Lời nóI ĐẦU 4 LỜi tự CÔng-quá-CÁch 8


Lời văn ngăn lòng dục của Đức-Văn-Xương Đế-Quân



tải về 149.53 Kb.
trang4/5
Chuyển đổi dữ liệu09.12.2017
Kích149.53 Kb.
#4332
1   2   3   4   5

Lời văn ngăn lòng dục của

Đức-Văn-Xương Đế-Quân


Biển nghiệp mênh-mông, dữ đầu dọc chẳng qua đều do sắc dục;

Cõi trần tán-loạn, dễ lụy mình duy có món tà dâm.

Đấng anh-hùng, tài nhổ núi, thế trùm đời, mắc chuyện ấy mà bỏ mình mất nước.

Trang nho-sĩ, miệng nhiễu thêu, lòng gấm vóc, nhơn điều nầymà hại tiết hư danh.

Vì ban đầu một sự tưởng đà sai:

Bèn gây đến trọn cả đời khó chuộc.

Sao đi nỡ: Trao thói dâm bữa bữa hừng lên;

Bỏ thiên lý tăm tăm lụng xuống.

Lấy những nết đáng thương đáng xót, trở lại làm đắt kế mừng vui.

Chác những điều chúng giận chúng chê, điềm nhiên vậy không hề biết thẹn.

Chạm khắc thơ từ lời dâm-dục;

Luận đàm mỹ sắc chuyện hung-hăng,

Ven lộ thấy nàng lịch-sự, dòm muốn rớt tròng; trong rèm nom gái nõn-nà, thương hòng đứt ruột.

Hoặc nàng trinh tiết, hoặc gái đức lành, nên kính nên khen thì đã đáng; nỡ bày mưu dụ-dỗ, mà hại người cho không vẹn nết-na.

Như vợ tôi-tớ, như ả thị-tỳ, phải thương phải xót mới rằng là; sao cậy thế bức dâm, mà khiến nó trọn đời nhơ tiết.

Có phải là: Đã khiến họ-hàng người ngậm xấu;

Gây cho con cháu chúng mang nhơ.

Đều cũng bởi: Lòng ngu, khí trược, hiền tránh, nịnh gần.

Há có hay:

Trời đất không dung, thần người rúng giận.

Hoặc vợ con trả nợ. Hoặc con cháu đền bù.

Những mồ mả mấy người tuyệt tự;

Xưa là tay háo sắc cuồn đồ.

Những ông cha các ả thanh-lầu;

Gốc thiệt bọn tham hoa lãng tử.

Mạng phải giàu thì lầu ngọc bộ bôi;

Phần ưng quí thì bản vàng tên nọc.

Tội phải đòn, roi, lưu, đày, chết chém;

Còn sống thì mang ngũ trọng hình.

Sa vào địa-ngục, ngạ-quỷ, súc-sanh, đến thác lại chịu tam đồ khổ.

Các đều ân-ái khi xưa, chừng đó rồi không cả.

Những chuyện phong-lưu buổi nọ, lúc nầy ở nơi mô?

Đến khi sau hối ngộ mà không theo;

Sao chẳng sớm liệu lo mà chớ phạm.

Kính khuyên bọn thanh niên giai-sỉ: (Trai lịch còn thơ).

Cùng với hàng huỳnh quyễn danh lưu (ăn học có danh).

Phải mở-mang mà giác-ngộ tấm lòng:

Đặng khai phá cho khỏi ngằn ma sắc.

Kìa mặt trắng phù-dung thớ-thớ, bất quá thì thịt bọc cốt khô kia;

Nọ má hồng trang-điểm xinh-xinh, thiệt giống giết người đao bén đó.

Dẩu thấy mặt gái nào tợ hoa tợ ngọc của ai:

Hằng gìn mình xem thể như chị như em ta vậy.

Nếu ai chưa mắc đến chuyện nầy;

Phải ngừa trước đừng cho vấp cẳng.

Bằng người đã vướng rồi việc ấy;

Xin sớm mau mong-nả quày đầu.

Lại trông xây trở thông lưu, đắp-đổi cùng nhau khuyên dạy. Ắt là được: Chốn chốn thảy trở về đường giác;

Người người đều qua khỏi bến mê.

Mối dữ dầu đã bỏ đã trừ;

Các tà mị bèn tiêu bèn tán.

Như vậy thì:

Linh-đài chẳng chúc buội nhơ.

Cả đời sang trọng, truyền ra lâu dài, vậy ru!

Vậy có thơ rằng:

Sinh tiền vốn thiệt đẹp dường hoa,

Đến thác rồi ai thấy được mà?

Dẩu có lịch-xinh thêm đánh bóng;

Cốt hài cũng phải thịt bao da.

Thốt-nốt: NGUYỄN-HƯNG-HOÀNH

TRỌNG-QUYỀN

Kính dịch


12 điều cấm Phù-Hựu Đế-Quân


Ông Phù-Hựu Đế-Quân là ông Lữ-Đồng-Tân, vâng chỉ Ngọc-Đế gián cơ khuyên đời, cấm 12 đều phạm tội với ông Táo:

  1. Chửi rủa trước bếp, sẽ bị mọc mụn ghẻ trong miệng, lưỡi và ra máu mủ.

  2. Gõ trên bếp, trên chảo, nồi, trách, trả, sẻ bị co rút tay chơn, sanh con ngỗ-nghịch,

  3. Chụm củi dơ, vấy phẩn, hơi nhơ-uế bay lên trời, sẻ bị ôn dịch.

  4. Đốt xương thú, lông loài cầm, (gà, chim) hơi than khét bay lên, sẽ bị nhiều bịnh dữ.

  5. Rửa chân gần bếp, sẽ bị sản nạn, hoặc là đi nhót và phong cùi

  6. Hong áo gần bếp, sẽ bị nuôi con không đặng.

  7. Tắm gần bếp, sẽ bị tuyệt tự.

  8. Dâm dục gần bếp, đời sau đầu thai làm trâu bị Trời đánh.

  9. Đốt giấy chữ trong bếp, là khinh dễ Thánh-Hiền, sẽ bị đui mù.

  10. Đạp đồ ăn dựa bếp, sẽ bị nghèo khổ, hành-khất.

  11. Loài vật còn sống, mà nấu nướng trong bếp, sẽ bị tai họa.

  12. Đánh lộn trước bếp, sẽ bị tàn gia bại sản.


Sách đạo-kinh nói

Về những đồ nhơuế đừng để gần bếp


Những loài vật, nhứt là trâu, chó, ếch, nhái, không nên nấu nướng trong bếp.

Đừng lấy nước sôi tưới ổ kiến.

Lông gà, xương thú, củi dơ, không nên đem vào bếp.

Dao và búa, đừng để trong bếp cách đêm.

Chổi dừng dựng dựa bếp.

Đừng hơ áo, quần, giày, tất trong bếp.

Đừng ngồi trên bếp, hoặc leo lên bếp, đạp trên bếp, ngồi chồm-hỗm trên bếp.

Các điều ấy phải giữ-gìn cho lắm. Có lầm lỡ thì phải chừa. Nếu còn phạm nữa sẽ báo-ứng nhãn tiền. Phải nhớ mà giữ cho lắm.




Đời xưa thầy Thạch-Thiên-Cơ nói


Đàn-bà con gái có hiếu với cha mẹ, và cha mẹ chồng, cung kính chồng, siêng việc nữ-công, lo việc nấu ăn, dạy con cái, có nhân với tôi-tớ, ấy là tu phước lớn, sẻ đặng phước nhiều.

Nếu không được mấy điều ấy, dầu mỗi ngày đốt hương, thần phật cũng ghét. Lời ấy thiệt là chánh lý, hay lắm.


Lời-khuyên-đời của Ông Lữ-động-Tân


(10 điều có ích)

  1. Làm lành bố thí, có ích với Thần.

  2. Làm quan thanh-liêm, có ích với dân.

  3. Một lòng thảo thuận, có ích song thân.

  4. Xử việc công-bình, có ích hương lân.

  5. Trọng nghĩa khinh của, có ích thân-bằng.

  6. Vung phân tưới nước, có ích nông-tang.

  7. Sửa cầu đắp lộ, có ích cho bộ-hành:

  8. Không nghe lời vợ, có ích em anh.

  9. Dạy cày, dạy học, có ích hậu sanh.

  10. Không say, không thả, có ích cho mình.


ÔNG HỨA-CHƠN-QUÂN RĂN ĐỜI


(10 điều vô ích)

  1. Lòng ở chẳng lành, địa-lý không ích.

  2. Chẳng thảo cha mẹ, thờ Thần không ích.

  3. Anh em chẳng hòa, kết bạn không ích.

  4. Ăn ở chẳng ngay, đọc sách không ích.

  5. Cao cách kiêu ngạo, học nhiều vô ích.

  6. Làm việc trái đời, thông-minh vô ích.

  7. Chẳng tiết tinh thần, uống thuốc vô ích.

  8. Thời vận còn suy, cầu may vô ích.

  9. Lấy của người ta, bố thí vô ích.

  10. Dâm loạn chơi ác, âm đức vô ích.

In tại nhà in XƯA-NAY, NGUYỄN-HÁO-VĨNH

62-64, Boulevard Bonnard



Saigon – Năm 1925

1Phạm Trọng Yêm, tiếng Trung: 范仲淹, (989 - 1052), tự Hy Văn, thụy Văn Chánh, là một nhà chính trị, nhà văn, nhà quân sự, nhà giáo dục thời Bắc Tống. Ông là người huyện Ngô, Tô Châu (nay thuộc Tô Châu, Giang Tô.

2Tô Tuân (chữ Hán:蘇洵, 1009-1066), hiệu: Lão Tuyền là quan nhà Tống, và là nhà văn đứng trong hàng tám nhà văn lớn [1] thời Đường-Tống trong lịch sử văn học Trung Quốc.

3 Quan Thánh Đế Quân tức Quan Vũ, tự là Vân Trường (160-220). Ông là người đứng đầu trong Ngũ Hổ Tướng của Lưu Bị và là anh em kết nghĩa với Lưu Bị, Trương Phi. Sau khi Lưu Bị tiến quân vào Tây Thục và dựng nên nhà Thục Hán thì cục diện Trung Quốc hình thành thế thiên hạ chia ba: bao gồm Bắc Ngụy (đứng đầu là Tào Tháo), Đông Ngô (đừng đầu là Tôn Quyền) và Tây Thục (đứng đầu là Lưu Bị. Năm 219, tường Đông Ngô là Lữ Mông đem quân đánh úp Kinh Châu. Quan Vũ thua trận chạy ra Mạch Thành và cầu cứu Lưu Phong (con nuôi Lưu Bị). Tuy nhiên Lưu Phong không đem quân ứng cứu, vậy nên Quan Vũ bị Lữ Mông bắt được và giết hại. Lưu Bị biết tin đem 70 vạn quân đánh Đông Ngô báo thù cho Quan Vũ. Tuy nhiên Lưu Bị mắc mưu của Lục Tốn bị thất bại đem tàn quân về Bạch Đế thành và mất tại Bạch Đế thành.

4Thanh Nhân Tông (chữ Hán: 清仁宗, 13 tháng 11 năm 1760  2 tháng 9 năm 1820), hay còn gọi Gia Khánh Đế (嘉慶帝), là hoàng đế thứ 7 của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc Mãn Châu, cai trị từ năm 1796 đến năm 1820.

5Đức Thái Thượng Đạo Tổ còn có danh xưng Đức Thái Thượng Lão Quân hay Đức Lão Tử

6 Kỉ -12 năm


tải về 149.53 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương