành phố có những diễn biến phức tạp. Song việc hình thành một đơn vị hành chính mới ở địa bàn chiến lược ở cửa ô phía Tây - Bắc có tầm quan trọng đặc biệt cho hiện tại và hướng phát triển lâu dài của thành phố Hải Phòng.

Mới thành lập, mọi thứ đều khó khăn, thiếu thốn.Trụ sở chưa có, tạm bố trí tại khu nhà tầng. Hệ thống chính trị chưa đồng bộ, tổ chức Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ thị trấn chưa được thành lập. Tháng 12/1979, huyện uỷ An Hải quyết định thành lập chi bộ Quán Toan, gồm 8 đảng viên và chỉ định đồng chí Bùi Văn Luyến giữ chức Bí thư Chi bộ, kiêm Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc; đồng chí Lê Thị Tập giữ chức Chủ tịch ủy ban nhân dân. Các đồng chí Nguyễn Đức Xuân làm chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự, đồng chí Trần Khoa Hỗ làm Trưởng đồn Công an Quán Toan. Nhiệm vụ chính trị của chi bộ thị trấn lúc này là ổn định tổ chức bộ máy; kiện toàn hệ thống chính trị, quản lý đô thị, đảm bảo trật tự an ninh, ổn định đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Chi bộ thị trấn tập trung vào công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên mới, chuẩn bị điều kiện tiến tới thành lập Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ thị trấn... Chính quyền thị trấn khẩn trương tổ chức bầu trưởng các lô nhà, lập Ban bảo vệ dân phố, tổ an ninh nhân dân, tổ hòa giải. Các cơ sở cửa hàng lương thực, thực phẩm, các hộ kinh doanh nhỏ được sắp xếp lại. Tháng 8-1980, đồng chí Bùi Văn Luyến nghỉ hưu, huyện ủy điều đồng chí Nguyễn Trà Khúc về giữ chức Bí thư chi bộ. Thời kỳ này chi bộ có 14 đảng viên và chi ủy gồm 3 đồng chí.

Quán Toan là địa bàn có vị trí đặc biệt quan trọng về thế trận an ninh - quốc phòng. Vào thời điểm này, tình hình an ninh diễn biến phức tạp, tiêu cực xã hội nảy sinh, trộm cắp, cướp giật, trấn lột xảy ra thường xuyên. Tuyến đường 5, đường sông xuất hiện nhiều băng nhóm tội phạm nguy hiểm. Đặc biệt là băng “Cơn lốc đường 5” chuyên trộm cắp, cướp giật tài sản, vật tư trên các phương tiện ô tô, tàu hỏa. Tình hình đó đòi hỏi phải có lực lượng công an đủ mạnh để đấu tranh trấn áp bọn tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự. Do vậy, ngày 15/4/1979 đồn công an Quán Toan được thành lập. Đồn đã nêu cao trách nhiệm tham mưu cho cấp ủy, chính quyền triển khai công tác bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn, trực tiếp trấn áp, triệt phá các băng nhóm tội phạm. Sau 3 năm hoạt động, năm 1981, đồn được tách làm 2 đơn vị: Trạm cảnh sát giao thông, làm công tác bảo đảm an toàn trật tự giao thông trên quốc lộ 5; Công an thị trấn Quán Toan có nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự trên địa bàn. Đồng chí Trần Hữu Thược, Trưởng công an, được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn.

Công an thị trấn đã tham mưu cho Chi ủy, ủy ban nhân dân phát động hưởng ứng phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, “Ngọn đèn, chiếc gậy và tiếng kẻng an ninh”. Ban bảo vệ dân phố, Tổ an ninh nhân dân, Tổ hòa giải hoạt động tích cực, có hiệu quả. Nhiều nhóm tội phạm bị phát hiện, triệt xóa. Lực lượng công an thị trấn phối hợp với công an huyện An Hải bắt quả tang một nhóm chuyên trộm cắp vật tư, tài sản của Nhà nước, thu hơn 30 kg thuốc nổ và nhiều kíp nổ, ngăn chặn kịp thời hậu quả xấu có thể xảy ra.

Thị trấn được thành lập sau chiến tranh biên giới phía bắc kết thúc, nhưng thành phố vẫn trong tình trạng vừa hòa bình vừa có thể xảy ra chiến tranh. Do vậy, công tác quân sự địa phương được coi trọng. Ban chỉ huy quân sự thị trấn, do đồng chí Nguyễn Đức Xuân làm Chỉ huy trưởng, đã chủ động tập trung vào công tác huấn luyện, giáo dục, động viên thanh niên lên đường nhập ngũ bảo vệ Tổ quốc. Trung đội dân quân cơ động được huấn luyện tốt, sẵn sàng làm nhiệm vụ. Ban phối hợp với Đoàn thanh niên thị trấn coi trọng giáo dục đoàn viên, thanh niên tinh thần yêu nước, căm thù giặc, hăng hái tòng quân. Đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; chăm lo các gia đình liệt sỹ, thương binh, quân nhân tại ngũ, góp phần động viên các chiến sĩ bảo vệ biên cương. Hàng năm, Quán Toan đều hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu giao quân.

Tuy vậy, tình hình Quán Toan cũng đã nảy sinh những phức tạp trong nội bộ cán bộ, các đoàn thể. Đến tháng 9/1989, Huyện ủy An Hải đã quyết định kiện toàn cấp ủy thị trấn và cử đồng chí Dương Văn Sơn giữ chức Bí thư Đảng ủy. Trong giai đoạn này, Ban Chấp hành Đảng bộ thị trấn tập trung củng cố tổ chức kiện toàn các đoàn thể tổ dân phố tại các lô nhà. Mọi hoạt động của thị trấn dần đi vào nền nếp.

Mặt trận Tổ quốc thị trấn có 7 ủy viên, thực hiện chức năng phát huy và mở rộng khối đoàn kết toàn dân; tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia các hoạt động của địa phương; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền vững mạnh.

Toàn thị trấn có một chi Đoàn thanh niên. Bí thư Đoàn lần lượt là các đồng chí cảnh sát khu vực, Quản đốc phân xưởng nhà máy Đóng tàu Bến Kiền, giáo viên trường cấp I, II kiêm nhiệm, nhưng đã có nhiều hoạt động thiết thực. Hoạt động của Đoàn thời gian này chủ yếu là tập hợp thanh, thiếu niên qua các hình thức hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao. Các câu lạc bộ bóng đá, bóng chuyền được thành lập. Đoàn đã phối hợp với Lữ đoàn 125 Hải quân, hợp tác xã 15/4 tổ chức nhiều hoạt động sôi nổi như: cắm trại, dạ hội thanh niên, thi đấu bóng đá, bóng chuyền. Hè hằng năm, các hoạt động hè của thiếu nhi toàn thị trấn diễn ra sôi nổi. Đội bóng đá của thanh niên thị trấn thường xuyên thi đấu giao hữu với các xã bạn, thu hút đông đảo nhân dân cổ vũ.

Sau 10 năm thành lập thị trấn, Ban Chấp hành Hội phụ nữ mới được hình thành, gồm 5 ủy viên. Các ủy viên Ban Chấp hành với trách nhiệm cao, đến từng hộ gia đình vận động chị em đã nghỉ chế độ và số giáo viên ở trường mầm non, trường cấp I - II tham gia tổ chức hội. Sau 2 tháng, tháng 10/1989, Chi hội Phụ nữ đã phát triển tới 153 hội viên. Trên cơ sở đó, năm 1990, Hội phụ nữ thị trấn được thành lập, do chị Phạm Thị Phòng làm Chủ tịch; chị Nguyễn Thị Liễu làm Phó chủ tịch. Hội đã tập trung vào củng cố tổ chức, phát triển hội viên và triển khai các phong trào do Trung ương hội phát động. Từ những năm đầu thập niên chín mươi, Hội Phụ nữ thực hiện 2 cuộc vận động lớn: “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình” và “Nuôi con khỏe, dạy con ngoan, góp phần hạn chế trẻ em suy dinh dưỡng và trẻ em bỏ học”. Hội xây dựng kế hoạch, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho hội viên nắm được chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần; về vai trò, vị trí của kinh tế gia đình trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hội thực hiện tốt sự chỉ đạo của Đảng ủy, phối kết hợp của ủy ban nhân dân, cùng Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, vận động hội viên tận dụng đất đai gò đống, đầm hồ để trồng thêm rau màu, cây ăn quả, nuôi thả cá, chăn nuôi gia súc, gia cầm; tổ chức thêu ren, móc chỉ, làm giấy tiền vàng xuất khẩu sang Đài Loan... Hội mở các lớp tập huấn để trao đổi kinh nghiệm sản xuất, kỹ thuật thâm canh, giúp nhau giống, vốn. Tính đến năm 1993, chị em hội viên đã giúp nhau hàng nghìn cây, con giống; hàng trăm ngày công, hàng chục tấn gạo, phân đạm cho các gia đình hội viên nghèo, khó khăn, gia đình chính sách. Qua đó, nhiều gia đình hội viên đã giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống. ở đâu có phong trào phụ nữ thì ở đó sạch đường, đẹp phố, góp phần tích cực trong việc thực hiện xây dựng nếp sống văn minh đô thị.

Những năm 1990 - 1993, Hội Cựu chiến binh của thị trấn tiến hành 2 kỳ đại hội. Ngày 27/7/1990, Đại hội lần thứ nhất bầu đồng chí Phạm Văn Sửu làm Chủ tịch Hội, đồng chí Phạm Văn Luông làm Phó Chủ tịch, đồng chí Vũ Thanh Khôi làm ủy viên Thư ký (sau đó các đồng chí Phạm Văn Luông, Phạm Văn Thường làm Chủ tịch). Đại hội lần thứ hai được tổ chức ngày 15/6/1993, có 61 đại biểu là hội viên về dự; bầu Ban Chấp hành gồm 7 đồng chí. Đồng chí Vũ Thanh Khôi được bầu làm Chủ tịch (đến giữa nhiệm kỳ đồng chí Nguyễn An Tuyên được bầu làm Chủ tịch, đồng chí Tuẫn làm Phó chủ tịch). Thực hiện nghị quyết Đại hội, Hội Cựu chiến binh thị trấn tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm:

- Tuyên truyền, giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, truyền thống vẻ vang của quân đội nhân dân Việt Nam, bản chất “Bộ đội Cụ Hồ” đối với học sinh nhân ngày 22-12, vào các dịp đăng ký nghĩa vụ quân sự, động viên thanh niên lên đường nhập ngũ.

- Đẩy mạnh phong trào đền ơn đáp nghĩa, phối hợp với Ban Thương binh - Xã hội thực hiện công tác nghĩa tình, thắp hương nhân ngày giỗ các liệt sỹ; tổ chức tang lễ khi hội viên qua đời; đón hài cốt liệt sĩ về quê hương.

- Tín chấp với ngân hàng cho hội viên vay vốn để phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo.

- Đẩy mạnh phong trào văn hoá, văn nghệ hoạt động phục vụ các ngày lễ, hội nghị của thị trấn.

Lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế của thị trấn từng bước ổn định hoạt động, góp phần hiệu quả vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Từ một khu tập thể, gồm những chung cư giành cho cán bộ, công nhân viên chức, cơ sở hạ tầng thiếu thốn nhưng khi trở thành thị trấn, cấp uỷ Đảng, chính quyền giành nhiều sự quan tâm chỉ đạo, tạo mọi điều kiện phát triển văn hoá - xã hội.Hoạt động lễ hội, tín ngưỡng tôn giáo luôn được các cấp uỷ Đảng, chính quyền phường quan tâm. Công tác thông tin, tuyên truyền đã phục vụ kịp thời các hoạt động chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và địa phương. Các lô nhà tích cực hưởng ứng phong trào xây dựng nếp sống mới, gia đình văn hoá, làm tốt công tác vệ sinh môi trường. Bộ mặt thị trấn được ngày càng khang trang, sạch đẹp hơn.

Khi thành lập thị trấn, Quán Toan chưa có trường mầm non, chỉ có 3 nhóm trẻ và 6 nhóm mẫu giáo, với tổng số 100 cháu, 3 giáo viên, do bà Vũ Thị Vẫy làm chủ nhiệm. Số các cháu này là của con em cán bộ, công nhân viên chức các nhà máy, xí nghiệp được phân nhà ở trong khu tập thể và đóng trên địa bàn. Trên cơ sở đó, nhà trẻ liên cơ được thành lập. Nhà trẻ Liên cơ được chỉ đạo chuyên môn của Phòng Bảo vệ bà mẹ và trẻ em, phòng Giáo dục huyện An Hải (nay là huyện An Dương). Cơ sở đầu tiên của trường là các gian nhà tập thể ở A5, sau đó là gác 2 - A6 và đến năm 1981 chuyển về gian nhà tập thể A7 - A8 thị trấn. Năm 1985, trường được thành phố đầu tư hơn 300 triệu đồng xây dựng cơ sở mới 1 nhà 2 tầng, gồm 6 phòng học, để nhận 200 cháu bán trú. Năm 1988, trường được đưa vào sử dụng. Tháng 10 - 1988, Trường mầm non Quán Toan được thành lập, gồm 7 lớp với 186 cháu và 15 cán bộ, giáo viên. Hiệu trưởng là bà Dương Thị Uyên. Tuy được xây dựng mới nhưng trường vẫn còn nhiều hạng mục cần được đầu tư. Sân chơi chỉ là bãi cỏ, có một số tảng bê tông nhà đổ do bom Mỹ để lại, tài sản chỉ là 50 bộ bàn ghế và một số đồ dùng đã cũ.

Trước những khó khăn đó, Đảng bộ, chính quyền đã chỉ đạo Ban giám hiệu vận động các cơ quan, doanh nghiệp và phụ huynh học sinh đóng góp sửa chữa, đầu tư cơ sở vật chất nhà trường. Trường nhận được sự giúp đỡ của Lữ đoàn 125 hải quân, nhà máy gạch An Hồng, nhà máy Dụng cụ và nhân dân, phụ huynh học sinh, giáo viên đã đóng góp hàng trăm ngày công san lấp, trồng cây xanh, tạo sân chơi cho các cháu. Năm 1992 - 1993, Uỷ ban nhân dân huyện An Hải đầu tư 103 triệu đồng nâng cấp 2 phòng học, để trường thu nhận thêm gần 100 cháu vào học. Điều đó tạo cơ sở ban đầu cho trường có bước phát triển mới khi thành lập phường Quán Toan.

Cùng với việc ra đời thị trấn, Trường phổ thông cấp I, II thị trấn Quán Toan được thành lập (sau đổi tên thành Trường phổ thông cơ sở), ông Hoàng Văn Thuỵ là Hiệu trưởng đến tháng 10/1984, ông Nguyễn Viết Dương làm Hiệu trưởng. Qua hơn một thập kỷ (1979 - 1993) hoạt động, trường phổ thông cơ sở Quán Toan không ngừng lớn mạnh và trưởng thành về quy mô, chất lượng dạy và học. Thời kỳ đầu, trường có 9 cán bộ, giáo viên đến năm 1984 tăng lên 15 người và sau đó tăng lên 48 người. Số học sinh tốt nghiệp khoá đầu năm 1984 là 120 em. Năm 1993, trường được huyện và thành phố đầu tư xây dựng khang trang, trang thiết bị được tăng cường. Chất lượng dạy và học của nhà trường được nâng lên. Từ năm 1984, trường nhiều năm liền đạt danh hiệu tiên tiến. Số học sinh ngày càng đông, tỷ lệ khá giỏi cao, thu hút nhiều con em của vùng lân cận đến theo học.

Tháng 7/1987, Trạm y tế được thành lập nhưng còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất. Thời kỳ đầu, Trạm đặt tại trụ sở Uỷ ban nhân dân thị trấn, có 1 cán bộ làm công tác chăm sóc sức khoẻ, quản lý các chương trình y tế quốc gia, tổ chức tiêm chủng, khám và quản lý bệnh phong, do bà Vũ Thị Hà phụ trách. Năm 1990, Trạm được bổ sung một cán bộ y tế, đầu tư một số thiết bị, dụng cụ y tế phục vụ công tác tiêm chủng thường xuyên. Tổ chức trạm được kiện toàn, bà Vũ Thị Hà giữ chức Trạm trưởng. Tuy thành lập muộn, nhưng cán bộ Trạm y tế đã tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tổ chức tốt các chương trình y tế quốc gia, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, tiêm chủng mở rộng, làm tốt công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình.

Từ khi hình thành đơn vị hành chính, Quán Toan đã được các nhà đầu tư, các cơ sở sản xuất, kinh doanh chọn làm địa bàn xây dựng nhà máy, xí nghiệp. Nhiều đơn vị, cơ sở của Trung ương, thành phố trên địa bàn đã có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Quán Toan. Tiêu biểu là các công ty vận tải ôtô số 1 (nay là công ty Cổ phần Vận tải ô tô số 1)...

Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, Công ty đã tham gia nhiều chiến dịch vận tải lớn như VT5 (1969 - 1970), chiến dịch 3-2 (1971 - 1972), MNCT-75 (năm 1975)... vận chuyển vũ khí, khí tài phục vụ tiền tuyến, khắc phục bão lụt, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện công cuộc đổi mới, Công ty được giao thêm nhiệm vụ, tăng cường năng lực, thiết bị... hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đã được Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý. Đơn vị cũng đã góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng phát triển mọi mặt của thị trấn và phường Quán Toan.

Những năm 1979 - 1989 Đảng bộ thị trấn Quán Toan tiến hành 6 kỳ Đại hội. Mỗi kỳ Đại hội đều đánh dấu sự trưởng thành của Đảng bộ và những bước phát triển mới của thị trấn. Các đồng chí Bùi Văn Luyến, Nguyễn Trà Khúc, Lê Thị Tập, Nguyễn Văn Mửng, Hồ Văn Kỉnh, được bầu giữ chức Bí thư chi bộ Bí thư Đảng ủy. Các đồng chí Lê Thị Tập, Hồ Văn Kỉnh - Chủ tịch UBND, được bầu giữ chức Phó Bí thư Đảng ủy, công tác xây dựng Đảng, chính quyền của Đảng bộ có những bước phát triển mới. Từ một chi bộ với 8 đảng viên khi thành lập, đã phát triển thành nhiều chi bộ đến các khu dân cư, nhà trường, cơ quan Uỷ ban nhân dân, công an phường... Số đảng viên cũng được tăng lên rất nhiều. Đảng uỷ đã triển khai, quán triệt sâu sắc các nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc, nhất là đại hội VI, VII, Nghị quyết của huyện uỷ An Hải, làm tốt công tác chính trị tư tưởng trong đảng viên, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và vai trò của chi bộ tại các khu dân cư.

Những năm cuối thập niên 80 đầu thập niên 90, sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô tan rã, một số người đòi “đa nguyên, đa đảng” và đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội... đã tác động trực tiếp đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân hoang mang, dao động, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng uỷ chỉ đạo các chi bộ, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đảng viên, hội viên, đoàn viên bình tĩnh, vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tháng 3/1990, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá 6) ra Nghị quyết 8b về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân” xác định Đảng vừa là người lãnh đạo vừa là thành viên của Mặt trận Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội. Đảng uỷ tiến hành củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể quần chúng. Hội phụ nữ thị trấn được thành lập, có cán bộ chuyên trách. Hội cựu chiến binh được thành lập và hoạt động có nền nếp. Hội Người cao tuổi bước đầu tập hợp đông đảo các cụ cao niên trong thị trấn đã tổ chức các hoạt động, tạo cho các cụ sống vui, sống khoẻ, sống có ích. Mặt trận và các tổ chức quần chúng từng bước đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hóa các mô hình để tập hợp và thu hút quần chúng. Hội viên, đoàn viên tích cực tham gia vào mọi hoạt động, thực hiện đầy đủ chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mặt trận và đoàn thể thực sự là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng.

Uỷ ban nhân dân thị trấn đã triển khai, tổ chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết Đảng bộ. Khác với các thị trấn và các xã, thị trấn Quán Toan có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu là quản lý đô thị, đảm bảo an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, phát triển sự nghiệp văn hoá - xã hội, xây dựng khu dân cư, kinh tế hộ gia đình... Hội đồng nhân dân thị trấn các nhiệm kỳ được tăng cường chất lượng, quyết định những vấn đề quan trọng, góp phần thúc đẩy thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Gần 14 năm (1979 - 1993), Đảng bộ, nhân dân thị trấn Quán Toan, huyện An Hải đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giành được những thành tích rất đáng tự hào. Từ một khu vực gồm các khu nhà tập thể cao tầng, dân cư chủ yếu là cán bộ, công nhân viên chức thuộc các cơ quan, nhà máy, xí nghiệp quanh địa bàn, Quán Toan trở thành một đơn vị hành chính mới, giữ vị trí quan trọng về kinh tế, quốc phòng - an ninh ở cửa ô phía Tây - Bắc thành phố, nằm trên đầu mối giao thông quan trọng Hải Phòng - Hà Nội, đồng bằng sông Hồng với mỏ Quảng Ninh; có nhiều cơ quan doanh nghiệp, Công ty liên doanh với nước ngoài đóng trên địa bàn. Cùng với những ưu thế là những khó khăn: an ninh, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, cơ sở vật chất đô thị hầu như không có gì; đời sống của nhân dân còn nhiều khó khăn. Những năm 1980-1993, thị trấn có tới 232 hộ nghèo, 25 hộ đói. Qua một thập kỷ với nỗ lực phấn đấu, đến đầu những năm 90, tổ chức Đảng và hệ thống chính trị mới được xây dựng cơ bản hoàn chỉnh; văn hoá, giáo dục, y tế bước đầu được đầu tư nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được yêu cầu của một thị trấn mang đậm nét đô thị. Tuy còn nhiều khó khăn song nền nếp đã được tạo dựng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của quận Hồng Bàng.



tải về 499 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương