Lời ngỏ Người Nghèo: Chính Nghĩa Của Hội Thánh



tải về 11.44 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu12.11.2017
Kích11.44 Mb.
#1525
  1   2   3   4   5


---------------------------



Ảnh bìa: Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt thăm Vũng Áng

Nguồn: facebook Lê Quốc Châu
LỜI NGỎ

Người Nghèo: Chính Nghĩa Của Hội Thánh

Hiến Chế Tín Lý về Bản Tính của Hội Thánh “Ánh Sáng Muôn Dân” tuyên bố lập trường lựa chọn phục vụ người nghèo như chứng từ thiết yếu cho lòng thủy chung của Hội Thánh đối với Đấng Sáng Lập:

Chúa Ki-tô được Chúa Cha sai đến “đem Tin Mừng cho người nghèo…chữa lành người bầm dập tâm can”, “để tìm kiếm và cứu vớt những gì đã mất.” Tương tự như vậy, Hội Thánh âu yếm ôm chầm hết tất cả mọi nạn nhân của kiếp người đau thương và nhận ra hình ảnh của Đấng Sáng Lập nghèo khổ của mình trong những người nghèo và đau khổ. Hội Thánh cố vận dụng hết khả năng để đáp ứng nhu cầu của họ và phục vụ chính Chúa Ki-tô hiện diện trong họ.1

Vì được khai sinh để tiếp tục sứ mạng của Chúa Ki-tô là phục vụ ơn cứu độ con người, đặc biệt người nghèo và người đau khổ, nên những con người nghèo khổ chẳng những là ưu tiên hàng đầu của hoạt động truyền giáo, mục vụ của Hội Thánh, mà còn là lý do sinh tồn, là chính nghĩa của Hội Thánh nữa.

Không giống như các định chế kinh tế và chính trị, vốn sử dụng giai cấp bần cùng và bị áp bức làm tấm bình phong để biện minh cho lý do hiện hữu và che đậy những mưu đồ của chúng—đa phần đã được kinh nghiệm xương máu của lịch sử chứng minh là gian xảo và lừa dối—Hội Thánh lãnh nhận như một sứ vụ, với ủy nhiệm thư từ Chúa Ki-tô, công cuộc phục vụ với lòng yêu thương và kính trọng con người cụ thể, đang sống trong mọi điều kiện kinh tế, văn hóa, tôn giáo và chính trị thuận lợi và khó khăn của một xã hội cụ thể.

Hướng đến những người nghèo—do bị giựt mất miếng cơm manh áo; do bị tước bỏ điều kiện học hành; do bị cướp mất quyền làm người—và đau khổ—do không có phương tiện đối đầu với bịnh tật, thiên tai; do không có tiếng nói trước bất công; do không có khả năng tự vệ khi bị đàn áp, bị triệt đường sinh sống—Hội Thánh mạnh mẽ lên tiếng cam kết đứng về phía họ, cùng khóc cười, cùng ước mơ với họ.2

Không giống như các tổ chức thế tục chỉ coi người nghèo khổ như phương tiện để đạt thành tích, để phô trương quyền lực và xông hương lãnh tụ hoặc xiển dương ý thức hệ, Hội Thánh chỉ đơn giản phục vụ người nghèo khổ như hầu hạ chính Chúa.3

Xin hân hạnh giới thiệu cùng Quý Độc Giả trong số Tập San nầy những góc nhìn về một Hội Thánh của người nghèo và vì người nghèo, một Hội Thánh dám can đảm lên tiếng cho người nghèo—những người ở thời nào, dưới chế độ nào, cũng luôn chịu bao nhiêu áp bức bất công mà không có được tiếng nói để kêu oan—theo gương Chúa Ki-tô, Đấng đồng sinh đồng tử với người nghèo.



Ban Biên Tập

NGHIÊN CỨU
CÔNG BỐ TIN MỪNG CỨU THOÁT TỘI NHÂN

VÀ TỐ GIÁC MỌI HÌNH THỨC TỘI LỖI
Lm. P.X. Nguyễn Văn Nhứt, O.P.
Từ đầu tháng 4 năm 2016 đến nay,4 sự kiện cá chết đến hàng ngàn tấn dọc theo bờ biển Việt Nam, từ Vũng Áng trở vào, khiến cho người dân, nhứt là các ngư dân trực tiếp chịu ảnh hưởng, sống trong tình trạng “hoảng loạn, bần cùng và phẫn nộ”5 mà vẫn chưa nhận được lời giải thích chính thức nào từ cơ quan hoặc viên chức có thẩm quyền của nhà nước về nguyên nhân nào, hậu quả nghiêm trọng ra sao, và ai là thủ phạm gây ra tai họa ấy.

Đã thấy xuất hiện trên các mạng thông tin xã hội những tiếng nói cá nhân và tập thể yêu cầu nhà nước phải minh bạch tin tức liên quan tới nạn cá chết hàng loạt, đồng thời khẩn cấp đề ra chính sách đối phó kịp lúc và hữu hiệu, nhằm bảo vệ sức khỏe, mạng sống của đồng bào và khắc phục hậu quả đối với môi trường sống của đất nước.

Về phía Hội Thánh Công Giáo, với ý thức sâu xa và chân thực về trách nhiệm đồng hành cùng quê hương và đồng bào Việt Nam, Đức Cha Phao-lô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Sài Gòn và là Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngay từ hôm 30 tháng 4, năm 2016, đã ra bản “Thông Báo Về Tình Trạng Cá Chết Bất Thường Tại Bờ Biển Miền Trung Việt Nam”do chính Đức Cha ấn ký, gởi các linh mục, tu sĩ và giáo dân. Khi đề cập tới tai họa cá chết bất thường, Đức Cha đã sáng suốt—không những xét về luận chứng khoa học mà còn đứng trên quan điểm luân lý—gọi đó là “một thảm họa môi trường.”6 Tuy thấu hiểu nỗi lo âu và sốt ruột của đàn chiên đêm ngày chung số phận thăng trầm với đồng bào Việt Nam máu mủ, Đức Tổng Giám Mục vẫn muốn người Công Giáo thấm nhuần giáo huấn Tin Mừng của Chúa Ki-tô, khi cùng với mọi người thành tâm thiện chí tìm giải pháp cho công thiện công ích, luôn trọng tinh thần đối thoại và chọn lựa giải pháp ôn hòa.7

Dưới đây là bản thông báo của Đức Tổng Giám Mục Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam:



http://hdgmvietnam.org/images/editor/ghcg-vietnam/thongbao_cachettaimientrung_30apr2016.jpg

Trước tâm trạng lo âu, hoảng hốt của người dân, nhà nước vẫn chưa đưa ra thông tin chính thức về vấn đề cá chết hàng loạt ở biển miền Trung. Liên tiếp 2 ngày Chúa Nhựt 1 và 8 tháng 5, 2016, người dân ở Hà Nội và Sài Gòn đã xuống đường bày tỏ quan tâm đặc biệt đến thảm họa biển bị nhiễm độc và đòi hỏi nhà cầm quyền phải minh bạch thông tin. Nhiều người biểu tình ôn hòa đã bị lực lượng an ninh hành hung và bắt giữ.

Ngày 13 tháng 5, 2016, Đức Cha Phao-lô Nguyễn Thái Hợp, O.P., Giám Mục Giáo Phận Vinh, Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, gởi đến “các linh mục, tu sĩ, giáo dân và tất cả mọi người” bức “Thư Chung Về Thảm Họa Ô Nhiễm Môi Truờng Biển Miền Trung.”

http://conglyvahoabinh.com/upload/userfiles/image/2016-05/thu%20chung%20ve%20tham%20hoa%20moi%20truong%201.png

http://conglyvahoabinh.com/upload/userfiles/image/2016-05/thu%20chung%20ve%20tham%20hoa%20moi%20truong%202.png

Bức thư chung của vị chủ chăn Giáo Phận Vinh, nơi người dân từ bao thế hệ sống nhờ vào nguồn tài nguyên hải sản nay đang bị ảnh hưởng nặng nề nhứt vì thảm họa môi trường biển, được coi vừa như là tiếng kêu cứu thống thiết của các nạn nhân mong chờ tấm lòng tương trợ của đồng bào người Việt, vừa như là tuyên ngôn mạnh mẽ, quyết liệt đòi mọi người có trách nhiệm phải cung cấp thông tin minh bạch về thảm họa biển nhiễm độc và thực thi công lý đối với những kẻ gây ra tội ác.

Nội dung bức thư chung gồm 3 phần: phần 1 đưa ra những luận chứng khoa học, chứng minh sự việc vừa xảy ra là một thảm họa gây hậu quả vô cùng nguy hại, trầm trọng; phần 2 dẫn chứng giáo huấn của Hội Thánh Công Giáo để giúp mọi người nhận ra “tội chống lại thiên nhiên cũng là tội chống lại con người và là tôi chống lại Thiên Chúa”; và phần 3 gồm có 5 đề nghị hành động cụ thể góp phần giải quyết thảm họa.

Trong phần 1, bức thư khẳng định sự kiện cá chết hàng loạt chỉ là phần nổi có thể quan sát được của một thảm họa môi trường. Cụm từ “thảm họa” được nhắc lại 16 lần để độc giả không lơi lỏng chú tâm đến nội dung chính yếu của bức thư là lời báo động khẩn cấp về một tai họa khủng khiếp vừa xảy ra trên vùng biển miền trung, gây hệ lụy cho cả đất nước và toàn thể dân tộc Việt Nam. Di hại của thảm họa vừa có độ rộng, không những chỉ giết hại một số tôm cá, só ốc, nhưng còn hủy diệt môi trường, tàn phá mọi khả năng sinh trưởng và tồn tại của mạng lưới thực vật và sinh vật suốt thềm lục địa Việt Nam. Về độ dài, sức tàn phá sẽ còn tiếp tục nhiều thập niên tới, ảnh hưởng trầm trọng trên nhiều thế hệ con cháu. Hậu quả khó lòng tránh khỏi, ngoài cái chết nhanh chóng hay dần mòn của những đồng bào tiêu thụ các loại hải sản nhiễm độc, còn là các chứng bịnh hiểm nghèo như ung thư, tổn thương não, quái thai.



Phần 2 của bức thư xác lập lập trường của người Ki-tô hữu là phải cùng với đồng loại và đồng bào, đem tất cả tâm huyết, tài năng đảm trách công cuộc xây dựng quê hương trần thế nầy, xem đó như là chuẩn mực để lượng định danh xưng “môn đệ Chúa Ki-tô.” Một trong những hình thức dấn thân của Ki-tô hữu lúc nầy là hết lòng hoạt động bảo vệ môi trường sống của con người, bởi lẽ đó là một trách nhiệm luân lý. Chính vì thế, việc lên tiếng đòi hỏi những ai chăm lo đời sống kinh tế, chính trị của đất nước phải hành xử thích đáng, minh bạch theo luật pháp công chính, không được lạm dụng quyền lực phá hoại đất nước, xâm phạm tự do và công bằng xã hội.


Ở phần 3, bức thư đưa ra 5 đề nghị cụ thể: một, không sản xuất, chế biến “thực phẩm bẩn”; hai, giúp đỡ đồng bào nạn nhân thảm họa bằng mọi phương tiện; ba, tiêu hủy hải sản nhiễm độc một cách an toàn nhứt; bốn, tìm cho bằng được nguyên nhân gây ra thảm họa và đưa ra biện pháp khắc phục; năm, đòi hỏi minh bạch trong việc điều hành đất nước, xử lý thảm họa và đưa thủ phạm ra trước công lý.

Bức thư chung của Đức Cha Phao-lô Nguyễn Thái Hợp, O.P., là một minh họa cụ thể, sinh động của việc thực thi 2 trách nhiệm bất kỳ một Ki-tô hữu nào cũng lấy làm vinh hạnh đảm trách do ơn gọi làm “ánh sáng trần gian” và “muối cho đời”,8 đó là lớn tiếng công bố Tin Mừng Tình Thương Thiên Chúa, Đấng thân hành hòa giải với tội nhân, đồng thời bằng thái độ ôn hòa song mạnh mẽ tố giác tất cả những sai lầm, tội lỗi xuất hiện dưới mọi vỏ bọc.9





Ưu Tiên Chn Lựa Người Nghèo

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.

ch Tóm lược Giáo Huấn Xã Hội đã xếp mục “Ưu tiên chn lựa người nghèo” như là một thành phần của nguyên tắc các tài nguyên được dành cho mi người” (số 182-184). Trong bài này, chúng tôi muốn trình bày hai điểm: 1/Người nghèo trong Thánh kinh. 2/ Ưu tiên chn lựa người nghèo trong giáo hun của hai Đức thánh cha Gioan Phaolô II và Phanxicô.




  1. Người Nghèo Trong Kinh Thánh

Chúng ta đã được nghe ging nhiều lần về chân phúc dành cho người nghèo (Lc 6,20: Phúc cho anh em là nhng kẻ nghèo khó, vì nước Thiên Chúa là của anh em”). Phải chăng đây là một tuyên ngôn dành cho giai cấp bn cố nông? Chắc hẳn là không!

  1. Những lối tiếp cận khác nhau về “người nghèo”.

Để tránh hiểu lầm, chúng ta nên phân biệt nhiều loại ngôn ngữ”10:

1. Trong ngôn ngữ thường ngày, cái nghèo” thường đi đôi với túng”, khổ”, cực”. Nhưng khi bước sang kinh-tế-học, thì các từ đó không đồng nghĩa với nhau, bởi vì c nhà chính trị thường ấn định một tiêu chuẩn để định nghĩa các cấp: bn cùng, vô sản, rồi tiến lên các bậc cao hơn. Tiêu chuẩn này dựa trên tài sản vt chất. Các nhà xã-hội-học còn sử dụng nhiều tiêu chuẩn khác để định lượng tình trạng nghèo khổ. Người nghèo không chỉ là người không đủ cơm ăn áo mặc, mà còn thiếu những nhu yếu căn bản để sống xứng vi nhân phẩm (giáo dục, công ăn vic làm, quyn công dân): cái nghèo lôi kéo theo sự dốt nát, tồi tệ (Cái khó bó cái khôn”! Bần cùng sinh đạo tặc”!). Dưới cái nhìn đó, cảnh nghèo là một tai ương xã hội. Người tín hữu có nhiệm vụ tham gia vào chiến dch “chống đói giảm nghèo”, chứ không thể nào cổ động duy trì i nghèo.

2. Tuy nhiên, cái nghèo có thể mang mt giá trị tích cực nếu nhìn dưới một khía cnh tâm lý đạo đức. Người nghèo không phải là người cơ cực túng quẫn, nhưng là người đủ ăn đủ mặc và “an cư lạc nghiệp”. Có ý kiến giải thích rằng tính từ pauper (trong tiếng La tinh, từ đó chuyển ngữ sang tiếng Pháp là pauvre, tiếng Anh là poor) bắt nguồn bởi paucum, có nghĩa là “ ít” (không nhiu, nhưng không phải là không có gì): một người tuy ít tiền ca nhưng cảm thấy đủ thì vẫn sướng hơn kẻ có nhiều tiền nhưng lòng tham vô đáy! Sự vui sướng hoặc cực khổ không nhất thiết gắn lin với tình trạng giàu hay nghèo xét về tài sản sở hữu: có người nghèo mà an vui, và có người giàu mà lao đao.

3. Lên cp độ cao hơn, cái nghèo không chỉ được nhìn trong tương quan với tài sản vt cht, nhưng trong tương quan với Thiên Chúa. Đối din với vị Chủ tể vạn vt, con người ý thức thân phận thọ tạo mỏng manh của mình, và do đó tất cnhững gì mình đang chiếm hữu thì sớm mun cũng tới lúc phải buông ra. Từ đó, họ sẽ nhìn vn vật với cp mắt khác: họ lãnh nhận tất cnhư hồng ân với tâm tình tri ân, nhưng không gán cho chúng giá trị tuyệt đối. Họ không khư khư muốn chiếm giữ tất ccho mình, nhưng cũng muốn chia sẻ cho những người túng thiếu. Đây mới là viễn cảnh của chân phúc người khó nghèo: sự khó nghèo đặt trong mối tương quan với Thiên Chúa, là Chủ tể của vạn vt, là Cha Quan phòng cho hết mọi người. Sự khó nghèo không chỉ liên quan đến vic chiếm hữu tài sản vt cht, nhưng còn đi kèm theo nhiều nhân đức khác: khiêm tốn, đơn sơ, tín thác, quảng đại, phục vụ...

B. Quan điểm của Kinh thánh về sự giàu nghèo

Sau đôi lời mào đầu như vậy, chúng ta hãy tìm hiểu quan điểm của Kinh thánh về tài sản và sự giàu nghèo, trước tiên là trong Cựu ước, kế đó là trong Tân ước. Chúng ta sẽ nhận thấy nhiều lối trình bày khác nhau.

1) Cựu Ước

ch Tóm lược Giáo Huấn Xã Hi của Hội thánh số 323 lưu ý rằng Cựu ước không lên án sự giàu sang, nhưng chỉ trích những sự lạm dụng tiền ca. Nói đúng ra, trong Cựu ước, chúng ta nhận thấy có nhiu trào lưu tư tưởng, tuỳ thuộc vào thể văn cũng như vào hoàn cnh lch sử.

a) Các sách Lịch Sử

Mở đầu Sách thánh, chúng ta thấy rằng vũ trụ này do Thiên Chúa tạo dựng nên cho con người. Các tài nguyên vt cht do Chúa làm ra, và mang phúc lành của Ngài, chứ không phải là đồ xấu xa. Hơn thế nữa, sự giàu sang thịnh vượng còn được coi như phần thưởng dành cho những ai tuân giữ luật Chúa.

Tuy nhiên, bên cnh bức tranh tuyệt mỹ của buổi khởi nguyên, chúng ta cũng thấy những mệnh lnh, cấm đoán. Như chúng ta đã biết, trong số Mười gii răn, có nhiều điều liên quan đến việc tuân giữ công bằng: phải tôn trọng sinh mạng, tài sản của tha nhân; ai làm trái ngược là xúc phạm đến chính Thiên Chúa, bởi vì Ngài là chủ của mọi sinh mng, là Đấng bảo vệ công lý, đặc biệt là kẻ mồ côi, goá bụa, tha hương. Giới răn thứ bảy (chớ trộm cp: Xh 20,15; Đnl 5,19) kèm theo nhiều nghĩa vụ, tựa như: không được cho vay lấy lời (Đnl 23,20), trả lương cho nhân công (Đnl 24,14), bo vệ đồ thế chấp (Đnl 24,10-13.17-18). Thêm vào đó, còn hai định chế quan trng nhằm hoàn trả lại đồ vật cho chủ, đó là: năm Sabát (7 năm 1 ln: gii phóng các người nô lệ, xóa nợ, Xh 21,2-11; 23,10-11; Đnl 15,1-18) và năm Toàn xá (50 năm một ln: trả lại đất đai và nhà cửa cho chủ cũ).

b) Các Ngôn Sứ

Các ngôn sứ sống vào những thời buổi khác nhau, vi những hoàn cnh xã hội khác nhau (thời quân chủ thịnh vượng, thời phân tranh, thời lưu đầy, thời hồi hương). Tuy vậy, các ngài gp nhau ở vài nguyên tắc chính yếu, đó là:

- nhấn mạnh đến nghĩa vụ phải trung thành vi giao ước, cách riêng về việc tôn trọng sự công bằng đối với những thành phần thấp kém: kẻ mồ côi, người goá bụa. Thiên Chúa đã tự đồng hóa với họ để bênh vực họ (Is 1,17);

- các ngôn sứ sau thời lưu đày còn mở rộng sự săn sóc của Thiên Chúa dành cho mọi thọ tạo (chứ không chỉ giới hạn vào dân Israel); từ đó đặt ra nghĩa vụ phải giữ công bình kể cả đối với kẻ ngoại kiều nữa.

- Thiên Chúa giàu lòng thương xót: Ngài cứu vớt kẻ yếu đuối và tội lỗi.

Từ những nguyên tắc ấy, các ngôn sứ diễn đạt ra những yêu sách cụ thể, đòi hỏi dân Israel không những phải tuân giữ các lut lệ về phụng tự mà còn các nghĩa vụ đối với tha nhân: từ chỗ chia sẻ bánh cho người đói (Is 58,7) cho đến chỗ buôn bán sòng phẳng, xử kiện công minh, cách riêng nơi các ngôn sứ Amos, Hôsêa, Isaia, Giêrêmia, Mikha, Khabacuc (xc. Am 8,4-6; Is 5-8-10; Gr 22,13-19).

Cách riêng về tài sản, các ngôn sứ thường cảnh cáo về nguy cơ thờ tiền thay cho thờ Chúa (tội ngẫu tượng), cũng như về lòng tham đưa đến việc đóng cửa lòng trước tha nhân.

c) Các sách Khôn Ngoan

Chúng ta gặp thấy những suy tư về cách sử dụng tài sản nơi các tác phẩm: Châm ngôn, Khôn ngoan, Giảng viên, Hun ca. Ging văn của họ không nóng bỏng như lời ca các ngôn sứ. Họ nhìn đời cách bình thản và thực tế. Họ nhận thấy mặt trái mặt phải ca giàu sang.

- Một đàng, tiền của là i phù vân, nay còn mai mất (sách Ging viên)

- Đàng khác, tiền ca cũng là phúc lành của Thiên Chúa, ra như là phần thưởng dành cho những kẻ trung thành vi giao ước. Dù sao, chúng cũng chỉ là tương đối thôi, khi so sánh với điều Thiện tuyệt đối là sự Khôn ngoan.

Từ đó, họ có thái độ trung dung đối với tài sản: đừng bám víu tài sản cách vô độ, nhưng họ cũng xin Chúa đừng để rơi vào cảnh túng thiếu (xem lời nguyện trong sách Châm ngôn 30,7-9).



tải về 11.44 Mb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4   5




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương