Lời ngỏ Người Nghèo: Chính Nghĩa Của Hội Thánh



tải về 11.44 Mb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu12.11.2017
Kích11.44 Mb.
#1525
1   2   3   4   5

Đình Vượng

Người nghèo là đối tượng của sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu, và hôm nay, Giáo hội Công giáo trung thành với Tin Mừng, nhìn nhận ‘người nghèo là sự lựa chọn ưu tiên’. Chính Chúa Giêsu từng lên tiếng ở hội đường Nazareth quê hương của Ngài, đọc cho mọi người nghe lời Ngôn sứ Isaia :

Thần khí Chúa ngự trên tôi,
            vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi
            để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn…” (Lc 4,16-19)

NGƯỜI NGHÈO Ở KHẮP NƠI

Người nghèo, đi đâu cũng gặp, ở đâu cũng thấy, ở quanh ta. Thế giới càng văn minh, hiện tượng nghèo đói càng bộc lộ rõ nét từ thôn quê đến thành thị, và từ các nước nghèo Thế giới thứ ba đến các nước công nghiệp Khối G8.

Người nghèo, chưa hẳn do số phận, tự thân là nghèo mà còn do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác : thiên tai - bão lụt ; bất công xã hội tham những tạo hố phân cách giữa giàu và nghèo; khủng hoảng việc làm; lương thực tăng cao; kinh tế Nhà nước bấp bênh.

Nghèo đói luôn là vấn đề ‘nhức nhối’ của nhiều quốc gia và được xem là ‘thảm họa thế giới’ theo cảnh báo của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) năm 2000 : số người bị đói trên toàn cầu năm đó đã lên đến 870 triệu người ! Nghèo đói trầm trọng như vậy, nhưng nhiều nước sẵn sàng chi hàng trăm tỉ đô la vào các cuộc chiến mà chỉ dành vài phần trăm của con số này để hỗ trợ chống đói nghèo!



Do nghèo đói, và phải đối diện với những bất bình đẳng xã hội, hậu quả là, bạo loạn sẽ xảy ra. Còn nhớ, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đẩy nhiều người vào cảnh trắng tay và nợ nần là nguyên nhân của nhiều vụ bạo loạn ở 30 nước trên thế giới diễn ra sau đó. Nhiều chế độ độc tài sụp đổ cũng phát xuất từ nguyên nhân nói trên.

Bất công xã hội thường đặt người nghèo vào thế ‘cô thân cô thế’, mang thân phận bé mọn, chịu cảnh áp bức, luôn có mặc cảm tội lỗi bị bỏ rơi Kẻ nghèo túng bị mọi anh em khinh rẻ, bạn hữu lại càng lánh xa ! Mong được đôi lời, cũng chẳng có.” (Cn 19,7)

ƯU TIÊN LỰA CHỌN NGƯỜI NGHÈO”



Phải hiểu thế nào về thuật ngữ đặc biệt này để sống đạo ?

Sau khi Chúa Giêsu về trời, suốt dòng lịch sử của Giáo hội Công giáo, truyền thống giúp đỡ người nghèo (dưới nhiều hình thức phong phú khác nhau) vẫn được duy trì đến ngày hôm nay. Nghèo đói thực sự trở thành vấn đề xã hội cấp bách đã được các vị giáo hoàng từ Đức Giáo hoàng Lêô XIII đến Đức Giáo hoàng Phanxicô, quan tâm, xem là ‘thứ tự ưu tiên’ của Giáo huấn Xã hội Công giáo. Tuy nhiên ‘Ưu tiên lựa chọn người nghèo’ lại là thuật ngữ đặc biệt, khởi đầu phát xuất từ ‘Thần học giải phóng’ ở Châu Mỹ-Latin. Nhiều nhà thần học giải phóng diễn giải quá xa về thuật ngữ này, đưa ra những phương cách đấu tranh giải phóng sự đói nghèo nặng tính chính trị, gần giống với Mác-xít. Nền thần học này đã bị Vatican cảnh báo.

Nhưng “Ưu tiên lựa chọn người nghèo’ trở thành tiêu điểm của chương trình nghị sự của Hội Đồng Giám Mục Châu Mỹ-Latin và vùng Caribê những năm 1960-1970. Thuật ngữ này đã chính thức được Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II lập đi lập lại nhiều trong các Tông huấn của ngài và chính thức đưa vào Giáo huấn xã hội của Giáo hội Công giáo.

Trong bài diễn văn ngày 11.9.1962, ngay trước khi khai mạc Công đồng Vatican II, Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã nói: "Giáo hội được giới thiệu đúng như bản chất của mình, đúng như ý muốn của mình: đó là Giáo hội của tất cả mọi người và đặc biệt là Giáo hội của người nghèo". Rất tiếc, thời điểm đó, Công đồng có nhiều vấn đề cần giải quyết nên việc quan tâm đến người nghèo chưa phải là ‘thứ tự ưu tiên’. Thuật ngữ "ưu tiên chọn lựa người nghèo", xuất phát từ châu Mỹ- Latin, rõ ràng muốn thể hiện sự cam kết của Giáo hội cho người nghèo. Trong những năm 1960, Châu Mỹ-Latin được đánh dấu sâu sắc bởi sự hiện diện rộng lớn người nghèo.Thời điểm đó, nhiều chế độ độc tài trấn áp tầng lớp người nghèo. Cũng chính thời điểm đó, người Kitô hữu bắt đầu suy nghĩ cách thể hiện lối sống đạo bằng cách dấn thân vào xã hội dân sự cải thiện cuộc sống nghèo, tham gia chính trị thúc đẩy giải phóng người nghèo.


Cộng đồng cơ bản

Kinh Thánh đã được đọc đi đọc lại trong bối cảnh những người nghèo. Họ tập họp nhau lại ở làng này, làng nọ sống Tin Mừng, chia sẻ tình huynh đệ, dấn thân và nuôi dưỡng tâm hồn bằng các bí tích. Lối sống này hình thành Cộng đồng Cơ bản.  Họ muốn sống lại tinh thần của Giáo hội Tiên khởi trong sự phục tùng Hàng Giáo phẩm. Họ dấn thân phục vụ trong lãnh vực mục vụ, xã hội, bác ái. Cộng đồng Cơ bản này phát xuất từ Châu Mỹ-Latin ở những vùng vắng linh mục, và thường có mặt ở những nơi thiếu thốn vật chất cần sự hiệp nhất để sống đạo, mỗi cộng đồng như vậy từ 20 đến 150 người.

Nhưng ai là những người nghèo? Nhìn chung và dựa vào Giáo huấn Xã hội của các giáo hoàng cận đại: người nghèo là những người bị tước đoạt nhiều quyền tự do cơ bản của con người: quyền sinh sống, quyền ăn nói, quyền học tập và cả quyền tự do tín ngưỡng.  Họ thiếu thốn của cải vật chất, không được hưởng thụ xã hội văn minh, không được tiếp cận văn hóa làm thăng tiến con người. Điều quan trọng nhất là nhân phẩm của họ bị đánh mất. Và nghèo, nhìn rộng ra, theo Giáo hội, là tất cả những người bị áp bức, bị thiệt thòi; là người già, người bệnh, người trẻ, đang bị xem là hạng cùng đinh xã hội và bị gạt ra bên lề xã hội! Nghèo đói không giới hạn ở tình trạng khó nghèo vật chất.

ƯU TIÊN LỰA CHỌN NGƯỜI NGHÈO’ KHÔNG CÓ NGHĨA PHỦ NHẬN NGƯỜI GIÀU

Ngoài ra, còn phải nói đến: nghèo khổ trong mối tương quan với đồng loại, nghèo đạo đức và tâm linh. Tùy hoàn cảnh và tùy nơi chốn, nghèo khổ được nhắc đến: phụ nữ phải đối mặt với sự kỳ thị và bạo lực, trẻ em và người vô gia cư, di dân, người tị nạn, người dân tộc thiểu số, v.v. Điều gì ở đây xác minh lựa chọn ưu đãi này cho người nghèo qua việc sống đạo? Đức tin mời gọi các Kitô hữu bắt chước cuộc sống của Chúa Kitô. Thật vậy, vào Ngày phán xét chung, Chúa Giêsu Kitô là Thẩm phán Tối cao, xét xử và phân định rõ ràng nhất lối sống phục vụ người nghèo (x Mt 25, 31-46).

Hình bóng người nghèo, luôn là một cách hiện diện đặc biệt của Con Thiên Chúa, đòi hỏi Giáo hội sự lựa chọn ưu tiên dành cho người nghèo khổ. Sự lựa chọn này không hàm ý một sự chối bỏ những ai không phải là người nghèo. Thái độ này chỉ để xác nhận rằng người nghèo có chỗ đứng đầu tiên trong những mối quan tâm của người tín hữu. Sự lựa chọn ưu tiên này đòi hỏi tín hữu có bổn phận tham gia vào việc giúp đỡ người nghèo khổ cũng như có trách nhiệm trong việc sử dụng tài sản của mình. Ý thức được bổn phận và trách nhiệm như vậy, người tín hữu thực sự sống đức tin, bởi “Đức tin mà không có việc làm là Đức tin chết” (Gc.2,17). Cuối cùng, ‘Ưu tiên lựa chọn người nghèo’ là một biểu hiện của sự công bằng và bác ái trong quan hệ giữa người với người trong xã hội. Vì vậy, tuy có nguồn gốc từ Châu Mỹ-Latin, thuật ngữ ‘ưu tiên chọn lựa người nghèo’ phải diễn tả tâm niệm sâu sắc của tất cả mọi môn đệ Chúa Ki-tô!

Của cho không bằng cách cho” (*)

Tôma Hoàng Kim Khánh

Người nghèo là ai ?

Tục ngữ Việt Nam có câu “Ăn vay từng bữa, không cửa không nhà”, hoặc “Ăn nhờ, ngủ đậu”, chẳng hạn, để nói về người nghèo - nghèo về vật chất.

Nhưng, “Con người được Thiên Chúa tạo dựng thành một thể thống nhất của xác và hồn” [1]. Sách Giáo lý Công Giáo, số 365, khẳng định, “Hồn và xác hợp nhất với nhau sâu xa đến nỗi phải coi hồn là ‘mô thức’ của xác, nghĩa là chính vì hồn thiêng liêng mà thân xác làm bằng vật chất mới trở thành một thân thể của con người sống động; tinh thần và vật chất nơi con người không phải là hai bản tính kết hợp với nhau, mà đúng hơn, nhờ sự kết hợp của chúng với nhau làm thành một bản tính duy nhất”.

Như thế, đời sống của con người bao gồm đời sống vật chất và đời sống tinh thần - Giáo dục, Y tế, An sinh, Văn hóa, Tôn giáo, … và trong thông điệp Sollicitudo Rei Socialis (Quan tâm đến Vấn đề Xã hội), số 15, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, nêu thêm, “… trong thế giới ngày nay, có nhiều hình thức nghèo khổ khác. Thực vậy, một số những thiếu thốn hay mất mát không đáng được gọi là nghèo khổ hay sao? Việc chối bỏ hay hạn chế những quyền của con người - chẳng hạn như quyền tự do tôn giáo, quyền được tham dự vào việc xây dựng xã hội, quyền tự do gia nhập hay thành lập những nghiệp đoàn, hay đưa ra những sáng kiến về mặt kinh tế - những việc đó chẳng phải đã làm cho con người ra nghèo khổ, nếu không muốn nói là còn nghèo khổ hơn so với việc bị tước đoạt của cải vật chất hay sao?”

Trong thực tế, người đã nghèo về vật chất thì thường nghèo về tinh thần vì lấy đâu ra tiền bạc để được chăm sóc sức khỏe, và thụ hưởng các lợi ích văn hóa, …? Thiển nghĩ, Thánh Gioan Phaolô II, qua nhiều Thông điệp, Tông thư [2], đặc biệt trong Tông huấn Ecclesia In Asia (Giáo Hội tại Châu Á), số 34, giúp chúng ta có được câu trả lời ngắn gọn, đầy đủ, “người nghèo là những người đói khát, túng thiếu, vô gia cư, những người không được chăm sóc về y tế, và nhất là những người không hy vọng có một tương lai tốt đẹp hơn”.

Riêng tại châu Á hiện nay, người nghèo được nhận diện cách cụ thể, “Đó là những người di dân, dân tộc ít người, phụ nữ, trẻ em, người già, nông dân, người thất nghiệp, … Những người bị phân biệt đối xử vì lý do văn hóa, màu da, chủng tộc, đẳng cấp xã hội, nếp nghĩ hay niềm tin” [3].



Giáo Hội vì người nghèo

Ngày 16/03/2013, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với báo chí quốc tế, Đức Tân Giáo hoàng Phanxicô đã tuyên bố chủ trương một “Giáo hội nghèo và vì người nghèo”.

Ở đây, chúng ta chưa nói đến một “Giáo Hội nghèo”, chỉ xin được mạn bàn về “Giáo Hội vì người nghèo”, một chủ trương do tự bản chất Giáo Hội nhưng trong thực tế việc thực hiện xem ra còn nhiều “bất cập”, thậm chí có lúc, có nơi không được xem là “ưu tiên” khiến nhiều người đã phải lên tiếng cảnh báo; lại là nỗi lo đau đáu trong lòng của một Hồng Y đến mức mà trong những ngày đầu nhận sứ vụ kế vị Thánh Phêrô, Tân Giáo hoàng Phanxicô đã phải tuyên bố “… Giáo hội vì người nghèo”, hoặc Đức Giáo hoàng Benêđictô XVI, ngày 25/12/2005, năm đầu tiên triều đại Giáo hoàng của Ngài, đã phải ban hành Thông điệp Deus Caritas Est (Thiên Chúa là Tình Yêu).

Nhìn lại Giáo sử, chúng ta nhận ra, từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa được các Ngôn sứ trình bày như là Đấng bảo vệ và bênh vực những người nghèo khó, bé mọn, cô thân cô thế; và chính các Ngài luôn là những người lên án nếp sống xa hoa trụy lạc, tình trạng bất công xã hội và thái độ hờ hững, ích kỷ trước nỗi khốn khổ của đồng bào [3]; đến thời Tân Ước, Đức Giêsu Kitô và qua sứ vụ cứu độ của Người, “Thiên Chúa hiện diện với con người. Càng ý nghĩa hơn khi con người nói đây trước hết là những người thiếu thốn về vật chất, những người bị tước đoạt tự do, những người không được nhìn vẻ đẹp thiên nhiên, những người đau khổ trong tâm hồn hoặc nạn nhân của bất công xã hội và cuối cùng những người tội lỗi” [3], và chính Ngài là hiện thân của người nghèo hèn, đau khổ (x. Mt 25,40.45).

Giáo Hội sau Đức Giêsu Kitô, “vẫn không ngừng làm việc để xoa dịu, bảo vệ và giải phóng những người cùng khổ qua biết bao việc làm bác ái, mà thời nào và ở đâu vẫn luôn luôn cần thiết” (GLCG, 2448).

Thật vậy, từ buổi sơ khai của Giáo Hội, tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu (Cv 2,44-45). Điều này, chứng tỏ Giáo Hội và mọi tín hữu đã bắt đầu biết chung tay chăm sóc, phục vụ những người thiếu thốn về mặt này hay mặt khác [4].

Vào khoảng giữa thế kỷ IV đến cuối thế kỷ VI, dẫu về cơ cấu tổ chức chưa hoàn chỉnh nhưng mỗi giáo phận đều có Tổ chức Bác ái chăm sóc những người nghèo, bệnh nhân, … ; từ thế kỷ VII, công tác bác ái trở nên là “một phần đời sống căn bản của Giáo Hội” [5], là dấu chứng về Đức Giêsu Kitô (Ga 13,35) [6].

Trong những thế kỷ gần đây, các Tổ chức Bác ái của Giáo Hội, như cơ quan Caritas ở các cấp giáo xứ, giáo phận, quốc gia, và quốc tế; các hiệp hội, liên hội, những phong trào, … đặc biệt là những Dòng Tu phát triển, hoàn thiện về nhân sự, phương tiện, … để sẵn sàng đảm nhận trách nhiệm thực thi các hoạt động bác ái. Tại Tòa Thánh, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã thiết lập Hội đồng Giáo hoàng Đồng Tâm (Cor Unum) chịu trách nhiệm định hướng và phối hợp các tổ chức và hoạt động bác ái của Giáo Hội [7].

Công tác bác ái là hoạt động tập thể có tổ chức của giáo dân, và những ai muốn làm việc bác ái phải được đào tạo nghiệp vụ và tinh thần phục vụ [8].

Những “bất cập” cần được điều chỉnh

Chủ trương “Giáo Hội vì người nghèo” được cụ thể bằng những hoạt động bác ái của các tổ chức, của mọi thành phần thuộc Giáo Hội. Nó bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa và thể hiện tình yêu Thiên Chúa.

Tuy vậy, những hoạt động bác ái của Giáo Hội, trong thực tế, ở đâu đó còn có những “bất cập” mà Đức Giáo hoàng Benêđictô XVI, qua Thông điệp Deus Caritas Est đã ân cần nhắc nhở:

- Mọi người phải hiểu rằng, các hoạt động bác ái luôn luôn là cần thiết. Mặc dầu Giáo Hội luôn cổ võ sự công bằng xã hội nhưng “không có một trật tự công bằng nhà nước nào có thể xem công tác bác ái là thừa thãi…Vẫn luôn luôn có khổ đau cần đến sự an ủi và trợ giúp” (số 28b).

- Phải xem các hoạt động bác ái là phương thế thể hiện tình yêu để thế giới được nhân bản và tốt đẹp hơn; do đó nó phải độc lập khỏi các đảng phái và ý thức hệ, nó không phải là phương tiện để thay đổi bộ mặt trần gian, để phục vụ cho các chiến lược trần thế (số 31b).

- Không được dùng các hoạt động bác ái là phương tiện cho điều mà ngày nay người ta gọi là chiêu dụ tín đồ. “Tình yêu thì nhưng không”, tình yêu phải thuần khiết và vô tư, không được thực hiện để đạt mục đích khác (số 31c).

- Khi thực hành các hoạt động bác ái không làm hạ phẩm giá người nhận nhưng là giúp họ phát triển toàn diện. Tuy họ cần sự hỗ trợ vật chất nhưng quan trọng hơn là điều họ ước muốn: được đối xử như một con người, nếu quên điều này mà chỉ lấy của cải để chiêu dụ lòng người là hành vi chà đạp con người (số 28b).

Và điều sau đây, Đức Giáo hoàng Benêđictô XVI muốn nhắn gởi với các tín hữu Công giáo:

- Việc bác ái phải được thực hiện bằng tinh thần đạo đức, rút ra từ sự cầu nguyện, noi gương các Thánh nhân và tuân theo hướng dẫn của Giáo Hội (số 27, 36-41).

Riêng tại Việt Nam, càng ngày càng có nhiều tín hữu nhận ra được ý nghĩa và tầm quan trọng của công việc bác ái đã âm thầm hoặc cùng với người khác thực hiện những việc từ thiện, bác ái với quy mô nhỏ; nhiều giáo xứ cũng đã có những tổ chức như Caritas, Ban Bác ái xã hội, Hội tương trợ người nghèo, … chuyên lo về bác ái trong giáo xứ; đặc biệt những hoạt động bác ái của Cộng đoàn tu sĩ nam nữ được đánh giá là có hiệu quả, và rất đáng khâm phục.

Nhưng ở tầm mức giáo phận, như Đức Bênêđictô XVI mong muốn, các Giám mục ở mỗi giáo phận phải là người tổ chức và điều phối các hoạt động bác ái đa dạng tại giáo phận của mình; mọi thành phần Dân Chúa trong giáo phận cần đặt tất cả mọi hoạt động bác ái dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của Ngài (số 32).

Trong thông điệp, Ngài nhấn mạnh, công tác bác ái của Giáo Hội phải mang tính chất chung của Giáo Hội và phải được tổ chức quy củ trật tự. Điều này sẽ làm tăng sức sống của Giáo Hội và Giáo Hội nhờ đó mà phát triển mạnh mẽ.



Ước gì

Trong số các hoạt động bác ái, việc giúp đỡ người nghèo là một trong những chứng từ chủ yếu cho tình bác ái huynh đệ, đó cũng là một việc làm của đức công bằng [10] cho nên “điều gì phải làm theo sự công bằng thì không được biếu như quà của lòng bác ái” [11].


Chú thích:

[*]. Thành ngữ Việt Nam.

[1].Học thuyết Xã hội của Giáo Hội Công giáo, số 127.

[2].Thông điệp Sollicitudo Rei Socialis, số 42; Thông điệp Evangelium Vitae (Tin Mừng về Sự sống), số 32; Tông Thư Tertio Millennio Adveniente (Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến), số 51; Tông Thư Novo Millennio Ineunte (Khởi Đầu Thiên Niên Kỷ Mới), số 49-50.

[3]. ĐGM. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Một cái nhìn về Giáo Huấn Xã hội Công Giáo, NXB Phương Đông, 2013, tr.199-214.

[4]. Thông điệp Deus Caritas Est - Thiên Chúa là Tình Yêu, ĐGH Benêđictô XVI, số 21.

[5]. Ibid. số 23.

[6]. Ibid. số 24.

[7]. Ibid. số 32.

[8]. Ibid. số 29,31.

[9]. Ibid. số 28b

[10]. Giáo lý Công giáo số 2447.



[11]. Cđ. Vatican II, Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem - Tông đồ Giáo dân, số 8; Giáo lý Công Giáo số 2446.

Cái Bướu Nhà Nghèo

Hạt Nắng

Tiếng bước chân xọp xẹp bên ngoài, từ trong phòng tiểu phẫu, tôi nghe âm thanh rất rõ, bác sĩ đang lên.Tôi trấn an bệnh nhân:

  • Bác sĩ lên đến rồi, bác cứ yên tâm nhé, đừng s!

  • Không, đâu có gì mà sợ, bác sĩ chích thuốc tê "gòi" làm mà, đâu có đau, đau lúc chích thuốc tê thôi cô ơi!

Câu trả lời khẳng khái, chắc như đinh đóng cột làm tôi thấy bỡ ngỡ lắm, nhất là khi những lời nói ấy lại được thốt lên từ một bệnh nhân luống tuổi.

Chẳng đợi suy nghĩ nữa, theo cảm xúc, tôi bất giác thốt lên:

  • Trời! Sao bác giỏi vậy, bác biết hết trơn rồi!

  • Sao mà không biết cô, trước khi mổ bác sĩ "dạy" tui hết "gòi" chứ bộ! "Dzới" lại mới hôm "gòi" con tui mới mổ cục u cũng tại địa điểm này mà. Chính mấy cô bỏ cục u "dzô" cái bịch cho nó cầm "dzìa" tới quê chứ ai. Nó còn nói tui, bác sĩ biểu phải cho "dzợ" nó xem nữa mà! Nó "dzìa" nó nói tui ghê lắm, gặp ai cũng "phe", thấy ai có cục gì nhô lên là nó "bắt" đi mổ liền. Cục bướu này ở "dzới" tui cả chục năm "gòi" mà tại nghe lên nhà thương là sợ cô ơi! Nhà nghèo, "ngán" tiền lắm! Bởi "dzậy", nó quay qua tới tui, bắt tui đi mổ cho bằng được, lỡ để lâu nhiều "phát sinh" lắm!

Thương cái câu đó quá chừng, mộc mạc biết bao nhiêu khi thay vì nói "biến chứng", ông đơn sơ dùng từ "phát sinh". Nhưng tôi thấy chữ "phát sinh" cũng đúng quá, bệnh gì để lâu mà không nhiều khoản phát sinh chứ?!

Nhớ lại hôm đầu, khi mới vào làm, lúc ấy tôi cũng chỉ vừa tốt nghiệp, vừa phụ bác sĩ mổ cho một chú bị u ở lưng xong, nghe bác sĩ bảo cho bệnh nhân mang cục u về. Nói thật, lúc ấy tôi cứ tưởng là bác sĩ đùa cho vui để bệnh nhân khỏi căng thẳng, ai dè...làm thật! Tôi băn khoăn, chẳng biết vì sao bác sĩ lại cho bệnh nhân mang cục u về nhà. Tôi phụ mổ mỗi ngày, quen mắt thì không sao, nhưng người không ở trong ngành y, nhìn cục u lăn qua lăn lại tròng trọc trong bịch nilon, chắc khiếp vía. Nhưng vì vâng lời, tôi vẫn làm theo: rửa nước cho cục u sạch máu, lấy cái bịch trong suốt, đổ cồn vào, cuối cùng là cho cục u vào.

Ấy vậy mà chính hôm nay, tôi thấy được tác dụng! Sự hiểu biết của từng cô chú đến với phòng khám nơi tôi gắn bó mỗi ngày làm tôi thực sự xúc động. Chợt nhận ra rằng, vị Bác sĩ ấy đang truyền thông, âm thầm nhưng thật thiết thực. Kiến thức từ cục u đó đã về tới miền quê, truyền tai cho những bác nông dân làm đồng, cho các cô rau cải ngoài chợ....Và hơn thế nữa, chính người nhà của họ - những người đã trải qua căn bệnh tương tự cũng có kiến thức để xử trí.

Bởi vậy, nhìn lại mới thấy thương dân tộc mình, bao nhiêu người dân mất mạng chỉ vì thiếu hiểu biết.

Đặc biệt ngày nay trên báo chí chúng ta nghe rất nhiều về bệnh ung thư. Việt Nam lọt tp 2 trong những nước có tỉ lệ ung thư cao.

Theo thống kê của dự án phòng chống ung thư quốc gia, mỗi năm ở Việt Nam có hơn 70.000 người chết do ung thư và hơn 200.000 người nhiễm mới. Đó thật sự là một con số đau lòng đáng báo động. Hầu hết người dân ít quan tâm đến sức khoẻ của mình vì nhiều lí do: vì nghèo kiến thức, vì nghèo tiền bạc....tất cả gói gọn trong chữ "nghèo"!. Để sắp xếp đi khám bệnh được, họ phải mất nhiều thời gian, đôi khi phải nghỉ làm. Cuối cùng, để bảo đảm được " miếng cơm "trong ngày, họ phớt lờ bệnh, "mackeno"!(*) Dường như họ luôn tìm đến bác sĩtrong giai đoạn muộn màng.

Và cũng từ việc ấy, tôi như chợt bừng tỉnh nhận ra trách nhiệm lớn lao Chúa trao cho mình nơi làm việc.

Cho dù là đo huyết áp, hay thay băng, tiêm thuốc, tôi đều cố gắng nói với những bệnh nhân về kiến thức bệnh. Mặc dù chỉ là những kiến thực bé hẹp nhưng có lẽ vẫn luôn cần thiết cho nhiều người. Đặc biệt, tôi cố khuyên họ lưu tâm nhiều đến sức khoẻ để khi có bất thường thì đi khám ngay.

Các bác sĩ, các anh chị điều dưỡng làm chung đều hăng hái chuyển tải những kiến thức y tế cho những người bệnh chúng tôi gặp mỗi ngày. Sau đó, tôi nhận thấy rõ rằng, từng cô chú đến với phòng khám thật sự có được những kiến thức cơ bản về bệnh và có thể chia sẻ kiến thức ấy thêm cho nhiều người chưa biết. Bằng chứng rõ là từ những gì họ nghe được, biết được khi chúng tôi chia sẻ, họ "phát hiện" ra những triệu chứng bệnh ban đầu của người thân và khuyên đến bác sĩ sớm.

Tôi thấy cũng hay hay, thích thú với suy nghĩ: dù là thợ xây, thợ mộc, thợ hàn; dù là bác sĩ, giáo viên, luật sư, kiến trúc sư..., chúng ta đều có thể trở thành dân "truyền thông chính hiệu", khi mỗi người ý thức rằng chúng ta cần phải chia sẻ những kiến thức cần và đúng cho những người xung quanh.

Chợt thấy lòng dấy lên niềm hy vọng, một viễn cảnh tốt lành vẽ lên trong đầu tôi: dân ta - nhất là những người dân nghèo - ai ai cũng nhanh nhẩu, thông hiểu (như bác bệnh nhân mổ bướu của tôi), không còn ù ù cạc cạc, lơ ma lơ mơ ( như bao người bệnh nhân khác đến với phòng khám này - trong đó có cả những người về vật chất thì chẳng hề nghèo) nhờ vào mạng lưới "truyền thông rỉ tai" tích cực. "Mạng lưới" này thiết nghĩ cũng rộng khắp không kém gì Internet thậm chí còn thâm nhập vào giới những người cả đời không biết đến "còm- pu - tơ". Nhờ đó mà những hiểu biết, những trải nghiệm thiết thực được truyền đi.

Sinh động, hữu ích, và thực tế lắm thay!

Ở Việt Nam ta, biết bao người nghèo tri thức, nghèo vật chất mà còn nghèo ý thức nữa. Ước chi những người này luôn được thương yêu,quý trọng, là đối tượng để mọi người cũng hướng đến, quan tâm và nâng đỡ.

(*) "makeno": mặc kệ nó.
Người Nghèo Với Nước Chúa

Tín Thành

Ngay từ khi sinh ra làm người, Thiên Chúa đã chọn cảnh nghèo. Và trong sut thi gian sng ti thế, Chúa cũng chn lối sống bình dân, thm chí thanh bần. Mặc dù Ngài có thừa quyền năng để tạo lập cho mình lối sống giàu sang và danh giá bậc nhất ở trần gian.

Ta không biết được chính xác ý của Thiên Chúa tại sao lại chn như vậy. Nhưng khi Ngài chọn sống như thế, thì ảnh hưởng của việc chọn lựa và lối sống ấy có c dụng an ủi và nâng đỡ được người nghèo. Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, cả người giàu lẫn người nghèo. Nhưng phi chăng, người nghèo đã chịu thit thòi cả về tinh thn lẫn vật chất, nên Chúa chọn nâng đỡ họ hơn, và họ cũng là người cần Chúa hơn?

Chính Chúa đã có lần lý luận rằng “Người đau yếu thì mới cần đến thầy thuốc” (Mt 2,16). Có thể suy ra rộng ra, người nghèo mới trông chờ vào sự đáp ứng của Chúa hơn, vì họ thiếu thốn và đói khát cả vật cht ln tinh thần. Vào giai đoạn khởi đầu sứ vụ công khai, có lần Chúa Giê-su vào hội đường, người ta đưa Sách Thánh cho Chúa, Ngài mở ra và nhằm ngay đoạn “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, băng bó những tấm lòng tan nát…” (Lc 4, 18 - 19). Và khi đọc xong Chúa xác nhận “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà quý vị vừa nghe” (Lc 4, 20). Rõ ràng Chúa muốn xác nhn chính Ngài là Đấng được xức dầu, tấn phong và sai đến, đồng thời Tin Mừng Ngài loan báo ưu tiên cho người nghèo và người đau khổ…

Xin mở ngoặc: Người nghèo theo nghĩa của Kinh Thánh, có lẽ bao gồm tất cả những ai có tâm hồn nghèo khó, khao khát điều công chính. Và có lẽ mọi con người trên hành tinh này, dù có ai đi nữa, thì cũng là người nghèo cả về vật chất lẫn tinh thần so với Thiên Chúa, Đấng là chủ vũ trụ, vô cùng giàu sang và tốt lành, thánh thiện. Phạm vi bài này, chỉ bàn đến những người nghèo theo nghĩa thông thường, tức nghèo cả tinh thần lẫn vật chất.

Nội dung của Tin Mng Chúa Giêsu loan báo là nói về Nước Thiên Chúa. Nước ấy có Thiên Chúa là Cha quyn năng, nhân tvà đầy lòng xót thương. Ở Nước ấy mọi người đều sống trong bình đẳng, tự do, yêu thương và hạnh phúc. Và thật hạnh phúc cho người nghèo, vì họ được Chúa chọn ưu tiên đón nhận Nước ấy. Thật là điều vui mừng vi nhng con người bị người đời khinh chê, nhưng Thiên Chúa lại coi trọng. Họ có thể không có cơ hội đón nhn những ngày xuân và lễ tết sung túc, nhưng Thiên Chúa đã trao cho họ mùa xuân vĩnh cửu và sung mãn hơn nhiều.

Thiên Chúa muốn tất cả mọi người sống giàu có

Thiên Chúa yêu thương và ưu tiên người nghèo, có lẽ không có nghĩa là Ngài muốn mọi người chúng ta phải sống nghèo. Ngài là Cha yêu thương, có tất cả mọi sự và giàu có tột bậc, thì đương nhiên Ngài cũng mun cho mọi người chúng ta, là con cái Ngài, được sống trong sự sung túc, giàu có, như chính Chúa Giêsu đã khẳng định: “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Chính Thiên Chúa đã sinh ra loài người chúng ta là xác hồn, một thể thống nhất. Nghĩa là chúng ta được gọi là người vì có đủ hai phần xác và hồn hợp nhất với nhau, không thể tách rời, nếu thiếu một trong hai thì không còn được gọi là người. Con người được Thiên Chúa tạo dựng thành một thể thống nht ca xác và hn. “Hồn bất tử và thiêng liêng là nguyên lý thống nhất ca con người, làm con người hiện hữu như một tổng thể – một đơn vị duy nhất gồm xác và hồn – và như một ngôi vị” (xem TLHTXHCG số 127). Cho nên, khi Thiên Chúa yêu thương loài người, Ngài cũng yêu thương cả xác và hồn ca chúng ta. Ngài muốn chúng ta được vui thỏa và hạnh phúc cả xác lẫn hồn.



Như thế, rõ ràng Thiên Chúa không muốn chúng ta phải sống cảnh nghèo khó hay đau khổ về mặt thân xác. Ngài muốn một tâm hồn bình an và vui tươi trong một thân xác an toàn và mạnh khỏe, như câu thành ngữ Latinh Mens sana in corpore sano” (Một tâm hồn lành mạnh trong một thân thể khỏe mạnh). Vậy chắc hẳn Thiên Chúa vn khuyến khích chúng ta làm giàu và sng di dào, sung túc. Tuy nhiên, vic làm giàu y đương nhiên phải theo luật Chúa: lương thiện, ngay lành, trong tình liên đới với tha nhân và nhất là với một tình yêu phquát.

Ngày Xuân, lòng ta thường nghĩ về nguồn ci, nghĩ đến bà con làng xóm, nghĩ về tình người nhiều hơn. Có lẽ, chúng ta cần học với Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, để cũng chạnh lòng thương đến những anh chị em nghèo khổ, những cảnh đời kém may mắn quanh ta. Chỉ có Chúa mới là nguồn an ủi cho mi người và đặc biệt cho người nghèo. Cho nên, chỉ có mang ly tinh thần, tấm lòng và tình yêu ca Chúa, chúng ta mới thực sự là sứ giả Tin Mừng, là cánh tay nối dài của Ngài để mang đến sự sẻ chia, an ủi và giúp đỡ đầy đủ cho người nghèo.



tải về 11.44 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương