Lục vân tiêN



tải về 0.53 Mb.
trang11/11
Chuyển đổi dữ liệu11.11.2017
Kích0.53 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11
    Навигация по данной странице:
  • ĐIỂN TÍCH

Phần 11.

Trạng nguyên dẹp giặc đã bình,

Kiệu vàng tán bạc hiển vinh về nhà ".

Bãi chầu chư tướng trở ra,

Trạng nguyên mời hết đều qua dinh ngồi.
Họ Vương họ Hớn họ Bùi,

Cùng nhau uống rượu đều vui đều cười.

Trạng nguyên mới hỏi một lời :

"Trịnh Hâm tội ấy các người tính sao ?"


Truyền quân dẫn Trịnh Hâm vào,

Mặt nhìn khắp hết miệng chào các anh.

Minh rằng : "Ai mượn kêu anh,

Trước đà đem thói chẳng lành thời thôi.


Kéo ra chém quách cho rồi,

Để chi gai mắt đứng ngồi căm gan ".

Trực rằng : "Minh nóng nói ngang,

Giết ruồi ai dụng gươm vàng làm chi


Xưa nay mấy đứa vô nghì,

Dẫu cho có sống, làm gì nên thân ?"

Hâm rằng : "Nhờ lượng cố nhân,

Vốn em mới dại một lần xin dung ".


Trạng rằng : "Hễ đứng anh hùng,

Nào ai có giết đứa cùng làm chi.

Thôi thôi ta cũng rộng suy,

Truyền quân mở trói đuổi đi cho rồi ".


Trịnh Hâm khỏi giết rất vui,

Vội vàng cúi lạy chân lui ra về.

Còn người Bùi Kiệm máu dê,

Ngồi chai bề mặt như sề thịt trâu.


Hớn Minh - Tử Trực vào tâu,

Xin đưa quốc trạng kíp chầu vinh qui.

Một người Bùi Kiệm chẳng đi,

Trong lòng hổ thẹn cũng vì máu dê.


Trạng nguyên xe giá chỉnh tề,

Sai quân hộ vệ rước về Nguyệt Nga.

Bạc vàng đem tạ lão bà,

Nguyệt Nga từ tạ thẳng qua Đông Thành.


Võng điều gươm bạc lọng xanh,

Trạng nguyên Tử Trực Hớn Minh lên đàng,

Trịnh Hâm về tới Hàn Giang,

Sóng thần nổi dậy thuyền chàng chìm ngay.


Trịnh Hâm bị cá nuốt rày,

Thiệt trời báo ứng lẽ này rất ưng.

Thấy vầy nên dửng dừng dưng, (320)

Làm người ai nấy thì đừng bất nhân.


Tiểu đồng trước giữ mộ phần,

Ngày qua tháng lại đã gần ba năm.

Của đi khuyên giáo mấy năm.

Tính đem hài cốt về thăm quê nhà.


Hiềm chưa thuê đặng người ta,

Còn đương thơ thẩn vào ra Đại Đề.

Trạng nguyên khi ấy đi về,

Truyền quân bày tiệc lo bề tế riêng :


"Tiểu đồng hồn bậu có thiêng,

Thoả tình thầy tớ lòng thiềng ngày nay".

Đọc văn nhớ tới chau mày,

Đôi hàng lụy ngọc tuôn ngay ròng ròng.


Người ngay trời phật động lòng,

Phút đâu ngó thấy tiểu đồng đến coi.

Trạng nguyên còn hãy sụt sùi,

Ngó lên bài vị lại xui lòng phiền. (321)


Tiểu đồng nhắm ngửa nhìn nghiêng :

"Ông này sao giống Vân Tiên cũng kì ?

Ông nào mất xuống âm ti,

Ông nào còn sống nay thì làm quan ?"


Trạng nguyên khi ấy hỏi chàng :

"Phải người đồng tử mắc màn chốn ni ?"

Mấy năm tớ mới gặp thầy,

Cùng nhau kể nỗi đắng cay từ ngằn (322)


Ai dè còn thấy bổn quan, (323)

Ba năm gìn giữ mồ hoang đã rồi .

Trạng nguyên khi ấy mừng vui,

Tớ thầy sum họp tại nơi Đại Đề.


Đoạn thôi xe giá ra về,

Tuần dư phút đã gần kề Hàn Giang. (324)

Võ công từ xuống suối vàng,

Thể Loan cùng mụ Quỳnh Trang đeo sầu.


Mẹ con những mảng lo âu ;

"Nghe Vân Tiên sống gặp chầu công danh.

Cùng ta xưa có ân tình,

Phải ra đón rước lộ trình hoạ may".


Loan rằng : "Mình ở chẳng hay,

E người còn nhớ những ngày trong hang".

Trang rằng : "Con có hồng nhan,

Cho chàng thấy mặt thời chàng ắt ưa.


Dầu chàng còn nhớ tích xưa,

Mẹ con ta lại đổ thừa Võ công".

Cùng nhau bàn luận đã xong,

Soi gương đánh phấn ra phòng rước duyên . (325)


Nay đà tới thứ trạng nguyên,

Hàn Giang đã tới bỗng liền đóng quân.

Bạc vàng châu báu áo quần,

Trạng nguyên đem tạ đáp ân ngư tiều.


Ngư tiều nay đặng danh biêu, (326)

Ơn ra một buổi của nhiều trăm xe.

Trạng nguyên chưa kịp trở về,

Thấy Quỳnh Trang đã đứng kề trong quân.


Trang rằng : "Tưởng chữ hôn nhân,

Mẹ con tôi đến lễ mừng trạng nguyên.

Võ công đã xuống huỳnh tuyền,

Xin thương lấy chút thuyền quyên phận này".


Trạng rằng : "Bưng bát nước đầy,

Đổ ngay xuống đất hốt rày sao xong ?

Oan gia nợ ấy trả xong,

Thiếu chi nên nỗi mà mong tới đòi". (327)


Hớn Minh Tử Trực đứng coi,

Cười rằng : "Hoa khéo làm mồi trêu ong.

Khen cho lòng chẳng thẹn lòng,

Còn mang mặt đến đèo bòng nỗi chi ?


Ca ca sao chẳng chịu đi, (328)

Về cho tẩu tẩu, để khi xách giày ?"

Mẹ con đứng thẹn thùng thay,

Vội vàng cúi lạy, chân rày trở ra.


Trở về chưa kịp tới nhà,

Thấy hai con cọp nhảy ra đón đàng.

Thảy đều bắt mẹ con nàng,

Đem vào lại bỏ trong hang Thương Tòng.


Bốn bề đá lấp bịt bùng,

Mẹ con than khóc không trông ra rồi.

Trời kia quả báo mấy hồi,

Tiếc công son điểm phấn dồi bấy lâu.


Làm người cho biết nghĩa sâu,

Gặp cơn hoạn nạn cùng nhau cho tròn.

Chớ đừng theo thói mẹ con,

Thác đà mất kiếp tiếng còn bia danh.


Trạng nguyên về tới Đông Thành,

Lục ông trước đã xây dinh ở làng.

Bày ra sáu lễ sẵn sàng, (329)

Các quan đi họ cưới nàng Nguyệt Nga.


Sui gia đã xứng sui gia,

Rày mừng hai họ một nhà thành thân.

Trăm năm biết mấy tinh thần,

Sinh con sau nối gót lân đời đời. (330)

-- Hết --

ĐIỂN TÍCH


(1) Bài văn tự răn nổi tiếng bàn về đạo hiếu và đạo nhân, do Trương Tái làm.

(2) Hai tám: 16 tuổi

(3) Sân Trình: Chỉ Trình Chiêu và Trình Di, hai nhà Tống nho nổi tiếng.

(4) Văn đã như phượng trỗi dậy, rồng bay cao, tức văn đã thành tài.

(5) Ý nói quyết thi đỗ.

(6) Danh tôi: danh của kẻ tôi tớ (Vân Tiên nói nhún)

(7) Báo đáp công ơn cha mẹ và thầy

(8) Máy trời: thiên cơ (cơ trời huyền bí)

(9) Phù thần: bùa hộ mệnh

(10) Hiểm nghèo

(11) Song đường: xuân đường, huyên đường (cha mẹ). Tuổi hạc: tuổi thọ.

(12) âm hao: tin tức

(13) Nhân cơ trời đang chứa nhiều bí ẩn (do xem trăng sao mà biết)

(14) Sao Thiên Khôi (sao văn học, thi cử) và sao Tử vi (thân mệnh) đều sáng rỡ

(15) Nhưng gặp năm xung nên chưa thuận (mão xung dậu)

(16) Tiền trình: con đường phía trước

(17) Mỗi người một phương trời

(18) Tử Lộ, Nhan Uyên: hai học trò giỏi của Khổng Tử, thuở nhỏ rất nghèo, Tử Lộ chỉ có một dây đai, Nhan Uyên chỉ có một bầu nước.

(19) Tôi ngay: bề tôi trung thành của vua.

(20) Đảng sơn đài: Đảng cướp núi.

(21) Dung nhan lạnh lùng (tiếng cổ): sắc đẹp tuyệt vời.

(22) Thục nữ: con gái đức hạnh. Thất phu: đàn ông thô bỉ.

(23) Âu (ưu): lo

(24) Qua: ta; bậu: ngươi (bạn, anh bạn).

(25) Vẽ hổ không thành: mưu đồ thất bại.

(26) Khi không: không dưng.

(27) Triệu Tử phá vòng Đương Dương: Lưu Bị bị Tào Tháo đánh bại ở Tân Dã phải bỏ chạy. Quân Tháo đuổi theo đến Đương Dương, thì Lưu Bị phải bỏ cả vợ con, cướp đường rút về phía Nam, tướng tá lạc nhau. Triệu Tử Long một mình đánh phá vòng vây trùng điệp của quân Tào, vượt cầu Trường Bản, tìm gặp Lưu Bị.

(28) Chưa hãn: chưa rõ, chưa biết chắc chắn.

(29) Báo trả ơn đức, đền đáp công lao.

(30) Luận ngữ: "kiến nghĩa bất vi vô dũng dã", nghĩa là : Thấy việc nghĩa không làm là người vô dũng.

(31) Thìn: răn, giữ.

(32) Của vất vơ: của quấy quá, không mấy giá trị.

(33) Lây dây: lỡ dở không xuôi bề nào.

(34) Ngạt ngào: mùi thơm nức, đây ý nói thơ hay lắm.

(35) Chẳng phen: chẳng bằng, chẳng sánh kịp. Tạ nữ: tức Tạ Đạo Uẩn đời Tấn nổi tiếng thông minh, giỏi thơ văn. Từ phi: tên Huệ, người đời Đường, tám tuổi đã giỏi việc văn thơ.

(36) Dũ xuất dũ kì: càng đọc càng thấy hay thấy lạ

(37) Mai điểu: tranh mai và chim đẹp hài hoà. Đây nói thơ xướng hoạ, tinh ý rất xứng hợp nhau.

(38) Xúc cảnh hứng hoài: xúc cảm trước cảnh đẹp mà động lòng thơ.

(39) Vẹn chữ tùng: trọn đạo làm vợ (theo chồng).

(40) Ngưu lang: nhân vật thần thoại, chồng của Chức Nữ.

(41) Dấu thỏ đường dê: nơi xa xôi hẻo lánh, không vết chân người, chỉ có dấu chân thỏ, chân dê rừng.

(42) Tuỳ nhi: trẻ theo hầu.

(43) Tiền trình: việc đi đường vừa rồi.

(44) Đòi cơn: nhiều cơn.

(45) No nao: nỏ biết lúc nào, chừng nào.

(46) Sao sao: dù thế nào.

(47) Hoa đình: nhà nhỏ ngồi thưởng hoa.

(48) Thâm: sâu

(49) Sơn xuyên: núi sông, nói sự xa xôi cách trở.

(50) Thứ đầu: lớp đầu, phần đầu.

(51) Bình thuỷ tương phùng: bèo nước gặp nhau, tình cờ mà gặp.

(52) Bằng hữu chi giao : tình bạn bè.

(53) Thanh khâm: áo cổ xanh là áo của học trò thời xưa thường bận. Nợ thanh khâm, cũng như nói nợ bút nghiên.

(54) Hai bảy: mười bốn

(55) Hồ Việt nhứt gia: người Hồ (phía Bắc) kẻ Việt (phía Nam) chung một nhà.

(56) Dồi: trau dồi son phấn.

(57) Duyên cầm sắt: duyên vợ chồng hoà thuận êm ấm (như tiếng đàn sắt, đàn cầm hoà nhau).

(58) Kẻ ở nước Tấn (phía Đông) người ở nước Tần (phía Tây), chỉ sự xa cách mỗi người một ngả.

(59) Tức giai ngẫu (một đôi tốt đẹp), chỉ vợ chồng tốt đôi.

(60) Dâu nam giản: Người con dâu trung hậu, đảm đang, lấy ý từ kinh Thi: "Hái rau tần từ bờ suối phía Nam", là thơ khen người vợ trẻ đảm đang lo việc nội trợ. Trai đồng sàng: chỉ chàng rể tốt.

(61) Ngãi tế: con rể.

(62) Đại khoa: là thi đỗ. Tiểu khoa: là cưới vợ.

(63) Tót đời: hơn đời, hơn hết mọi người.

(64) Trước: là trúc. Đây ý nói hai người kết bạn thân với nhau là rất tốt, như trúc, mai.

(65) Bình thuỷ hữu duyên: bèo nước có duyên.

(66) Giao kề: sánh ngồi gần kề bên nhau.

(67) Kì: chỉ người tài giỏi khác thường.

(68) Bạch Hàm Như Hoành: hai nhân vật nổi tiếng thơ văn, tài hoa trong truyện Bình Sơn Lãnh Yến.

(69) Lương đống: rường cột, chỉ người có tài đức lớn giúp nổi việc nước.

(70) Én hộc: ý nói chim én không sánh được với chim hộc (Trực nói nhún)

(71) Thượng trình: lên đường.

(72) Tiểu nhi: con trẻ, tiếng cha mẹ gọi con. Lên đình: Sân có trồng lê.

(73) Tống tình: tiễn nhau trong tình cảm.

(74) Liễm dung: Nghiêm chỉnh dáng điệu để tỏ ý tôn trọng.

(75) Phó công: đi thi lập công danh.

(76) Nôn nao không yên, như mưa, như gió luôn xao động.

(77) Chim phượng thiêng đậu đúng cây ngô đồng, ví người hiền tài được ở vị trí xứng đáng.

(78) Cung quế xuyên dương: ví việc thi đỗ, công thành danh đạt.

(79) Tào Khương: Tấm Cám, vợ chồng lấy nhau từ lúc còn nghèo hèn.

(80) Nói lòng dạ đổi thay, tham mới bỏ cũ. Đó và đăng là hai dụng cụ đan bằng tre để bắt cá.

(81) May thì gặp duyên, rủi thì gặp nợ, lẽ đó bày ra rành rành.

(82) Để được làm quan to, Ngô Khởi đã giết vợ. Chu Mãi Thần vì nghèo nên vợ bỏ đi lấy chồng khác. Sau Mãi Thần làm đến chức thái thú.

(83) Vầy đoàn: họp lại thành đoàn.

(84) Sông đẹp núi lạ, nói cảnh đẹp.

(85) Gặp thời, thoả lòng đua sức đua tài."

(86) Tình hoài: tâm tình cảm xúc ở trong lòng.

(87) Cửa Võ: Mỏm núi đá hình cái cửa có sóng dữ, tục truyền hàng năm vào tiết tháng ba, cá chép khắp nơi kéo về vượt Vũ môn, con nào nhảy qua được thì hoá rồng. Nhân đó, cửa Vũ chỉ trường thi, và thi đỗ gọi vượt qua Vũ môn.

(88) Trực nói phen này mặc sức vẫy vùng.

(89) Vân Tiên e ngại lần này không theo kịp chúng bạn.

(90) Kinh địa: đất kinh đô.

(91) Tác chừng: tuổi tác chừng vào khoảng.

(92) Cho bề: cho nhiều, như nói bề bộn, bề bề.

(93) Ướp ngâu: ướp hoa ngâu vàng rất thơm.

(94) Trà ve: chè đựng trong chai, lọ nhỏ. Điểm tuyết: Lấm tấm màu tuyết, nói trà ngon. Cúc hương: hương hoa cúc.

(95) Bĩ bàng: đầy đủ, tươm tất.

(96) Viết tùng cổ thi: viết dựa dẫm theo thơ cũ có sẵn.

(97) Bất tài đồ thơ: không có tài năng về sách vở, tức là nói người học tồi, sức học kém cỏi.

(98) Tôn Tẩn là bạn học binh pháp với Bàng Quyên, sau bị Quyên hại, chặt hai chân, để gìm tài. Thầy học Quỷ Cốc Tử đã bảo trước cho Tôn Tẩn nhưng ông không đề phòng (không lừa, không lựa chọn).

(99) Tuyền: trọn đủ cả. ý cả câu: ông có thông thuộc cả kinh sử hay không?

(100) Hay ghét hay thương: biết ghét và biết thương.

(101) Tầm phào: vu vơ, hão huyền.

(102) Kiệt Trụ: Vua Kiệt nhà Hạ, vua Trụ nhà Thương, cả hai đều bạo ngược, vô đạo, hoang dâm.

(103) U Lệ: U vương và Lệ vương thời nhà Chu làm nhiều việc bạo ngược, vô đạo. Đa đoan: lắm chuyện rắc rối.

(104) Ngũ bá: cuối đời nhà Chu, năm vua chư hầu kế tiếp nhau nổi lên làm chủ một thời, nhân dân phải lầm than điêu đứng. Phân vân: lộn xộn bối rối như cảnh loạn.

(105) Đời thúc quý: đời suy loạn sắp bị diệt vong. Phân băng: chia lìa. Sớm đầu tối đánh: sớm đầu hàng, tối lại đánh.

(106) Thánh nhân: chỉ Khổng Tử, không được dùng, từng đi khắp các nước Tống, Vệ, Trần, Khuông tìm cách hành đạo của mình mà không được. Về sau ông trở về nước Lỗ mở trường dạy học.

(107) Nhan Tử: tức Nhan Uyên, học trò giỏi của Khổng Tử.

(108) Gia Cát: tức Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh, giúp Lưu Bị đánh bại Tào Tháo, dựng nước ở đất Thục, hết sức lo việc trung hưng nhà Hán, nhưng không thành.

(109) Đồng Tử: tức Đổng Trọng Thư, danh nho đời Hán.

(110) Nguyên Lượng: tức Đào Tiềm đời Tấn, tính tình cao thượng, không cầu danh lợi, giỏi thơ văn.

(111) Hàn Dũ: đời Đường, tinh thông lục kinh, bách gia chư tử, đỗ tiến sĩ làm quan ở triều. Vua mê tín đạo Phật, rước xương Phật vào cung, ông dâng sớ cực lực ngăn cản. Vì thế ông bị đổi ra làm quan ở đất Triều Châu.

(112) Liêm, Lạc: chỉ Chu Đôn Di ở Liêm Khê và hai anh em họ Trình ở Lạc Dương. Cả ba đều là những nhà triết học đời Tống, có ra làm quan nhưng không được đắc dụng, lại trở về dạy học.

(113) Nói nhân tài ở chỗ nghèo hèn.

(114) Kinh luân: tài sắp đặt tổ chức việc nước.

(115) Nghiêu Thuấn: hai vua truyền thuyết được nhà nho coi là mẫu mực, đã theo được đạo trời mà trị dân.

(116) Sào Phủ Hứa Do: Hai ẩn sĩ nổi tiếng đời Nghiêu.

(117) Bá Di và Thúc Tề, hai người lấy việc nước mất làm xấu hổ, bỏ lên núi thú dương hái rau vi mà ăn, không chịu ăn thóc nhà Chu. Chăng khứng: không chịu. Ai hầu chi ai: không ai chịu hầu hạ, phục dịch cho ai cả.

(118) Hai đại công thần nhà Thương.

(119) Thái Công: Khương Tử Nha, già hơn 70 tuổi vẫn ngồi câu cá ở bờ sông Vị. Chu Văn Vương nhân đi săn gặp ông, bèn đón ông về kinh, tôn làm thầy. Ông giúp Văn Vương và con là Vũ vương dựng nghiệp nhà Chu.

(120) Nghiêm Lăng: ẩn sĩ đời vua Quang Vũ.

(121) Cày mây câu nguyệt: cày trong mây, câu dưới trăng là nói cảnh thanh cao ẩn dật. áo cầu: áo cừu, áo may bằng da thú. Nghiêm Lăng ngồi lâu năm áo cừu đã rách nát.

(122) Trần Đoàn: học rộng, tinh thông kinh Dịch, ẩn ở núi Vũ Dương, tu luyện đạo tiên.

(123) Túi thơ ngâm phong vịnh nguyệt, coi công danh phú quý như giấc chiêm bao.

(124) Bảy người đời Tấn, tính tình phóng đạt, thường họp nhau vui chơi nơi rừng Trúc (Trúc Lâm thất hiền).

(125) Rừng nhu biển thánh: đạo nho dày như rừng, rộng như biển.

(126) Khai phong: mở phong thư. Sự cơ: sự tình, nông nỗi.

(127) Qui lai: trở về, quay về (vì mẹ chết)

(128) Sách Văn Công: Sách qui định nghi lễ về tang ma cưới xin.

(129) Chín chữ cù lao: công lao khó nhọc của cha mẹ nuôi dạy con.

(130) Nhũ bộ: bú sữa, mớm cơm.

(131) Thiên hương: hương trời, đây dùng chỉ tài năng lỗi lạc của Vân Tiên.

(132) Bạn tác: bạn cùng tuổi, cùng lứa.

(133) Lòng còn lo ngại về đường xa nỗi gần chưa biết rồi sẽ ra sao.

(134) Tị trần: tránh bụi, xa lánh cuộc đời loạn lạc mà đi ở ẩn.

(135) Quày quã: vội quay phắt ngay đi.

(136) Dưỡng dục: nuôi nấng, dạy dỗ. Sinh thành: sinh ra và gây dựng nên người.

(137) Vân Tiên thấy mắt bỗng tối mù.

(138) Hỏi phăn: hỏi lần cho ra manh mối.

(139) Đầu thang: bốc thuốc.

(140) Y học, Thọ thế, Đông y các bộ sách y học cổ truyền.

(141) Ngân hải tinh vi: sách thuốc về cách chữa mắt.

(142) Cang mục: sách nói về tính chất các vị thuốc. Thanh nang: chỉ sách chép các phương thuốc chưa hề truyền cho ai.

(143) Sách tập hợp các phương thuốc hay đã được dùng.

(144) Ngự Toản; Hồi xuân: các sách thuốc cổ.

(145) Xuân thần: Vị chính vị phụ trong một thang thuốc đông y.

(146) Nỏ nan: nói thuốc sao khô cẩn thận.

(147) Lư san: bài phú dạy phép xem mạch.

(148) Lục quân, Tứ vật: tên hai thang thuốc căn bản chữa khí, huyết.

(149) Thập toàn, Bát vị: hai bài thuốc bổ chữa bệnh tạng phủ suy.

(150) Bát trận tân phương: sách thuốc do danh y Trương Giới Tân đời Minh soạn.

(151) Khi bị cảm thường uống thang Ngũ sài.

(152) Lục bộ: sáu bộ mạch.

(153) Phù hồng: mạch nổi.

(154) Kinh lạc: các đường truyền dẫn khí huyết trong thân người.

(155) Mạng môn: huyệt ở giữa hai quả thận. Tướng hoả: dương khí (thận hoả).

(156) Cơ thể tích nhiệt đã lâu, cần hạ nhiệt (giáng hoả). Tư âm: làm vượng âm lên.

(157) Huỳnh liên, huỳnh bá, huỳnh cầm: ba vị thuốc chữa nóng.

(158) Phải thêm gấp bội ba vị này vào, thì nóng ở tim mới bình thường trở lại.

(159) Vạn linh: thuốc chữa mắt đau.

(160) Hoàn tình: thuốc uống cho mắt thêm sáng ra.

(161) Đòi cuộc đòi đàn: Đòi người bệnh phải đặt tiền cược trước.

(162) Tiên sư: đây nói tiên sư nghề làm thuốc.

(163) E khi đi đường, Vân Tiên có làm điều gì phạm đến quỉ thần nên bị quỉ thần phạt.

(164) Cẫu: cầu xin giúp.

(165) Châu Diệc; kinh dịch đời Chu. Sách có 64 quẻ, 384 hào. Thời xưa sách dùng vào việc bói toán.

(166) Huỳnh kim, Dã hạc: hai sách nói về thuật bói toán.

(167) Lục nhâm, Lục giáp: hai môn thuật số bói toán.

(168) Can, chi: (trong khoa lí số).

(169) Chiêm: bói. Lộ trình: nói việc đi đường.

(170) Rùa thi: mai rùa, cỏ thi là hai thứ dùng để bói.

(171) Giao, sách, trùng: cách bói dùng ba đồng tiền gieo sáu lần xuống đĩa.

(172) Trang: trang quẻ. Lục xung: sáu hào trong quẻ xung khắc nhau.

(173) Quẻ du hồn: quỉ nói việc hồn đi chơi vơ vẩn, ứng vào việc Vân Tiên bị long đong nơi đường xa đất khách.

(174) Đời Vân Tiên bị xáo động, công danh trắc trở.

(175) ấn: phù phép trừ tà của thầy pháp.

(176) Phù chú: lá bùa và câu thần chú.

(177) Hồ linh: bầu thiêng, có thể thu chứa cả trời đất.

(178) Sái đậu thành binh: rảy hạt đậu mà hoá thành binh lính.

(179) Đạo hoả: giẫm lên lửa. Phó thang: dấn mình vào nước sôi.

(180) Mở đàng thiên hoang: mở đường trời đất.

(181) Hề: hề đồng

(182) Bàn Cổ: ông tổ của trời đất, vạn vật. Toạ tiền chứng miêng: trước bàn thờ chứng minh cho.

(183) Tôn Ngộ Không.

(184) Võ hậu: tên một vị thần thường đi lại trên đại dương.

(185) Vị tướng đời Đường.

(186) Bà tiên cai quản tiên nữ.

(187) Công chúa Ngũ Long: năm công chúa của Long vương.

(188) Bình nam ngũ hổ: năm tướng dũng mãnh đánh chiếm phương Nam. An dinh: đóng yên doanh trại.

(189) Chỉ chung các vị thần ở trên trời, dưới âm phủ, và trong lòng sông ở Động Đình và Xích Lân.

(190) Tráo chác: lừa dối, trở mặt.

(191) Thon von: cô đơn sa sút gian nguy.

(192) Khuyên giáo: đi xin của bố thí.

(193) Cầu bắc qua rạch Lá Buôn (Biên Hoà).

(194) Luông tuồng: tơi bời.

(195) Hai rằm: hai ngày rằm, tức hai tháng.

(196) Đất sụt trời sập, chỉ tai biến lớn.

(197) Sơn quân: vua núi, chỉ con hổ.

(198) Ràng ràng: rành rành.

(199) Người tang: người bận áo tang.

(200) Quảy đơm: cúng lễ.

(201) Cô Bồng: con thuyền lẻ loi.

(202) Sao mọc nhiều không theo hàng lối nào.

(203) Vời: khoảng nước rộng, lòng sông.

(204) Phôi pha: qua quýt cho xong chuyện.

(205) Hối: giục. Vầy lửa: nhóm lửa.

(206) Hẩm hút chỉ thứ gạo xấu, thức ăn người nghèo.

(207) Trái mùi: trái chín nục.

(208) Doi: dải đất ở cửa sông hay dọc sông.

(209) Chích, đầm: ao hồ.

(210) Cứu tử: cứu cho khỏi chết.

(211) Chẳng đã: cực chẳng đã.

(212) Ngũ Viên (Ngũ Tử Tư) một lần bị đuổi rất nguy, may được ông chài đưa thoát qua sông.

(213) Hạng Võ lúc bị mấy ngàn kị binh Hán đuổi gấp tới sông Ô giang có ông đình trưởng mời qua sông (nhưng Hạng Võ từ chối, ở lại quyết chiến và tự sát).

(214) Phồn: giống, thứ hạng.

(215) Nhà cầu: nhà phụ làm lối đi thông nối hai nhà chính.

(216) Gay: vặn quai chèo chặt vào cọc chèo.

(217) Trớ trinh: trớ trêu.

(218) Cheo: loài nai xạ hương.

(219) Thổi lò: thổi lùa mạnh vào một nơi. Mưa tro: mưa bụi, mưa phùn

(220) Du thần: thần đi xem xét chốn dân gian.

(221) Trong tuyết đưa than: gặp trời giá tuyết đưa giúp người than sưởi.

(222) Không hoà mùi chi: không ăn uống gì.

(223) Bôn trình: lên đường.

(224) Nhơn huynh: người anh tốt.

(225) Hoàn: trở về. Am mây: chùa nhỏ hẻo lánh.

(226) Tỉnh thân: thăm nom cha mẹ.

(227) Cưỡng bức phụ nữ, bất chấp đạo nghĩa.

(228) Xuân huyên: cha mẹ.

(229) Để tang ba năm cũng chưa đủ báo đáp công sinh thành của cha mạ.

(230) Hữu tam bất hiếu: ba điều bất hiếu.

(231) Cam La: mưu sĩ thời Chiến quốc.

(232) Khương Tử Nha (xem CT 119).

(233) Bôn chôn: nôn vội.

(234) Lừa dối.

(235) Huỳnh tuyền: suối vàng.

(236) Sắt cầm: tình duyên.

(237) Thất gia: chỉ vợ chồng.

(238) Nhắc lại chuyện làm thơ tỏ tình gắn bó.

(239) Hoàn Công sai người nói với vua Lỗ giết Tử Củ, chiếm vợ của em.

(240) Đường cung: cung vua Đường.

(241) Bất Vi kén trong số vợ mình, một người tuyệt đẹp đã có mang, dâng cho Tử Sở làm vợ. Thái tử Sở lên làm vua, tức Trang Tương vương. Ba năm sau chết, con Sở (thực chất là con Bất Vi) lên ngôi Tần Vương (Tần Thủy Hoàng).

(242) Tục truyền thơ trông bóng trăng mà chửa. Nằng nằng: quyết một bề không đổi.

(243) Điêu Thuyền dùng kế mĩ nhân quyến rũ Lã Bố và Đổng Trác, khiến Bố giết Trác.

(244) Có điều trái với ý mình mà đâm ra uất ức phiền muộn.

(245) Chăn dân: trị dân, cho dân yên ổn làm ăn.

(246) Nhẫn nay: đến nay, tới bây giờ.

(247) Tơ điều: tơ đỏ xe duyên.

(248) Nguyệt Nga chưa nên nghĩa vợ chồng với Vân Tiên, cũng như Chức nữ, Ngưu lang chưa kịp gặp nhau trên sông Ngân mà nhịp cầu Ô đã rơi mất, không bao giờ gặp lại được nữa.

(249) Phù du: con vờ.

(250) Công phu lỡ làng: bỏ sức ra làm dang dở.

(251) Đồng tịch đồng sàng: cùng giường cùng chiếu.

(252) Vùa hương bát nước: bát hương và chén nước thờ.

(253) Vừa đưa chồng về lại bên kia sông Ngân, thì đã lại đến Cầu Lam rước người tình khác. ý nói mất chồng này tìm chồng khác.

(254) Mai chước: người làm mối.

(255) Ô Qua: tên ngầm chỉ giặc Qua Oa ở bể vào cướp phá miền Châu Đốc, Hà Tiên.

(256) Chiêu Quân thời Hán Nguyên đế bị tuyển làm cung nữ. Nàng không chịu đút lót cho Mao Diên Thọ nên bị y vẽ xấu đi, vua không vời đến. Về sau bị chọn tiến vua Hung Nô.

(257) Hạnh Ngươn: Nhân vật truyện Nhị Độ Mai.

(258) Sao sao: dù thế nào đi nữa.

(259) Thân danh: thân mình và danh dự.

(260) E rằng người che chở và nuôi nấng mình có mưu toan gì?

(261) Dần lân: lân la dần dần.

(262) Chánh tiết: trinh tiết, ngay thẳng.

(263) Ba xuân: ba tháng xuân, tuổi xuân.

(264) Bâu: cổ áo.

(265) Chẳng phen: chẳng bắt chước. Thói nước Trịnh: thói tà dâm như trai gái nước Trịnh trèo tường đón ngõ rủ rê nhau ra nơi đồng nội để thoả lòng dục.

(266) Công chúa Hồ Dương chồng chết, phải lòng Tống Hoằng.

(267) Hạ Cơ: Con gái Trịnh Mục Công, xinh đẹp, lẳng lơ, có chồng mà vẫn một lúc ngoại tình với nhiều người.

(268) Lữ Hậu: vợ Hán Cao Tổ mất, Lữ Hậu tư thông với Dị Ki (Thẩm Tự Cơ) cho Tự Cơ làm tả thừa tướng để tiện bề chung chạ.

(269) Võ Hậu thông tình với hai anh em Trương Xương Tông và Trương Dịch Chi. (Tức Di Tôn, Tam Tư).

(270) Chính chuyên: một bề tiết hạnh. Trắc nết: mất nết.

(271) Nàng Như ý sau khi cứu Văn Quân thoát nạn, đem lòng yêu chàng, vẽ hình chàng. Sau hai người lấy nhau (tuồng cổ).

(272) Chấp nhứt: câu nệ về một lẽ.

(273) Hễ là người trải đời thì phải biết cả chấp kinh (tuân thủ nguyên tắc) lẫn tòng quyền (vượt ngoài nguyên tắc).

(274) Vầy: sum họp.

(275) Tua: nên phải.

(276) Gối sách: gối gấp nhiều lớp, có thể chồng lên nhau mà ngồi dựa. Bát bửu: tám vật quý là gươm, giáo, búa... bằng đồng hay bạc để bày cho thêm sang trọng.

(277) Giầy xéo lên sành, đạp lên sỏi.

(278) Khá tua: phải nên.

(279) Nguyệt Nga đã trôi giạt tới chốn cửa ải và núi non, xa xôi cách trở.

(280) Ra đời: ra hoạt động, giúp đời.

(281) Quy y: đi tu.

(282) Hẩm hút tương rau: cảnh nghèo.

(283) Minh sinh: mảnh lụa, vải hay giấy dài ghi tên họ, chức tước người chết để cúng.

(284) Người ta có tổ tiên cha mẹ như nước có nguồn cây có gốc.

(285) Chín trăng: chín tháng (mẹ mang thai con chín tháng).

(286) Nằm giá: Nằm trên băng giá. Sổ Liêu xưa nằm trên băng để băng tan, bắt được cá chép về cho mẹ ăn chữa bệnh. Khóc măng: Mạnh Tông thương mẹ vốn thích ăn măng. Mùa đông ông vào rừng kiếm măng không được, ôm trúc mà khóc, tự nhiên măng mọc.

(287) Nhị thập tứ hiếu: 24 gương hiếu xưa.

(288) Ra bề: ra bề thế.

(289) Biếm quyền: giáng chức quan.

(290) Hồ phương Bắc, Việt phương Nam.

(291) Chia Bâu: chia li.

(292) Kiều công mong cho Nguyệt Nga sẽ thành gia thất và sinh được con hay.

(293) Kinh sư: kinh đô.

(294) Khôi khoa: đỗ đầu (trạng nguyên).

(295) Chỉ: lệnh vua. Quốc trạng: trạng nguyên của cả nước. Dẹp loàn: dẹp loạn.

(296) Đề binh: đem binh đi đánh giặc.

(297) Binh di: dẹp giặc.

(298) Tương hội: cùng hội họp với nhau.

(299) Một tiếng truyền lệnh, oai hùng như sấm làm phấn khởi mọi người.

(300) Tiên phong: quân xông trận mặt trước. Hậu tập: quân đánh bọc mặt sau.

(301) Bình tặc: dẹp yên giặc.

(302) Binh đáo quan thành: quân đến trước cửa thành.

(303) Ra quân, chống trả.

(304) Dường lôi: như sấm sét đánh.

(305) Siêu: binh khí có lưỡi dài. Ngựa ô: ngựa lông đen.

(306) Không quản hiểm nghèo.

(307) Tam canh: canh ba

(308) Nguyệt Nga không mong gặp được Vân Tiên như Chức nữ gặp Ngưu lang.

(309) Thề bể hẹn non, bền chặt.

(310) Bảng lảng bơ lơ: kinh ngạc ngẩn người.

(311) Khúc nôi: nỗi niềm, sự tình.

(312) Tẩu tẩu: chị dâu.

(313) Triều ca: buổi thiết triều. Đề huề: dắt tay nhau cùng đi.

(314) Qua mâu: binh khí thời xưa.

(315) Chậu úp: nói nơi tối tăm, ánh sáng không lọt tới, trong ngoài không thông nhau, ví nỗi oan không cách giải tỏ.

(316) Ghe phen: nhiều phen.

(317) Tướng ngỏ tôi hiền: khanh tướng và kẻ bề tôi hiền.

(318) Chín trùng: vua.

(319) Đổng công: tức Đổng Trác.

(320) ý nói thản nhiên như không.

(321) Bài vị: miếng gỗ hay mảnh giấy cứng, mặt có ghi tên người chết để thờ.

(322) Các thứ lớp từ trước đến nay.

(323) Chỉ Vân Tiên.

(324) Tuần dư: hơn mười ngày.

(325) Phòng: hóng chờ.

(326 Biêu: nêu lên cho mọi người biết.

327) ý câu: Vân tiên bị xem là kẻ oán thù với nhà Thể Loan, thì Vân Tiên đã bị nhà Thể Loan hãm hại, tức Vân Tiên trả xong nợ rồi.

(328) Ca ca: anh. Chịu đi: ưng thuận đi.

(329) Sáu lễ: sáu lễ trong việc cưới hỏi thời xưa.

(330) Gót lân: chỉ con cháu có tài có đức.

---//---

LỤC VÂN TIÊN
MỘT TÁC PHẨM CHẤN HƯNG PHONG HOÁ DÂN TỘC

Nguyễn Đình Chiểu






Поделитесь с Вашими друзьями:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©tieuluan.info 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương